| |
Truyện
Thánh Nữ CLARA
Người kể truyện:
Tôma thành Cêlanô ; bản dịch và chú thích của
- Lm. Bosco
Nguyễn văn Đ́nh, OFM
- Tôma Phạm đ́nh
Quế, PSTT
- Lm. Phêrô Khoa
Ngô công Tâm, OFM
Nguyên bản
La-ngữ : “Legenda sanctỉ Clarỉ virginis” do F.Pennachi hiệu đính, Assisi 1910
Nhà xuất bản
“La Editorial Catolica” tái ấn hành, Madrid, 1970 và hoàn thành 1978 .
Thư tựa
Kính tŕnh Đức
Thánh Cha Alêxandrô IV(1)
về Truyện Thánh Nữ Clara
Trong một thế
giới già nua và đang tiến dần đến cơi chết, cái nh́n đức tin đă lu mờ, nếp sống
luân lư đảo điên, sức hoạt động mănh liệt suy yếu, lúc cặn bă thời đại và thói
hư tật xấu lẫn lộn nhau, Chúa nhân từ bí ẩn, Đấng yêu thương loài người, đă xui
khiến lập ra những ḍng tu thánh thiện mới mẻ. Người tiên liệu các ḍng tu sẽ
nâng đỡ đức tin và cải cách kỷ cương phong tục.
Con ước mong được
gọi những vị khai sáng các ḍng tu ấy cũng như những bậc chân tu(2)
nối gót các ngài là ánh sáng thế gian, là hướng đạo viên và là tôn sư của đời
sống. Nơi các ngài, ánh sáng mặt trời chính ngọ đă bừng lên giữa thế giới về
chiều, cho “kẻ đi trong bóng tối được thấy ánh sáng” (Is 9: 2; Lc 1: 79).
Và phái yếu cũng
cần được trợ giúp, v́ một khi bị lôi cuốn vào cơn lốc dục vọng, khuynh hướng
phạm tội nơi họ không phải nhỏ và v́ yếu đuối nên họ càng bị thúc đẩy phạm tội
dữ dội hơn. Do đó, Thiên Chúa tốt lành đă khiến xuất hiện trinh nữ Clara khả
kính. Nơi người, Thiên Chúa đă khêu tỏ một ngọn đèn sáng chói cho giới phụ nữ.
Về phần Ngài, tâu Đức Thánh Cha, Ngài đă đặt ngọn đèn ấy lên đế để soi sáng cho
mọi người trong nhà (Mt 5: 15). Các phép lạ lẫy lừng đă thôi thúc Ngài ghi danh
Trinh Nữ vào sổ các thánh. Chính Ngài mà chúng con kính yêu, nh́n nhận, hôn kính
và tôn thờ như người cha, người nuôi dưỡng, đấng bảo trợ và vị chúa tể của các
ḍng này. Mặc dầu bận tâm điều khiển toàn thể con thuyền vĩ đại, Đức Thánh Cha
đă không sao lăng sự chăm sóc đặc biệt, có một không hai, đối với con thuyền nhỏ
bé.
Thực vậy, Đức
Thánh Cha đă vui ḷng ra lệnh cho con mọn duyệt lại công trạng Thánh Nữ để viết
thành truyện. Chắc chắn đây là công việc mà tài năng văn chương thô thiển của
con phải run sợ, nếu Đức Thánh Cha không nhiều lần lặp lại lệnh truyền. V́ thế,
con tập trung tư tưởng để thi hành mệnh lệnh. Lúc đọc và nhận thấy có điều thiếu
sót con không biết chắc phải tiến hành ra sao, con liền t́m tới các bạn đồng hành thánh
Phanxico(3) và toàn thể các trinh nữ của Chúa. Ḷng con luôn tưởng
nghĩ chỉ có những chứng nhân hoặc những ai được nghe các chứng nhân thuật lại mà
ghi chép lịch sử mới là thích hợp. Con xin thưa lại là có những người tôn trọng
sự thật và kính sợ Thiên Chúa đă cho con biết đầy đủ chi tiết. Con lượm lặt một
vài điều và bỏ qua một số lớn các điều khác rồi ghi lại với một thể văn b́nh dị.
Con được biết các trinh nữ sẽ lấy làm thích thú đọc lại công trạng lớn lao của
trinh nữ Clara, thế nên con không muốn để trí óc thô sơ của chị em phải gặp
những chỗ tối ghĩa v́ lời văn khúc mắc.
Ước chi nam giới
theo gót những Đấng mới đây là môn đệ của Ngôi Lời Nhập Thể, và nữ giới bước
theo chân thánh nữ Clara, đấng đă mô phỏng Đức Mẹ Chúa Trời và là tân nữ tướng
của phái nữ.
Tâu Đức Thánh
Cha, xin Đức Thánh Cha cứ toàn quyền sửa chữa và thêm bớt. Phần con, con xin cúi
đầu tuân phục tôn ư.
Nguyện xin Chúa
Giêsu Kitô ǵn giữ Đức Thánh Cha được luôn an khang bây giờ và măi măi(4).
Amen !
Quyển I
CUỘC ĐỜI THÁNH CLARA
Khởi
đầu truyện Thánh Nữ Clara
I.
D̉NG DƠI
1.
Clara(5), người trinh nữ đáng khâm phục, trong sáng trong tên gọi và
trong sáng trong các nhân đức, sinh trưởng trong một gia đ́nh quí phái thành
Assisi(6). Trước đây, lúc ở trần gian, Thánh nữ đồng hương với thánh
Phanxicô, bây giờ Thánh nữ cùng hưởng hạnh phúc với Người trên thiên đàng. Thân
phụ Thánh nữ là một hiệp sĩ, và tổ tiên nội ngoại cũng là hiệp sĩ. Thánh nữ
thuộc ḍng gơi sang trọng, và so với mức sống của dân cư vùng ấy, gia đ́nh Người
được coi là giàu có. Thân mẫu là Bà Ortulana(7), người sẽ làm cho
ngành cây sai trái lớn lên trong vườn Giáo Hội. Chính Bà cũng mang đầy hoa trái
ngon ngọt. Dẫu đă kết bạn và phải quán xuyến việc nhà, Bà vẫn lo sao cho có đủ
th́ giờ tham dự các giờ kinh nguyện và thực hiện các công cuộc từ thiện. Thực
vậy, Bà đi hành hương hải ngoại và kính viếng những nơi được thánh hóa do vết
chân Thiên-Chúa-làm-người đi qua, rồi Bà vui mầng trở về quê hương. Bà cũng đă
đến cầu nguyện tại đền thờ Tổng lănh Thiên thần Micae và sốt sắng kính viếng mộ
các thánh tông đồ (8).
2.
Phải dài ḍng làm chi? Xem quả th́ biết cây (Mt 12: 33) và quả quí tự nơi cây.
Ơn thánh dồi dào đă tuôn xuống trước nơi gốc rễ, để làm nảy nở sự thánh thiện
sung măn nơi cành lá. Sau đó Bà thụ thai và gần kỳ sinh nở, Bà đến thánh đường
trước ảnh Thánh Giá, cầu xin Chúa chịu đóng đinh cho sinh nở dễ dàng. Có tiếng
phán cùng Bà: “Này Bà, đừng sợ v́ Bà sẽ hạ sinh b́nh an một ánh sáng c̣n chói
lọi hơn chính ánh sáng nữa !” Được lời tiên báo, Bà Ortulana cho đặt tên em bé
sơ sinh trong phép Rửa Tội là Clara (9), với hy vọng sau nầy ánh sáng
hứa hẹn ấy thế nào cũng thành tựu(10) .
II. TUỔI THIẾU THỜI TRONG NHÀ THÂN PHỤ
3.
Sau đó ít lâu, em bé CLARA chào đời. Được vài tuổi, em đă bắt đầu tỏa sáng trong
cảnh đời tăm tối và ngay từ hồi thơ ấu, em đă rạng ngời vẻ trong trắng, thơ
ngây. Với tâm hồn ngoan ngoăn em đă được mẹ dạy cho biết những điều sơ lược về
đức tin; và như đất sét trong tay thợ gốm, em để Chúa Thánh Thần uốn nắn tâm hồn
thành một chiếc b́nh tinh khiết, chứa đựng mọi ân sủng. Em rộng tay bố thí cho
người nghèo (Châm ngôn 31: 20), và dùng của cải dư đầy thoa dịu nỗi khổ đau của
nhiều người. Để của lễ hiến dâng đẹp ḷng Chúa hơn, em nhịn dùng những món cao
lương mỹ vị và kín đáo cho mang đến làm no ḷng những em bé mồ côi. Và như thế,
ngay từ buổi thiếu thời, đức ái đă cùng em lớn dần lên (Job 31: 18); em mang
trong ḿnh một trái tim dễ thông cảm, biết thương hại nỗi cơ cực của những người
xấu số.
4.
Kinh nguyện là việc làm cô bé Clara ưa thích nhất. Lúc cầu nguyện cô cảm thấy
khoan khoái khôn cùng và dần dà cô quyết định sống đời độc thân. Cô không có
chuỗi để lần đọc kinh Lạy Cha (11), cô đành lấy một túi sỏi nhỏ để
lần chuỗi dâng lên Thiên Chúa. Khi thấy ḷng trào dâng những hứng khởi đầu tiên
của t́nh yêu cao cả, cô nhận thấy lạc thú trần gian thay đổi muôn h́nh vạn trạng
và chỉ đáng khinh chê. Ơn Chúa Thánh Thần đă dạy cô khinh rẻ những ǵ không đáng
giá ở đời này. Dưới lớp xiêm y lộng lẫy và mềm mại, cô c̣n bận thêm chiếc áo
nhặm. Bên ngoài, cô rạng rỡ trước mặt người đời, bên trong, cô mặc lấy Đức Kitô
(Rôma 13: 15; Gal 3: 27). Lúc cha mẹ muốn cô kết hôn tương xứng với địa vị quí
phái, cô dứt khoát từ chối (12) Sở dĩ cô khước từ hôn nhân trần thế
là để dâng hiến cho Chúa ḷng trinh khiết ḿnh. Thật cao trọng thay đời sống
dâng hiến, đạo đức và các hoa trái đầu mùa của Chúa Thánh Linh (Rôma 8: 23)
cũng như những bước đầu tiên vào đời sống thánh thiện mà Clara đạt tới ngay tại
nhà cha mẹ. Quả thế, Clara sực nức hương thơm, tỷ như căn pḥng nghi ngút trầm
hương (Is 39: 2), dầu có bị đóng kín, th́ mùi hương vẫn cứ lan tỏa ra ngoài.
Người lân cận bắt đầu ca ngợi cô mà cô không hay biết. Những lời bàn tán thành
thật của dân chúng đă tiết lộ những việc làm âm thầm của Clara, khiến đời sống
lành thánh của cô được đồn thổi khắp nơi.
III. CLARA LÀM QUEN VỚI THÁNH PHANXICÔ
5.
Bấy giờ cô nghe nói tới thánh Phanxicô đă lừng danh. Phanxicô vốn xuất hiện như
một người mới, lấy nhân đức để canh tân con đường hoàn thiện đă bị người đời
quên lăng. Được Cha trên trời xui khiến, Clara mong ước được mắt thấy tai nghe.
Và cũng như Phanxicô, Clara được Chúa ban những ân sủng đầu tiên, tuy theo một
cách khác. Về phần Phanxicô, cảm kích v́ danh thơm của người thiếu nữ duyên
dáng, Người cũng muốn được gặp và nói chuyện với cô, hầu t́m cách gỡ một con mồi
cao quí khỏi đời gian ác (Galata 1: 4), đem về dâng lên Chúa. Phanxicô vốn là
người ưa chinh phục, được Chúa sai đến để làm tiêu hao vương quốc thế gian.
Người đến thăm Clara, và Clara cũng thường đến thăm Người. Cả hai thận trọng sắp
xếp thời giờ gặp gỡ, để không ai biết được cuộc đàm thoại lành thánh đó mà cà
kê, đôi mách nhảm nhí. Cô thường ra khỏi nhà cha mẹ với một cô bạn (13)
và đến gặp gỡ kín đáo người của Thiên Chúa. Cô coi lời nói hăng say và các hành
vi của Phanxicô như vượt xa tầm mức nhân loại. Phanxicô khuyến khích Clara chê
bỏ thế gian. Với lối nói mạnh mẽ Người chứng minh cho Clara thấy cái hăo huyền
của hy vọng trần thế và cái giả dối của vẻ hào nháng thế gian. Người cũng tâm
sự với cô về sự êm ái khi được trọn vẹn kết hiệp với Chúa Kitô, thúc dục cô dành
hạt ngọc trinh khiết cho vị Hôn phu Thiên quốc là Đấng đă nhập thể v́ t́nh yêu.
6.
Nhưng sao lại phải nhắc măi những mẫu chuyện trên đây? Sau những lời nói tha
thiết của Cha Thánh, đóng vai tṛ của một người mai mối khéo léo và trung thành,
người trinh nữ đă không chờ đợi lâu mới ưng thuận. Trước mắt trinh nữ, trải ra
quang cảnh lạc thú vĩnh cửu và so sánh với lạc thú nầy, thế gian mất hết vẻ
quyến rũ, mê hoặc. Tâm hồn cô như tan thành nước v́ mong ước các lạc thú ấy và
cũng v́ ham chuộng chúng mà cô muốn trao ḿnh cho vị Hôn phu Thiên quốc. Được
lửa thiêng thiêu đốt, cô xua đuổi mọi vẻ hào nháng trần thế, và ḷng cô hoàn
toàn dửng dưng trước sự tán thưởng của người đời. Cô dứt khoát từ bỏ những quyến
rũ xác thịt và quyết tâm xa lánh mọi giao du bất chánh (Khôn ngoan 3: 13). Cô
muốn biến thân xác thành đền thờ của một ḿnh Thiên Chúa và cố gắng nhờ các nhân
đức xứng đáng kết hiệp với vị Đại vương. Bấy giờ cô hoàn toàn để cho thánh
Phanxicô hướng dẫn và, ngoài Chúa ra, cô quyết chọn Người làm hướng dẫn viên đời
sống. Cô rập theo ư kiến của Người và sốt sắng tiếp nhận tất cả những lời giảng
dạy về Đức Kitô. Từ đó, cô không ưa mang đồ trang sức của người đời nữa. Để
chiếm hữu Đức Kitô, cô xem những ǵ người đời tán thưởng như phân bón (Philip 3:
8).
IV.
PHANXICÔ ĐƯA CLARA RA KHỎI THẾ GIAN VÀ
HƯỚNG DẪN VÀO ĐỜI SỐNG TU TR̀
7.
Sợ rằng bụi đời làm lu mờ gương linh hồn trong trắng, hay men độc đời sống thế
tục gây tai hại cho tuổi trẻ non dại của Clara, Cha Thánh vội vàng dẫn dắt Clara
ra khỏi cảnh đời tối tăm. Ngày Lễ Lá trọng thể đă tới gần, Clara ḷng bừng
cháy, đến thỉnh ư người của Thiên Chúa xem phải làm ǵ và làm thế nào để trở lại
cùng Chúa. Cha Thánh bảo Clara nên phục sức đẹp đẽ trong ngày lễ, và cùng dự Lễ
Lá với dân chúng, rồi trong đêm kế đó, Clara phải ra khỏi thành (Do thái 13:
13), biến nỗi vui trần thế thành niềm thương Chúa chịu tử nạn (Yacôbê 4: 9).
Chúa nhật Lễ Lá tới, giữa đám phụ nữ Assisi, thiếu nữ Clara rạng ngời trong y
phục đại lễ, cùng vào thánh đường với mọi người. Lúc đó xảy ra một điềm quan
trọng là khi mọi người ùa tới nhận lá, Clara rụt rè đứng nguyên tại chỗ. Đức
Giám mục chủ tế bước xuống bậc cung thánh, tới gần cô và đặt lên tay cô một cành
lá. Đêm sau, cô sửa soạn làm theo lời thánh nhân dạy. Cùng với một cô bạn trung
tín, Clara thực hiện cuộc ly thoát ấp ủ từ lâu. Cô không muốn ra đi qua ngỏ
thông thường, nên đă chọn con đường ngầm bị cây và đá chắn lối. Cô tự tay dọn
trống lối đi với một sức mạnh phi thường.
8.
Cô ra đi, bỏ lại cửa nhà, khu phố, họ hàng, vội vă tới nhà thờ Thánh Nữ Maria
Portiuncula(14). Anh em canh thức cầu nguyện trong đền thờ, cầm đèn
ra đón trinh nữ. Nơi đây cô vĩnh viễn giă từ cảnh nhơ nhớp Babylon và ly dị thế
gian (Đệ nhị luật 24: 1). Cũng nơi đây anh em cắt tóc cho cô và cô trút bỏ tất
cả đồ trang sức. Thực vậy khi thế gian đă về chiều, chẳng có nơi nào thích hợp
để khai sinh một ḍng trinh nữ cho bằng ngôi đền thờ dâng hiến người Trinh Nữ
đứng đầu và xứng đáng nhất trong nữ giới, người nữ độc nhất đă sinh con mà vẫn
đồng trinh. Cũng không nơi nào thích hợp bằng chính nơi đă khởi sự trong vinh
quang một thế hệ hiệp sĩ mới, hiệp sĩ nghèo khó, được Phanxicô hướng dẫn. Như
vậy Đức Mẹ nhân từ đă tỏ cho mọi người biết Mẹ là Đấng đă khai sinh nơi đền
thánh nầy Ḍng Nhất và Ḍng Nh́. Rồi khi nữ tỳ khiêm hạ của Chúa đă nhận được
chiếc áo đền tội trước bàn thờ Mẹ và kết hôn cùng Chúa Kitô ngay trong căn pḥng
Đức Trinh vương, Phanxicô hướng dẫn cô tới nhà thờ thánh Phaolô (15),
để cô ở lại đấy cho tới lúc Đấng Tối Cao quyết định thể khác.
V. BỊ HỌ HÀNG TẤN CÔNG, CLARA KIÊN CƯỜNG CHỐNG TRẢ
9.
Tin này được loan truyền nhanh chóng trong ṿng quyến thuộc. Quá căm phẫn, họ
hàng đồng ḷng lên án quyết định và hành động của Clara. Họ họp nhau và chạy tới
tu viện, nhưng dự tính của họ đă không thể đạt kết quả. Hết dùng bạo lực, họ
quay sang những lời khuyên nhủ xảo trá và những lời hứa hẹn ngon ngọt. Bằng mọi
cách họ cố gắng thuyết phục Clara bỏ đời sống hèn hạ chẳng thích hợp ǵ với con
nhà gia thế và hoàn toàn quái lạ đối với dân chúng trong vùng. C̣n Clara một tay
bám lấy khăn bàn thờ, tay kia lật khăn ra để họ hàng trông thấy mái tóc đă cạo.
Cô quyết tâm từ nay phụng sự Chúa, không ǵ lay chuyển nổi. Họ hàng tấn công dồn
dập chỉ làm cô thêm can đảm, và càng bị tấn công cách phi lư, t́nh yêu của cô
đối với Chúa Kitô càng gia tăng. Trong nhiều ngày liên tiếp, cô phải lướt thắng
những trở ngại ngăn cản cô tiến tới Chúa, chỉ v́ dự định nên thánh, cô phải chịu
đựng họ hàng tấn công. Tuy nhiên cô không bao giờ giảm bớt ḷng can đảm và không
bao giờ để sút kém đi ḷng sốt mến. Ch́m ngập trong tiếng la ó, giận hờn, cô vẫn
kiên gan, bền chí, không hề nao núng. Cuối cùng gia đ́nh cô đành bỏ cuộc, để cô
được yên thân.
10.
Vài hôm sau, Clara tới nhà thờ Thiên thần Pansô. Nơi đây tâm hồn Clara không
được hoàn toàn b́nh an, nên cuối cùng Phanxicô đă khuyên cô tới ở nhà thờ thánh
Đamianô (16). Tại thánh đường nầy, Clara cảm thấy vững dạ hơn và
không c̣n sợ phải dời chỗ ở nữa. Cô không ngại cảnh cô quạnh, cũng không ngại
chỗ chật hẹp. Đây là ngôi nhà thờ Phanxicô đă ra công sửa chữa và đă giao tiền
cho vị linh mục trụ tŕ sửa chữa. Đây cũng là ngôi thánh đường mà lúc cầu
nguyện, Phanxicô đă nghe có tiếng phán ra, từ cây Thánh giá : “Phanxicô, hăy
đi sửa lại nhà Cha, mà con thấy đă hoàn toàn đổ nát”. Trong nơi tù túng của
tu viện nhỏ nầy, trinh nữ Clara đă giam hăm thân ḿnh v́ yêu vị Hôn phu Thiên
quốc. Nơi đây cô lẩn tránh sự xâm lấn của thế gian và tự giam hăm suốt đời.
Chính nơi bức tường nứt nẻ con chim bồ câu cánh bạc chọn xây tổ ấm (Diễm t́nh ca
2: 14 ; Giêrêmia 48: 28) mà Clara đă qui tụ các trinh nữ, thiết lập tu viện và
khởi đầu Ḍng Các Bà Khó Nghèo. Trong tu viện nầy, Clara đă hăm ḿnh đền tội đến
nát cả thân ḿnh, đă gieo hạt giống công chính trọn hảo, đă vạch đường cho chị
em theo và chính ḿnh đă đi trước. Bốn mươi hai năm trường trong căn pḥng tù
đày chật hẹp nầy, nàng đă vùi dập tấm thân ngà ngọc (Marcô 14: 3) dưới những làn
roi xé thịt, để ngôi nhà Giáo Hội được sực nức mùi hương (Gioan 12: 3).Muốn biết
rơ đời sống lẫy lừng ấy, không ǵ bằng đề cập đến con số các linh hồn đă được
Clara chinh phục cho Chúa Kitô.
V.(kép) DANH TIẾNG CLARA LAN RỘNG
10.
(kép ) Chẳng bao lâu sự thánh thiện của Clara được đồn thổi khắp vùng
lân cận. Bắt được hương thơm (Diễm t́nh ca 1: 3) giới phụ nữ các nơi tuôn tới.
Noi gương Clara, các thiếu nữ quyết tâm tận hiến cho Chúa đức trinh khiết, người
có đôi bạn muốn sống trinh bạch hơn, các bà hoàng, bà chúa chê bỏ chốn lâu đài
lộng lẫy, xây cất những tu viện chật hẹp. Họ lấy làm vinh dự được sống cho Chúa
với bộ áo nhặm và nắm tro trên đầu (Mát-thêu 11: 21). Tấm gương anh dũng của
phái yếu đă làm lớp trai tráng phấn khởi đua nhau sống khiết tịnh và chê bỏ
những thú vui nhục dục. Những người có gia đ́nh cũng đồng tâm, nhất trí khấn
giữ đức tiết độ, đàn ông vào ḍng và đàn bà vào tu viện. Mẹ nhủ con, con thưa
mẹ, chị bảo em, cô bảo cháu, hiến dâng ḿnh cho Chúa. Mọi người đua nhau phụng
sự Chúa Kitô và ai ai cũng mong ước được dự phần vào nếp sống thiên thần rực
sáng nhờ Clara. Phấn khởi v́ danh tiếng Clara, rất nhiều phụ nữ v́ t́nh trạng
không cho phép họ vào tu viện (17), đă cố gắng sống theo kiểu tu
hành, không luật ḍng, ngay trong gia đ́nh họ. Nhờ gương sáng của ḿnh, Clara đă
phát sinh biết bao mầm cứu độ. Lời tiên tri xưa như đă được thể hiện nơi nàng: “Người
nữ bị bỏ cô đơn, sẽ đông con hơn người nữ có chồng.” (Isaya 54: 1)
VI. DANH TIẾNG CLARA LAN XA KHẮP
NƠI
11.
Chúa Quan Pḥng không muốn ḍng nước ơn lành thiên quốc, bắt nguồn từ thung lũng
Spoleto, phải đóng khung trong giới hạn chật hẹp của vùng ấy. Chúa đă biến nó
thành con sông, sóng cả ngập bờ làm cho Giáo Hội hoan hỉ. Thực thế, những việc
mới lạ như vậy lan truyền khắp nơi trong dân gian và đâu đâu cũng chinh phục
được linh hồn cho Chúa Kitô. Mặc dầu giam hăm thân ḿnh trong tu viện, Clara vẫn
tỏa sáng khắp thế gian. Những lời ca tụng đă tạo cho nàng một hào quang vinh
hiển. Danh tiếng nàng bay tới lâu đài, dinh thự các khanh tướng, đến cả cung
điện nhà vua. Hàng quí tộc cao trọng nhất cũng cúi ḿnh bước theo gót chân nàng.
Phần nàng là mầm non của ḍng máu kiêu hùng, nàng đă từ bỏ địa vị cao sang để
sống đời khiêm hạ. Một số tiểu thư tự hào có thể sánh duyên với bậc công hầu,
vương bá, mà cũng không thể cưỡng lại uy tín Clara, nên đă bắt chước nàng chọn
đời sống hăm ḿnh khắc khổ (18). Một vài bà hoàng kết hôn với đấng uy
quyền mà c̣n bắt chước Clara trong đấng bậc ḿnh. Không những các tu viện đă tô
điểm đa số thành thị mà những cộng đoàn nữ tu cũng đă thấy mọc lên hết miền núi
đến miền quê. Ḷng mộ mến đức trinh khiết lan rộng khắp thế gian. Nhờ thánh nữ
Clara, đức trinh khiết hồi sinh đă chiếm lại địa vị quan trọng ngày nào. Nhờ
những bông hoa tươi xinh nở dưới bàn tay Thánh nữ mà ngày nay Giáo Hội hớn hở
xanh tươi trong lớp áo mùa Xuân. Cũng nhờ những bông hoa ấy, Clara cảm thấy thư
thái hơn, nên đă thốt ra: “Ước chi cặp mắt tôi được thoả thích ngắm hoa tươi và
lưỡi tôi khoan khoái nếm quả ngọt, v́ tôi đă mệt lả bởi yêu đương (Diễm t́nh ca
2: 5). Nhưng đă đến lúc ng̣i viết phải trở về để tả lại cuộc đời Thánh nữ.
VII. ĐỨC KHIÊM HẠ
12.
Là viên đá góc và là nền tảng của Ḍng, nên ngay từ buổi đầu, Clara đă quyết tâm
xây dựng lâu đài đức hạnh trên nền tảng khiêm hạ. Clara hứa vâng lời thánh
Phanxicô và nàng đă luôn luôn trung thành với lời hứa ấy. Ba năm sau ngày trở
lại, Clara khước từ chức vụ Đan viện trưởng, v́ thích vâng lời hơn sai khiến, ưa
phục vụ hơn được các nữ t́ Chúa phục vụ. Thánh Phanxicô phải bắt buộc Clara mới
chịu đảm nhận công việc điều khiển cộng đoàn các Bà Khó Nghèo (19).
Việc này khiến ḷng Clara lo sợ, chứ không kiêu hănh, chẳng làm Người được tự do
hơn mà c̣n kiềm chế Người. Thực ra, đối với Clara, địa vị càng cao quí bao
nhiêu, lại càng phải coi ḿnh thấp kém bấy nhiêu, càng phải sẵn sàng phục vụ kẻ
khác và giản dị trong nếp sống bấy nhiêu. Người không bao giờ từ chối làm những
công việc hèn hạ của người tôi tớ. Nhiều lần Người đă đổ nước cho chị em rửa, đă
đứng bên cạnh để hầu bàn cho chị em. Cực chẳng đă Người mới ra lệnh, v́ Người
thích tự làm lấy hơn là sai khiến chị em. Người đă rửa nhà cầu cho bệnh nhân và
đă lau chùi trong một tinh thần phục vụ cao đẹp, không tránh dơ bẩn, cũng không
sợ hôi thối. Người cũng thường rửa chân cho những chị em giúp việc từ ngoài tu
viện trở về và ôm chân hôn. Lần kia, Người rửa chân cho một chị giúp việc, và
khi Người sắp ôm chân lên hôn, chị kia v́ không chịu nổi sự hạ ḿnh quá đáng như
thế, nên đă rút chân lên, khiến chân đập trúng miệng mẹ bề trên. Lúc đó, mẹ bề
trên dịu dàng ôm lấy chân chị giúp việc và mạnh mẽ hôn lên bàn chân.
VIII.
ĐỨC NGHÈO KHÓ THÁNH THIỆN ĐÍCH THỰC
13. Sống
nghèo, không có của cải ǵ là thích hợp với tinh thần nghèo khó. Tinh thần nghèo
khó chính là sự khiêm hạ đích thực. Khi mới trở lại với Chúa, Clara đă bán phần
gia tài của thân phụ cho, đem phân phát cho người nghèo khổ mà không giữ lại bất
cứ một vật ǵ làm của riêng. Clara từ bỏ mọi sự giàu sang trần thế, nên ḷng
được tự do thư thái theo chân Chúa Kitô và không bận tâm v́ của cải trần thế.
Kế đó, Người đă đính hôn với thánh đức nghèo khó, đến nỗi không c̣n muốn sở hữu
ǵ nữa; ngoài Chúa Kitô ra, Người cũng không cho phép chị em sở hữu của cải ǵ
cả. Clara cho rằng sự hâm mộ Nước Trời, là hạt ngọc quí giá phải bán tất cả để
mua sắm (Matthêu 13: 46), không thể nào đi đôi với nỗi khổ tâm day dứt v́ của
cải thế gian. Người thường nói và dạy là cộng đoàn chị em phải giàu có về đức
nghèo, th́ mới làm đẹp ḷng Chúa. Hơn thế nữa, trong tương lai, cộng đoàn chỉ
có cơ may tồn tại khi nép ḿnh sau bức tường nghèo khó. Sống trong tổ ấm khó
nghèo (20), Clara khuyến khích chị em bắt chước Chúa Kitô là Đấng khó
nghèo, từ lúc sơ sinh đă được người mẹ nghèo khó đặt nằm trong máng cỏ chật hẹp
(Luca 2: 7). Người giữ măi kỷ niệm nghèo khó ấy của Chúa Kitô canh cánh bên ḷng
như món đồ trang sức quí giá, khiến không c̣n hạt bụi trần nào lọt được vào tâm
can Người.
14.
V́ muốn Ḍng ḿnh được gọi bằng tước hiệu danh dự là Ḍng Nghèo khó, Clara đă
khẩn nài Đức cố Giáo hoàng Innôcentiô III (21) ban đặc ân sống nghèo.
Vị đại Giáo hoàng ca ngợi ḷng sốt sáng của Clara và cho biết dự định ấy thật
độc đáo, xưa nay chưa từng có ai xin Toà Thánh một đặc ân như thế. Lời thỉnh cầu
đă đặc biệt, th́ ḷng ưu ái cũng đặc biệt, Đức Giáo hoàng hoan hỉ hạ bút châu
phê đặc ân Clara đă xin (22). Đức Grêgoriô (23), vị cố
Giáo hoàng hoàn toàn xứng đáng với ngai vàng, khả kính v́ nhiều huân nghiệp, đă
yêu mến Thánh nữ với mối t́nh cha con dịu dàng thắm thiết. Lúc vị Giáo hoàng này
đưa ra lư do thời thế và những bất trắc của cuộc sống ra thuyết phục Clara nhận
lấy một số tài sản riêng cho ḍng mà Đức Giáo hoàng sẵn sàng ban cho, Clara đă
chống lại mạnh mẽ, nhất định không chịu nhận. Đức Giáo hoàng liền phán: “Nếu con
e ngại lời khấn, Ta sẽ giải lời khấn ấy cho con.” Clara thưa lại: “Tâu Đức
Thánh Cha, con không bao giờ mong muốn được miễn trừ hạnh phúc theo chân Chúa
Kitô.” Clara thích mụn bánh và những của bố thí dư thừa do anh em hành khất xin
được. Người như buồn ḷng khi phải nhận những ổ bánh nguyên vẹn; trái lại Người
vui vẻ hơn với những mẩu bánh đă bể nát. C̣n phải nói ǵ hơn nữa ? Clara cố gắng
giữ đức nghèo khó trọn hảo, để nên giống Đấng chịu-đóng-đanh nghèo khó, và để
không một vật hay hư nát nào ngăn cách người yêu với Đấng được yêu, hoặc cản trở
Người tiến nhanh tới sự kết hiệp với Chúa. Đây là hai sự kiện lạ lùng Chúa đă
cho t́nh nhân đức nghèo thực hiện.
IX.
PHÉP LẠ HOÁ BÁNH RA NHIỀU
15. Tu
viện chỉ c̣n độc nhất một chiếc bánh mà giờ ăn đă tới và ai ai cũng đói bụng.
Thánh nữ cho gọi chị nữ tu dọn bàn tới, bảo chị bẻ bánh làm hai, một phần gởi
cho anh em và một phần giữ lại cho chị em. Người c̣n bảo chị ấy chia phần bánh
giữ lại ra làm năm mươi miếng nhỏ, tương xứng với số chị em, và dọn lên trên
chiếc bàn ăn thanh đạm. Người nữ tu thưa lại là phải nhờ đến phép lạ Chúa làm
xưa, mới chia miếng bánh nhỏ này thành năm muơi phần được. Nhưng Clara nhấn
mạnh: “Con cứ an tâm làm điều mẹ dạy.” Người con vội vă tuân theo, trong lúc
người mẹ cũng vội vàng than thở xin Chúa Kitô thương xót đến đàn con. Thế rồi,
do ḷng rộng răi của Chúa, miếng bánh nhỏ bé hoá thành nhiều trong tay chị dọn
bàn ăn. Trong tu viện, ai nấy đều nhận được một phần bánh dồi dào.
X. PHÉP LẠ CHÚA BAN DẦU ĂN
16.
Ngày kia các nữ tu hết sạch dầu ăn, không c̣n ǵ xào nấu cho người bệnh. Mẹ
Clara lấy một chiếc b́nh, rồi như bậc thầy về đức khiêm hạ, Clara tự tay rửa
b́nh sạch sẽ. Người đặt chiếc b́nh không ra một bên và cho mời một anh em tới
lấy đi quyên dầu. Người anh em này, vốn tính tận tâm, muốn giúp chị em lúc quẫn
bách nên vội chạy đi lấy b́nh. Nhưng mong muốn mà làm ǵ, bôn tẩu mà làm chi,
tất cả đều nhờ ḷng thương xót Chúa (Rôma 9: 16). Chỉ do tay Chúa tác động,
chiếc b́nh trở thành đầy ắp dầu. Lời Clara cầu xin cho chị em đă đem lại kết quả
nhanh chóng hơn tinh thần phục vụ của người tu sĩ kia, khiến anh ta nghĩ rằng
anh đă bị người ta gọi tới để mà đùa cợt. Anh liền càu nhàu: “Mấy mụ này chỉ
trêu chọc ḿnh hoài. Xem này, chiếc b́nh đầy ắp dầu !”
XI.
PHẠT XÁC
17.
Có lẽ ta không nên đề cập tới sự hăm ḿnh ghê gớm của thánh Clara. Nó có vẻ khó
tin, khiến độc giả có thể nghi ngờ tính cách xác thực của nó. Một tấm áo ḍng và
một chiếc áo choàng thô, chẳng ấm áp ǵ, chỉ đủ để che tấm thân mảnh dẻ. Chưa có
ǵ lạ. Thánh nữ không hề sử dụng đến giầy dép. Thế cũng chưa có ǵ lạ thường.
Người ăn chay liên lỉ và ngủ trên giường không nệm; điều đó to tát ǵ ? Trong tu
viện, Clara hẳn không phải là người độc nhất phạt xác như vậy; nên thiết tưởng
Clara cũng chưa đáng khen ngợi. Nhưng, biết nói làm sao, khi thấy Người mang
trên thân xác đồng trinh một tấm áo bằng da heo? Thực ra, Clara sắm một áo như
thế và bận nó dưới lớp áo ḍng, mặt sù ś của tấm áo xát vào da thịt. Đôi lúc,
Người c̣n bận chiếc áo nhặm cứng dệt bằng lông ngựa, và thắt lưng bằng những sợi
dây thừng cứng. Có lần, một nữ tu xin được mượn tấm áo ấy, Clara liền trao cho
nhưng khi bận vào, áo sù ś làm chị cảm thấy khó chịu và chỉ ba ngày sau là chị
mau lẹ cởi trả, như trước đây chị đă vui vẻ tới mượn (24). Clara lấy
vài cành nho, trải lên mặt đất làm giường, lấy một khúc gỗ cứng làm gối. Sau
nầy, khi sức lực hao ṃn v́ bệnh tật, Clara mới chịu trải chiếu xuống đất nằm
ngủ và dùng một nắm rơm để gối đầu. Cuối cùng, cái thân xác từng bị hành hạ của
Người mắc bệnh liên miên (25), khiến Clara phải tuân lệnh thánh
Phanxicô mà nằm ngủ trên chiếc nệm rơm.
18.
Clara giữ chay nhặt nhiệm và ăn uống quá ít hầu như không thể nào sống được, nếu
không nhờ một nguồn trợ lực khác. Lúc c̣n khoẻ mạnh, Người giữ Mùa Chay cả và
mùa chay dịp lễ thánh Martinô (26) cách khe khắt, đến nỗi chỉ ăn bánh
và uống nước suông. Ngày Chúa nhật Người mới uống một chút rượu, nếu có. Và đây
là điều bạn đọc ngạc nhiên hơn cả, điều mà bạn khó bắt chước được là suốt hai
mùa chay ấy, hằng tuần, cứ đến ngày thứ Hai, thứ Tư và thứ Sáu là Clara tuyệt
thực hoàn toàn. Như thế, tiếp theo sau những ngày ăn chay thanh đạm là những
ngày phạt xác hoàn toàn; những ngày nầy tựa như những ngày vọng lễ, c̣n những
ngày ăn bánh, uống nước suông là những ngày đại lễ.
Chẳng có lạ ǵ,
khi Clara đă sống khắc khổ lâu ngày như thế, th́ sức lực hao ṃn đi, cơ thể giảm
bớt sức đề kháng khiến Clara dễ ngă bệnh. Những lúc như vậy, đoàn con đạo đức
thông cảm với nỗi khổ đau của người mẹ thánh thiện. Họ thương cảm cái chết lần
hồi, tự nguyện của mẹ mỗi ngày (1 Côrintô 15: 31). Cuối cùng, cả thánh Phanxicô
lẫn Đức Giám mục thành Assisi phải ngăn cấm lối giữ chay khe khắt, suốt ba ngày
không ăn uống như thế. Các ngài truyền lệnh cho Clara hằng ngày phải dùng ít là
một lạng rưỡi bánh ḿ. Thường th́ bệnh tật thể xác kéo theo đau khổ tâm thần,
nhưng trường hợp Clara lại khác hẳn. Mỗi lần Clara phạt xác, khuôn mặt Người
vui tươi, b́nh thản, tựa hồ như Người không cảm thấy những đau đớn thể xác nữa,
hoặc là Người đă coi thường chúng. Sự kiện này cho thấy nguồn vui lành thánh
tràn ngập ḷng Người đă phát xuất ra bên ngoài, bởi lẽ t́nh yêu trong tâm hồn
làm nhẹ bớt sự đau đớn nơi thể xác.
XII.
CẦU NGUYỆN
19.
Clara tuy c̣n sống mà xác thịt kể như đă chết rồi. Thêm vào đó, Người c̣n sống
hoàn toàn xa cách thế gian, linh hồn chỉ biết dùng thời giờ cầu nguyện, ngợi
khen Chúa. Người hướng tất cả những ước vọng nồng nhiệt của cơi ḷng lên nguồn
Ánh sáng. Người vượt lên trên những thăng trầm của thế sự, nên ḷng Người luôn
rộng mở đón nguồn Ân sủng. Thường thường sau khi đọc kinh măn nhật, Clara cùng
các chị em c̣n tiếp tục cầu nguyện lâu giờ, và những khi Clara động ḷng đến
phát khóc, th́ chị em cũng mũi ḷng khóc theo. Rồi đến lúc mệt mỏi, các chị em
về nghỉ lưng trên ván cứng, mà Clara vẫn c̣n ngồi lại đó hồi lâu. Người thức
khuya cầu nguyện, “như để kín đáo lắng nghe tiếng Chúa th́ thầm” (Job
4:12) giữa lúc cộng đoàn đă an giấc. Khi cầu nguyện, mặt Clara thường cúi xuống,
nước mắt tràn tŕa ướt đẫm mặt đất.
Người hôn đất nhiều lần, tựa hồ như ôm được Chúa Giêsu vào ṿng
tay. Người để nước mắt tuôn trào lên chân Chúa rồi mới hôn chân Chúa. Một đêm
kia, đang lúc Người đang khóc như thế, th́ thiên thần tối tăm, đội lốt một em bé
da đen hiện ra và bảo : “Bà cứ khóc nhiều đi, rồi Bà sẽ bị mù.” Người đáp
lại : “Ai đă trông thấy Chúa, th́ chẳng thể nào mù được.” Tên quỉ liền hổ
thẹn bỏ chạy. Cũng đêm đó, sau giờ kinh tảng sáng, Người vẫn khóc nhiều như mọi
lần. Thần xảo quyệt lại đến và bảo : “Đừng khóc nhiều thế, kẻo đống năo trong
óc sẽ thối ́nh lên và chảy trào ra lỗ mũi. Sống mũi rồi cũng bị bẻ cong quặp nữa.”
Clara nhanh nhẹn đáp : “Hễ ai phụng sự Chúa, th́ chẳng có ǵ nơi người ấy có
thể bị bẻ cong được.” Tức th́ tên quỉ cám dỗ bỏ trốn mất.
20.
Được ḷ lửa cầu nguyện truyền sức, Clara vững dạ và thấy ngọt ngào làm sao khi
cảm nghiệm được ḷng nhân từ Thiên Chúa. Một vài bằng chứng đơn sơ cho thấy rơ
điều này. Sau những giờ cầu nguyện sốt sáng, Clara rời nơi ḷ lửa bàn thờ Chúa
mang theo những câu nói nồng nhiệt, có thể đốt cháy tâm hồn chị em. C̣n chị em
th́ không khỏi lấy làm lạ, khi thấy một sự ngọt ngào như thế phát xuất từ miệng
Người, và vẻ mặt Người rạng rỡ hơn mọi khi. “Chắc chắn Chúa đă lấy ḷng nhân
hậu lo liệu cho người nghèo khó.” (Thánh vịnh 67: 11) và khiến cho linh hồn chan
hoà ánh sáng chân thật lúc cầu nguyện được phản chiếu lên thân xác. Tuy đang
sống giữa cảnh đời hay thay đổi nhưng Clara đă vĩnh viễn kết hợp với vị Hôn Phu
cao quí, và cảm thấy thoả thích với những điều siêu nhiên. Nhờ đức độ vững bền,
Clara đứng chắc chắn giữa lúc bánh xe thời gian luân chuyển. Và trong chiếc b́nh
mong manh, Clara đựng sẵn một kho tàng vinh hiển. Về phần xác, tuy Người c̣n
sống dưới thế, nhưng về phần hồn, Người như đă sống trên trời. Clara có thói
quen đi đọc kinh tảng sáng trước chị em. Người lẳng lặng dùng dấu hiệu đánh thức
chị em dậy, đi ngợi khen Chúa. Nhiều lúc, khi các chị em khác c̣n an giấc, Clara
lên đèn và tự tay kéo chuông. Trong tu viện không có cảnh nguội lạnh hoặc nhàn
rỗi, v́ chỉ cần một lời khích lệ nghiêm nghị là ai nấy hết thờ ơ, chăm lo cầu
nguyện và phụng thờ Thiên Chúa.
XIII. NHỮNG PHÉP LẠ NHỜ LỜI CẦU NGUYỆN
* Phép lạ quân
Hồi giáo bị thua chạy.
21.
Nơi đây tôi muốn thật trung thực, kể lại những việc vĩ đại thành tựu nhờ lời cầu
nguyện của thánh Clara. Có như thế, những việc lạ này mới đáng kính chuộng. Dưới
thời Hoàng đế Frêđêricô, trong nhiều quốc gia, Giáo hội gặp cảnh rối ren, thung
lũng Spôlêtô thường phải uống chén thịnh nộ Thiên Chúa. Nơi đây, vô số chiến
binh và từng đoàn cung thủ Hồi giáo tuân lệnh Hoàng đế đóng quân chằng chịt như
tổ ong ḥng công phá chiến lũy, chiếm cứ đô thị. Một lần kia, chúng hung hăng
tấn công Assisi, đô thị dấu yêu của Thiên Chúa. Binh lính của chúng đă ở ngay
trước cửa thành và quân Hồi giáo hung dữ, khát máu kitô hữu, cả gan dám phạm bất
cứ tội ác nào, đă vượt qua lằn ranh Thánh đường Đamianô. Chúng xông vào cả trong
tu viện các Bà Khó Nghèo (27). Các Bà kinh hăi đến tái mặt. Giọng nói
run run, họ chạy tới khóc than cùng Mẹ Clara, tuy c̣n nằm trên giường bệnh mà
chẳng sợ hăi ǵ. Người bảo chị em khiêng ḿnh ra cửa, đặt nằm đối diện với quân
địch, trước mặt để một hạp quả bằng bạc được khảm ngà, bên trong, Ḿnh Thánh Cực
Trọng Chúa Giêsu được cất giữ hết sức cung kính (28).
22.
Clara cầu nguyện và phó thác hoàn toàn trong tay Chúa. Người khóc và thưa với
Chúa : “Lạy Chúa, phải chăng Chúa muốn phó mặc vào tay quân ngoại giáo, những
nữ t́ hèn yếu mà Chúa đă ban cho con nuôi dưỡng bằng t́nh yêu Chúa? Xin Chúa
che chở các tôi tớ mà giờ đây con không thể bảo vệ được nữa”. Từ hạp quả
chứa đựng Ḿnh Thánh Chúa, nơi ḥa giải của Lời giao ước mới, có tiếng phát ra
như tiếng trẻ thơ (Dân số 7: 89), lọt vào tai Clara: “Ta sẽ luôn luôn bảo vệ
chúng con.” Clara thưa lại: “Nếu đẹp ư Chúa, xin Chúa cũng bảo vệ luôn cả
đô thị đă nuôi dưỡng chúng con v́ t́nh yêu Chúa.” Chúa đáp lại: “Đô thị
này sẽ c̣n phải chịu nhiều cơn thử thách nặng nề nữa, nhưng ta sẽ phù trợ và nó
sẽ đứng vững.”
Người trinh nữ liền ngước khuôn mặt đẫm lệ lên và
an ủi các chị em đang khóc lóc: “Mẹ đoan chắc các con sẽ không gặp nguy hiểm
ǵ, các con cứ việc trông cậy vào Đức Kitô.” Ngay lúc đó quân hồi giáo hung
hăng khát máu bị chặn đứng. Chúng run lên v́ sợ hăi. Chúng nhanh chân bỏ chạy,
nhảy qua bức tường mà chúng đă leo vào. Lời cầu nguyện của Clara mạnh đến nỗi
làm chúng phải chùn chân. Sau đó, Clara nghiêm cấm dặn ḍ những chị em đă được
nghe tiếng Chúa, người nói: “Các con yêu dấu của Mẹ,
các con cố gắng giữ ǵn tuyệt đối đừng thố lộ cho ai biết về tiếng nói các con
đă được nghe.”
XIV.
ĐÔ THỊ LẠI ĐƯỢC GIẢI VÂY LẠ LÙNG
23. Vào
một dịp khác, có tên Vitalis Aversa hiếu chiến và đầy tham vọng. Hắn điều động
binh lính Hoàng đế do hắn chỉ huy tiến đánh thành Assisi (29). Hắn ra
lệnh hạ hết cây cối trong vùng và phá hoại các vùng lân cận, để chuẩn bị vây hăm
thành. Hắn không ngớt lời đe dọa và một mực quả quyết là sẽ không lùi bước,
trước khi Assisi lọt vào tay hắn. T́nh thế biến chuyển, đến nỗi người ta e sợ
rằng một ngày gần đây đô thị sẽ lâm nguy. Clara hay tin ấy liền thở dài buồn bă.
Người gọi tất cả các chị em tới và bảo: “Này các con yêu dấu, hằng ngày đô
thị này đă giúp đỡ chúng ta rất nhiều. Trong dịp này, nếu ta không tuỳ sức giúp
dỡ lại th́ quả là bất công.” Người truyền mang tro đến và bảo các chị em tất
cả mở lúp che đầu. Bấy giờ người rắc một nắm tro lên đầu ḿnh, rồi mới rắc lên
đầu chị em. Người dặn: “Các con hăy chạy tới Chúa và hết ḷng xin Chúa giải
vây thành phố.” Tôi biết ghi lại chi tiết nào đây ? Phải kể thế nào về những
giọt lệ và các lời kinh mănh liệt của các trinh nữ ? Sáng sớm hôm sau, Thiên
Chúa nhân từ đă cứu vớt trong cơn thử thách (1 Cor: 10.13) địch quân hoàn toàn
tan ră, tên chỉ huy kiêu căng buộc phải rút lui, không thực hiện được những điều
đă đe dọa. Hắn cũng không c̣n quấy phá vùng đất này nữa, v́ chính kẻ gây chiến
sau đó ít lâu đă chết dưới làn gươm.
XV.
NHỜ CLARA CẦU NGUYỆN MÀ EM GÁI TRỞ LẠI CÙNG CHÚA
24. Ta
không thể không nói tới sức mạnh lạ lùng của lời kinh, khiến Clara, ngay từ lúc
mới trở lại, đă dẫn dắt được một linh hồn về với Chúa và hằng bảo vệ linh hồn
ấy. Quả thế, Clara có một người em gái rất trẻ (30), cùng một ḍng
máu và cùng một ḷng khiết trinh. Clara mong muốn em gái cũng trở lại cùng Chúa.
Trong những ân huệ đầu tiên mà Clara hết ḷng sốt sắng cầu xin Chúa ban, có ơn
này đặc biệt là Clara cầu xin Chúa cho hai chị em được cùng hợp ḷng hợp ư phụng
thờ Chúa như trước đây khi c̣n ở thế gian hai chị em đă đồng tâm nhất trí. Clara
khẩn khoản nài xin Chúa Cha nhân từ (2 Cor 1: 3) biến thế gian thành ra vô nghĩa
đối với Agnès, cô em gái của người, hiện c̣n sống trong nhà cha mẹ. Người cũng
nài xin Chúa cho em thấy : một ḿnh Chúa mới làm em được hạnh phúc, và cầu xin
Chúa hướng dẫn em từ bỏ ư định lập gia đ́nh, để kết hợp với t́nh yêu Chúa; cả
hai chị em sẽ măi măi giữ đức khiết tịnh để làm đẹp ḷng vị Hôn Phu vinh quang
của Giáo Hội. Hai chị em thương nhau cách lạ lùng, nên cuộc phân ly bất thường
kia đă khiến tâm hồn mỗi người phải đau khổ, mặc dầu t́nh cảm của mỗi người một
khác. Thiên Chúa đầy ḷng thương xót đă nhanh chóng nhận lời Clara xin ban cho
Clara món quà đầu tiên. Thực vậy, chỉ mười sáu ngày sau khi Clara trở lại, cô em
Agnès được Chúa Thánh Linh thúc đẩy đă đến gặp chị Clara để bày tỏ dự định dấu
kín trong ḷng là muốn phụng sự Chúa cách hoàn toàn. Clara ḷng đầy vui sướng,
ôm lấy em và thốt lên: “Em yêu dấu, chị cảm tạ Chúa v́ Chúa đă nhận lời chị
là người lo lắng cho em.”
25.
Tuy nhiên sự trở lại lạ lùng kia đă được đáp lại bằng một cuộc tấn công không
kém phần kỳ lạ. Hai chị em Clara vui sống tại nhà thờ Thiên Thần Pansô và chú
tâm sống theo gương mẫu Chúa Kitô. Clara tiến xa hơn em trên con đường theo chân
Chúa, nên người lo dạy lại em gái vừa đến tập tu. Từ phía họ hàng, nhiều sự
chống đối bỗng nhiên sùng sục nổi lên. Vừa hay tin Agnès nối gót Clara, th́ ngay
ngày hôm sau, mười hai người đàn ông đă vội có mặt tại tu viện, ḷng đầy căm
phẫn tuy không để lộ cho ai thấy mưu đồ gian ác của họ. Họ xin được yên ổn vào
tu viện. Không quan tâm ǵ tới Clara v́ họ đă thất vọng từ trước, họ chỉ quay về
phía Agnès mà quát tháo: “Cả cô nữa, sao cô lại tới đây ? Hăy về nhà ngay với
chúng tôi.” Rồi khi Agnès đáp lại là cô sẽ không rời khỏi chị Clara nữa, th́
một hiệp sĩ quá tức giận, chồm tới đấm đá túi bụi, túm lấy tóc cô mà lôi đi,
trong khi những người khác vừa đẩy tới, vừa nhấc bổng cô lên. Như lọt vào miệng
sư tử, thiếu nữ sắp bị người ta cưỡng đoạt khỏi tay Chúa, cô kêu lên : “Chị
ơi, xin cứu em với ! Đừng để em bị cướp khỏi tay Chúa Kitô.” Nhưng những tên
côn đồ cứ việc lôi cô xuống dốc, giựt áo xống và rứt tóc cô rơi rớt khắp đường.
Đang lúc đó, Clara khóc sướt mướt, cầu nguyện. Người cầu xin cho Agnès giữ vững
lập trường, cho quyền lợi Chúa lấn át bạo lực loài người.
26.
Bỗng nhiên Agnès té xuống đất. Xác cô như dính chặt vào đó và nặng đến nỗi nhiều
người hợp lực vẫn không thể nâng cô qua một con suối nhỏ. Một số người khác từ
các ruộng lúa, vườn nho cũng chạy tới tiếp tay mà vẫn không làm sao nâng cô lên
khỏi mặt đất được. Nhận thấy cố gắng không đem lại kết quả nào, họ liền quay
sang chế diễu cả phép lạ này. Họ bảo: “Con bé này suốt đêm qua hẳn ăn ch́, chẳng
lạ chi, nó nặng như thế này.” Bác ruột của Agnès, ngài Monaldo, giận đến sùi bọt
mép, định giơ tay đấm chết cô, nhưng bỗng nhiên tay ông nhức nhói dữ dội; và ông
c̣n phải chịu nhức nhói như thế lâu ngày nữa. Cuộc giằng co kéo dài một lúc lâu
Clara mới có mặt tại chỗ. Clara xin họ hàng ngừng tay đừng đánh đập Agnès nữa và
giao trả Agnès, nửa sống nửa chết cho người săn sóc. Việc không thành, họ hàng
đành rút lui ḷng đầy chua xót, trong lúc Agnès chỗi dậy, đầy hoan hỉ v́ được dự
phần vào cuộc thương khó Chúa Kitô. Cũng v́ Chúa Kitô mà Agnès đă lao ḿnh vào
trận chiến mở màn. Từ nay, cô dốc ḷng vĩnh viễn phụng thờ Chúa. Thánh Phanxicô
đă tự tay cắt tóc cho Agnès và hướng dẫn cô cùng với Clara trên đường tiến tới
Chúa.
Tuy nhiên, một chương sách ngắn ngủi không đủ để tả lại vẻ
đẹp của cuộc đời hoàn thiện. Thế nên ta sẽ trở về với chuyện thánh Clara.
XVI.
MỘT PHÉP LẠ KHÁC LARA XUA ĐUỔI MA QUỈ
Ngày nọ, có một
bà đạo đức ở giáo phận Pisa tới Assisi để tạ ơn Thiên Chúa và cám ơn thánh
Clara, v́ nhờ công nghiệp thánh nữ mà bà thoát khỏi tay năm tên quỉ dữ. Khi bị
trục xuất, năm tên quỉ này đă thú nhận lời cầu nguyện của thánh nữ làm chúng
phải thất điên bát đảo và bị đuổi ra khỏi thân xác chúng đă chiếm ngụ. Chẳng
phải vô căn cớ đâu, chính Đức Giáo hoàng Grêgôriô tin tưởng cách lạ lùng vào lời
cầu nguyện mà Người cảm thấy linh nghiệm. Hồi c̣n làm Giám mục giáo phận Ostia
và sau này, khi lên ngôi Giáo hoàng, mỗi lúc gặp khó khăn, như thường thấy xảy
ra, Người hay biên thư khẩn khoản xin Thánh nữ cầu thay nguyện giúp; và Người
cảm thấy được sự trợ giúp. Chắc chắn ta phải thán phục đức khiêm hạ của vị đại
diện Chúa Kitô và sốt sắng noi gương Người là Đấng không ngần ngại xin Thánh nữ
trợ giúp và hoàn toàn tin tưởng vào lời cầu nguyện linh nghiệm của Thánh nữ.
Người hiểu rơ những ǵ t́nh yêu có thể thực hiện được và sự dễ dàng dành cho các
trinh nữ vẹn tuyền lui tới trước ngai toà Đấng quyền uy. Thực vậy, nếu Vua trời
đă hiến thân cho những kẻ sốt sáng yêu mến Người, làm sao Người lại không nhận
lời những ai khiêm tốn cầu xin, nếu thấy là c?n thi?t.
XVII.
L̉NG SÙNG KÍNH LẠ LÙNG ĐỐI VỚI BÍ TÍCH THÁNH THỂ
28. Ḷng
sùng kính của thánh Clara đối với bí tích Thánh Thể được biểu lộ qua hiệu quả
của phép này. Suốt thời gian đau nặng, nằm liệt giường, Clara xin chị em đỡ dậy
để Người tựa vào gối và ngồi như thế mà dệt được những tấm vải phin quí giá.
Người cắt ra được trên năm chục chiếc khăn thánh, để vào túi lụa hoặc túi gấm và
gởi tới các nhà thờ miền cao nguyên hay vùng đồng bằng quanh Assisi (31).
Mỗi lần Clara sắp được rước Ḿnh Thánh Chúa là mỗi lần nước mắt Người tuôn trào
nóng hổi, kế đó Người run run tới gần bàn thánh. Người hẳn kính sợ Chúa trong bí
tích Thánh Thể, như Người vẫn kính sợ Chúa là Đấng Cứu Thế, Chúa Tể trời đất.
XVIII.
SỰ AN ỦI LẠ THƯỜNG CHÚA BAN CHO CLARA LÚC ĐAU YẾU
29. Clara
luôn tưởng nhớ tới Chúa Kitô lúc đau yếu thế nào, th́ Chúa Kitô cũng thường thăm
viếng Người lúc chịu đau đớn như vậy. Một ngày lễ Giáng Sinh kia, vào giờ phút
thế giới cùng các thiên thần hát mừng Chúa Hài Nhi, các nữ tu đều vào nhà nguyện
đọc Kinh Sáng, để Mẹ Clara đau nặng nằm trơ một ḿnh. Lúc ấy Mẹ bắt đầu tưởng
nhớ tới Chúa Hài Nhi, và rất buồn v́ không được cùng các nữ tu chung lời ca
ngợi. Người thở dài và than: “Lạy Chúa, này con bị bỏ lại đây với Chúa một
ḿnh.” Bỗng nhiên, tiếng đàn hát du dương trổi lên tại nhà thờ thánh Phanxicô
(32), bắt đầu vọng tới tai Người. Người nghe được tiếng anh em hoan
hỉ nguyện kinh, nhận ra được tiết điệu nhịp nhàng của những anh em xướng hát và
phân biệt được cả tiếng đại phong cầm. Mà nhà thờ nào có gần gũi ǵ, để Clara tự
nhiên nghe được các âm thanh ấy. Hẳn là Chúa đă khuếch đại những tiếng đàn hát
của buổi lễ, để chúng bay tới tai Clara, hoặc là Chúa đă gia tăng khả năng thính
giác cho Clara. Nhưng một sự kiện khác c̣n trổi vượt hơn phép lạ về âm thanh kể
trên; đó là việc Clara được Chúa cho thấy máng cỏ.
Sáng sớm hôm sau, các nữ tu con cái Người
đến thăm. Clara đă nói với các chị : “Ngợi khen Đức Giêsu Kitô và Ngài dă không
bỏ rơi mẹ, trong lúc các con để mẹ ở lại đây. Thực vậy, nhờ ơn Đức Giêsu Kitô,
mẹ đă nghe hết lời kinh, điệu hát buổi lễ trọng thể cử hành tối qua tại nhà thờ
thánh Phanxicô.
XIX.
T̀NH YÊU NỒNG NÀN ĐỐI VỚI CHÚA CHỊU ĐÓNG ĐINH
30. Than
khóc cuộc khổ nạn của Chúa là điều rất quen thuộc đối với Clara. Dấu đanh của
Chúa vừa là nguồn mạch những cảm giác đau xót, vừa là lư do khiến Người tránh xa
những lạc thú êm đềm. Người say sưa khóc than Chúa chịu nạn và luôn luôn gợi ra
trong trí h́nh ảnh Đấng mà t́nh yêu đă in sâu vào trong tâm khảm Người. Người
cũng dạy các tập sinh biết khóc than Chúa chịu đóng đinh và đồng thời lấy các
việc lành để soi sáng những điều dạy bảo. Lắm lúc, đang khi âm thầm khích lệ các
tập sinh than khóc Chúa, Clara đă ứa nước mắt ra, trước khi nói được một lời ǵ.
Hằng ngày, giữa khoảng giờ kinh trưa và giờ kinh xế chiều, tâm hồn Clara đau đớn
dữ dội, như dâng ḿnh cùng tế lễ với Đấng đă dâng ḿnh làm lễ tế.
Ngày nọ, Clara đang đọc kinh xế chiều
trong pḥng, ma quỉ đă tới vả vào má Người đến nỗi máu mắt vọt ra và má bầm tím.
Để tâm hồn không ngớt ch́m sâu vào
khoái cảm mầu nhiệm thập giá, Clara thường ngẫm đi ngẫm lại Kinh kính năm dấu
đanh Chúa. Người cũng học thuộc Kinh thần tụng về sự thương khó Chúa, do
Phanxicô, t́nh nhân Thánh giá biên soạn, và cũng thường đọc kinh ấy với ḷng
kính mến không kém ǵ thánh Phanxicô. Người cũng thắt trong ḿnh một sợi dây 13
nút dây là dấu hiệu kín đáo nhắc nhở Người nhớ tới các vết thương của Chúa
(33).
XX.
TƯỞNG NHỚ CUỘC KHỔ NẠN CỦA CHÚA
31. Dạo
ấy, gần ngày kỷ niệm việc Chúa thiết lập bữa tiệc ly cực thánh, trong đó Chúa
Giêsu yêu các môn đệ đến cùng (Yoan 13: 1). Vào buổi tối, khi giờ hấp hối của
Chúa sắp bắt đầu, Clara cũng buồn rầu thảm năo lui bước vào căn pḥng vắng vẻ.
Trinh nữ cũng bắt chước Chúa đang cầu nguyện và linh hồn buồn sầu tới chết
(Matthêô 26: 38). Người thông cảm sâu xa sự buồn sầu của Chúa và tưởng nhớ nào
là cảnh bắt bớ, nào là cảnh sỉ nhục Chúa. Rồi Người buông ḿnh xuống giường.
Suốt đêm và suốt ngày sau đó, Người mê man, xa lạ hẳn với chính ḿnh. Mắt Người
cứ trừng trừng nh́n về một chỗ. Người cũng chịu đóng đinh với Chúa Kitô và có vẻ
như không c̣n cảm giác ǵ nữa. Một nữ tu thân tín của Clara đă trở lại mấy lần,
xem Người có cần dùng ǵ không, nhưng vẫn thấy Người ở nguyên trạng thái. Sau
cùng, vào tối Thứ Bảy Tuần Thánh, chị nữ tu đạo đức kia đốt nến đi vào pḥng
Người và lặng lẽ làm dấu hiệu nhắc nhở cho Người biết lệnh của thánh Phanxicô.
(Thực ra, thánh Phanxicô đă cấm Clara không được bỏ ăn ngày nào cả). Như từ đâu
đâu trở về, Clara hỏi chị nữ tu đứng bên cạnh : “Sao con lại cần tới nến làm ǵ
? Chẳng phải là đang ban ngày sao ?” Chị nữ tu trả lời: “Thưa mẹ, đêm đă qua
rồi, ngày cũng đă qua rồi, bây giờ đă bước sang một đêm khác.” Lúc đó Clara mới
thốt lên: “Này con, phước thay giấc ngủ vừa rồi. Mẹ đă ao ước nó từ lâu, bây giờ
Chúa mới khấng ban cho. Bao lâu Mẹ c̣n sống, con nhớ đừng kể cho ai hay về giấc
ngủ này.”
XXI.
NHỮNG PHÉP LẠ THỰC HIỆN NHỜ QUYỀN LỰC DẤU THÁNH GIÁ
32. Với
những ai yêu mến Chúa, Chúa chịu đóng đinh thường lấy t́nh yêu đáp lại t́nh yêu.
Clara đă từng nồng nhiệt yêu mến mầu nhiệm thập giá, nên được Chúa làm rạng rỡ
qua những việc phi thường và các phép lạ Người đă thực hiện nhờ quyền lực dấu
Thánh giá. Ngay đến bệnh tật cũng được khỏi cách lạ lùng, khi Clara vạch h́nh
Thánh giá lên người bệnh nhân. Đây tôi sẽ kể qua một vài trường hợp trong muôn
một.
Có một người anh em kia, tên là Stêphanô bị điên nặng. Thánh
Phanxicô cho dẫn anh tới với Mẹ Clara để Mẹ vạch dấu Thánh giá lên ḿnh anh.
Thánh Phanxicô vốn đă biết rơ sự hoàn thiện của Thánh nữ và hằng kính nể khả
năng làm phép lạ của Người. Như người con vâng lệnh cha, Clara đă vâng lệnh
Phanxicô, vạch dấu Thánh giá trên ḿnh anh và để anh ngủ một lát tại nơi Clara
thường cầu nguyện. Ngủ được một giấc, anh liền tỉnh lại và được khỏi bệnh. Anh
chỗi dậy trở về với Cha Thánh, và hết hẳn bệnh điên khùng.
33.
Tại thành Spôlêtô, một em bé lên ba, tên là Matthias đă đút một viên sỏi vào lỗ
mũi. Không ai có thể lấy viên sỏi ra, và em cũng không thể làm cho viên sỏi nảy
ra được. Lúc đang bị nghẹt thở nguy hiểm, em được dẫn tới Mẹ Clara và Mẹ đă làm
dấu Thánh giá, tức th́ viên sỏi bật ra. Em bé được cứu thoát.
Một em bé khác ở Pêrusiô (34)
bị vảy cá ở mắt. Em được dẫn tới Mẹ Clara, nữ t́ thánh thiện của Chúa. Clara
vạch dấu Thánh giá lên ḿnh em và bảo: “Hăy dẫn em tới thân mẫu ta, để Bà cũng
làm dấu Thánh giá cho em.” Thân mẫu Người tức Bà Ortulana(35), bà đă
theo cành cây nhỏ bé của bà là Clara, vào ḍng để cùng các trinh nữ phụng thờ
Thiên Chúa nơi mảnh vườn rào kín (Diễm t́nh ca 4: 12), với tấm thân goá bụa. Bà
vừa vạch dấu Thánh giá lên ḿnh em, mắt liền sạch vảy cá và em trông được rơ
ràng. Clara quả quyết là em bé đă được chữa lành nhờ công đức của thân mẫu;
nhưng thân mẫu Người lại muốn trút tất cả công đức ấy cho con và thú nhận bà
không xứng đáng được hân hạnh ấy.
34.
Chị nữ tu Benvênuta phải chịu khổ sở đă gần mười hai năm, chỉ v́ một cái ung
nhọt dưới cánh tay. Ung nhọt có tới năm lỗ chảy mủ. Clara, trinh nữ của Chúa,
động ḷng thương chị, dán chị một thứ “cao” có thể chữa lành bệnh, là dấu Thánh
giá. Ngay khi làm dấu Thánh giá cho chị, ung nhọt lâu năm kia liền biến mất và
chị được lành hẳn.
Trong số các nữ tu lại có chị tên là Amata, bị bệnh thuỷ thũng, nằm
liệt giường đă mười ba tháng. Ngoài ra chị c̣n bị bệnh sốt, bệnh ho và bệnh đau
nhức ở cạnh sườn hành hạ. Clara hết sức thương chị, nên đă vận dụng tới vị thuốc
thần của Người. Người nhân danh Chúa Kitô vạch h́nh Thánh giá trên ḿnh nữ tu,
tức th́ chị được khỏi bệnh hoàn toàn.
35.
Một nữ t́ khác của Chúa Kitô, quê quán ở Pêrusiô, bị mất tiếng nói trong hai năm
trời. Chị phải cố gắng mới nói ra được một tiếng rơ ràng. Trong đêm áp lễ Đức Mẹ
Lên Trời, được báo mộng trong một thị kiến là Clara sẽ chữa lành chị, chị nóng
ḷng chờ đợi trời sáng. Lúc trời vừa hửng sáng, chị đă vội vă chạy tới xin Mẹ
Clara vạch dấu Thánh giá trên chị. Clara vừa vẽ h́nh Thánh giá xong, tức th́ chị
nữ tu nói được liền.
Một chị khác là Christiana bị điếc
hẳn một tai đă từ lâu. Chị đă chạy chữa nhiều loại thuốc mà không có hiệu quả.
Với ḷng nhân hậu, Clara vạch dấu Thánh giá lên đầu chị, sờ vào tai chị và chị
nghe được liền tại chỗ.
Trong tu viện, một số đông nữ tu mắc
phải nhiều chứng bệnh khác nhau. Theo thường lệ, hễ Clara mang vị thuốc quen
thuộc kia vào pḥng bệnh, và làm dấu Thánh giá năm lần là tức khắc năm nữ tu
đang đau, liền được khỏi bệnh.
Những sự kiện ấy cho thấy là cây
Thánh giá đă được trồng sâu trong ḷng Thánh nữ; bên trong, Thánh giá sinh hoa
kết trái bổ dưỡng linh hồn, bên ngoài, Thánh giá làm nẩy lên những cành lá chữa
lành bệnh tật.
XXII.
CHỈ GIÁO THƯỜNG NHẬT CÁC NỮ TU
36. Clara
vừa là vị giáo tập của chị em không mấy học thức, vừa là Mẹ Bề trên các trinh nữ
tại lâu đài của Đại vương. Người đă giáo dục chị em trong tinh thần kỷ luật và
đă khuyến khích chị em yêu mến đời sống đạo đức cách khéo léo không lời nào tả
xiết. Trước hết, Người dạy chị em xua đuổi khỏi trí óc mọi sự ồn ào, để chỉ bám
vào các mầu nhiệm của Thiên Chúa mà thôi. Người dạy chị em đừng để t́nh nghĩa họ
hàng ruột thịt ảnh hưởng và phải quên gia đ́nh đi để lo sống đẹp ḷng Chúa Kitô.
Người khuyên chị em khinh chê mọi đ̣i hỏi xác thịt yếu đuối và bắt các ước muốn
hăo huyền của xác thịt phục tùng lư trí. Người cũng vạch rơ là ma quỉ xảo trá
thường kín đáo gài bẫy để bắt những tâm hồn trong trắng. Nó thường cám dỗ thánh
nhân và người phàm, mỗi hạng người một cách. Sau hết, Người muốn chị em phải lao
động chân tay một số giờ nhất định, nhưng liền sau đó phải cầu nguyện để hâm
nóng ḷng tưởng nhớ Đấng Tạo hoá, để tránh xa sự lười biếng, trễ nải, và lấy
t́nh yêu nồng nàn đốt cháy sự thờ ơ, nguội lạnh. Không nơi nào luật thinh lặng
được tuân giữ nghiêm ngặt như ở đây. Không nơi nào, điều Thiện, Mỹ lại được đề
cao và trau dồi đến thế. Nơi đây, không phải là nơi bàn tán những mẩu chuyện
khiến cho tâm hồn đồi trụy và cũng chẳng phải chốn để gẫu những chuyện phù
phiếm, tỏ hiện cụ thể những tâm hồn nông cạn. Clara là một Giám sư rất ít lời.
Clara là người biết sử dụng lối nói vắn tắt để diễn tả những tư tưởng rất phong
phú.
XXIII.
SỐT SÁNG NGHE GIẢNG LỜI CHÚA
37. Thánh
nữ rất quan tâm đến việc mời các vị giảng thuyết thánh thiện tới rao truyền Lời
Chúa cho con cái. Chính Người cũng dự phần quan trọng vào của ăn thiêng liêng
này. Thực vậy, khi nghe một bài giảng thánh thiện, Clara ḷng tràn ngập vui
sướng, vui v́ tưởng nhớ tới Chúa Giêsu. Lần nọ, lúc anh Philipphê thành Adria(36)
đang giảng, th́ một em bé xinh đẹp tới đứng bên cạnh Người. Trong suốt phần lớn
bài giảng, em đă làm Clara vui thoả v́ muôn vẻ yêu kiều duyên dáng. Một nữ tu
được phúc mục kích sự tỏ hiện này, cảm thấy ḷng ḿnh êm ái lạ thường. Dầu Clara
không được học văn chương chữ nghĩa nhiều, Người vẫn thích nghe một bài giảng
uyên thâm. Người thấu hiểu rằng trong lớp vỏ từ ngữ có ẩn giấu hạt nhân ngon
ngọt mà Người mong muốn được thưởng thức cách thú vị. Người có biệt tài rút tỉa
ở bài giảng của bất cứ một vị thuyết giáo nào, những ǵ lợi ích cho linh hồn;
Người c̣n tỏ ra có tài riêng biết ngắt hái một bông hoa nơi bụi gai, cũng như
biết thưởng thức hoa trái của một vườn cây được chăm sóc vun trồng.
Lần kia, khi Đức Giáo hoàng Grêgôriô
IX ra lệnh cấm anh em vào các nữ tu viện (37) mà không có phép của
Ngài. Bà mẹ buồn ḷng v́ từ nay con cái sẽ không thường được hưởng của ăn Lời
Chúa như trước nữa. Bà than thở : “Vậy th́ Đức Thánh Cha cứ rút hết anh em đi,
v́ Ngài đă rút đi những anh em ban phát của ăn hằng sống cho chị em.” Tức khắc,
Clara gởi trả tất cả mọi anh em cho vị Tổng Phục vụ, không muốn giữ lại những
anh em chỉ đi quyên góp của ăn phần xác khi mà những anh em ban phát của ăn tinh
thần không c̣n nữa. Hay được tin ấy, Đức Grêgôriô liền nới rộng lệnh cấm và
giao lại cho vị Tổng Phục vụ xử lư.
XXIV.
T̀NH THƯƠNG BAO LA ĐỐI VỚI CHỊ EM
38.
Mẹ Bề trên khả kính không những thương yêu phần linh hồn của con cái, mà c̣n
chú tâm săn sóc phần xác một cách sốt sáng lạ thường. Trong những đêm giá lạnh,
Người hay tự tay đắp mền cho chị em đang ngủ. Đối với những chị em mà Clara cho
là yếu nhược, không thể giữ luật sống chung nghiêm khắc, Người muốn các chị ấy
bằng ḷng chấp nhận một lối sống bớt khắc khổ hơn. Chị nào bị cám dỗ, hay có nỗi
buồn phiền dày ṿ, Người kín đáo gặp riêng, rồi vừa khóc vừa an ủi cảm thông.
Đôi khi Người quỳ sụp xuống dưới chân chị nữ tu đang đau đớn và xoa dịu nỗi chua
xót chị với lời lẽ của một từ mẫu. Các chị rất cảm kích đội ơn về những cử chỉ
đó, nên hết ḷng gắn bó với Người. Đối với Người, các chị em tỏ ḷng yêu thương,
quí trọng như là bậc hiền mẫu, các chị em tôn kính chức vụ thiêng liêng như là
vị chỉ đạo, các chị em rập theo con đường ngay chính như là nhà mô phạm và các
chị em thán phục sự thánh thiện vượt bực như là vị hôn thê của Chúa (38).
XXV.
BỆNH TẬT VÀ SUY NHƯỢC THƯỜNG KỲ
39. Đă từ
40 năm nay, Clara đă chạy đua trong vận động trường Đức Nghèo cao cả. Ḱa !
Người đă tới gần giải thưởng ơn thiên triệu, nhưng thân h́nh Ngườiđă ra tiều tuỵ
suy nhược.
Sức sống trong cơ thể đă suy yếu v́
hy sinh, hăm ḿnh quá khắc khổ ngay từ thuở ban đầu. Do đó vào cuối đời, Người
bị một chứng bệnh ác liệt, để khi khoẻ mạnh Người được tràn đầy công phúc nhờ
việc làm, th́ khi đau yếu, Người cũng lập được nhiều công nghiệp nhờ chịu khó.
Quả thế, chính trong sự suy nhược mà nhân đức đạt tới mức hoàn hảo (II Cor 12:
9).
Nhân đức đáng khâm phục của Clara đă
đạt tới mức độ hoàn hảo nào trong lúc Người đau yếu, điều đó được tỏ rơ qua sự
kiện sau đây. Suốt 28 năm trời đau yếu Clara không thốt ra một lời phàn nàn,
than trách. Trái lại, miệng chỉ thốt ra những lời nói thánh thiện và cảm tạ, đội
ơn sức nặng bệnh tật đè nặng trĩu trên Người, như muốn mau chóng đưa Người về
cơi chết. Nhưng Chúa đă dời ngày đó lại để tưởng thưởng danh dự xứng đáng cho
trinh nữ Clara, người con đặc biệt của Giáo Hội. Thực thế, trong thời gian Đức
Giáo hoàng Innôcentiô IV (39) và các Hồng y lưu tại Lyon (40),
Clara ngă bệnh nặng (41). Chị em trong nhà rất đau khổ như bị gươm
đâm thâu qua trái tim vậy.
40.
Có một nữ t́ Đức Kitô, một trinh nữ tận hiến cho Chúa ở tu viện Thánh Phaolô,
thuộc ḍng Biển-Đức, được tỏ cho thấy qua một thị kiến là chị này cùng với các
chị em tại tu viện Thánh Đamianô đứng bên giường bệnh Clara, và Thánh nữ nằm
trên một chiếc giường quí giá. Trong lúc các chị em khóc lóc và đẫm lệ chờ đợi
giờ phút ra đi của Thánh nữ, th́ có một bà kiều diễm hiện ra trước đầu giường và
nói cùng chị em đang khóc : “Hỡi các con, đừng than khóc kẻ đang tiến tới chiến
thắng, kẻ ấy không thể chết trước khi Chúa và các môn đệ đến.” Ít lúc sau, Giáo
triều La-mă tới Pêrusiô . Đức Hồng y địa phận Ostia (42) được tin
bệnh t́nh Clara trở nặng, cũng liền tới thăm viếng Thánh nữ. V́ đối với Clara,
Đức Hồng y là một người cha, vừa là người nuôi dưỡng, vừa là người bạn chí
thiết, nếu xét về chức vụ, về việc giảng dạy và về t́nh thương của ngài. Ngài
thêm sức cho bệnh nhân qua bí tích Thánh Thể và nâng đỡ các chị em với những lời
khích lệ hữu ích. Clara, nước mắt đầm đ́a, khẩn khoản nài xin Đức Hồng y nhận
trông nom ḿnh và các chị em nhân danh Chúa Kitô, và trên hết mọi sự, Clara xin
Ngài thỉnh cầu Đức Giáo hoàng và các Hồng y phê chuẩn cho đặc ân sống nghèo.
Đấng bảo trợ trung tín Hội ḍng đă nói và hứa thế nào, Ngài cũng thực hiện y như
vậy(43). Một năm sau, Đức Giáo hoàng và các Hồng y rời Pêrusiô đến
Assisi. Thị kiến kể trên được ứng nghiệm. Đức Giáo hoàng là biểu tượng cho chính
Chúa, c̣n các Hồng y thân cận chung quanh Đức Giáo hoàng trong đền thờ của Hội
Thánh chiến đấu là các môn đệ.
XXVI
ĐỨC INNÔCENTIÔ TỚI THĂM CLARA ĐAU YẾU BAN ƠN THA TỘI VÀ CHÚC LÀNH
41.
Chúa Quan Pḥng vội vă thực hiện dự định của Người đối với Clara. Đức Kitô nóng
ḷng đưa người lữ khách khó nghèo, sắp măn hạn kỳ, lên chốn thiên cung. Phần
Clara, Người hết ḷng cầu mong được giải thoát khỏi thể xác phải chết này (Rôma
7: 24) và được chiêm ngưỡng Chúa Kitô thống trị trên Thiên quốc, Chúa là Đấng đă
sống đức nghèo khó thế nào trên dương thế, th́ nay Clara nghèo khó cũng đă hết
ḷng bắt chước sống như vậy. Khi thân xác của Người đă yếu nhược đến cùng độ do
các bệnh tật từ trước gây ra, th́ một căn bệnh mới xảy tới. Đây là dấu hiệu Chúa
sắp gọi Clara về với Người và cũng là sửa soạn để Clara được sức khoẻ vĩnh cửu.
Đức cố Giáo hoàng Innôcentiô IV (44) và các Hồng y vội tới thăm người
nữ t́ Chúa (45) Kitô. Đức Giáo hoàng đánh giá lối sống Clara cao hơn
lối sống các phụ nữ trong thời đại chúng ta và sự hiện diện của Ngài làm tăng
vinh dự cho những giây phút cuối cùng. Vào tu viện, tới gần giường bệnh nhân,
Ngài đưa tay cho Clara hôn. Với tất cả tấm ḷng biết ơn, Clara ôm chằm lấy tay
Ngài và hết sức kính cẩn ngỏ lời xin được hôn chân Ngài nữa. Một nhân vật trong
đoàn tùy tùng của Đức Thánh Cha đă đặt chân Đức Thánh Cha lên một chiếc ghế kê
sẵn Thánh nhân cung kính cúi mặt xuống và ghé môi hôn chân Đức Giáo hoàng.
42.
Với một vẻ mặt thiên thần, Clara khẩn cầu Đức Giáo hoàng tha hết mọi tội lỗi.
Ngài trả lời : “Lẽ ra, Cha cần phải xin tha tội hơn là con.” Rồi Ngài ban ơn
toàn xá và cầu chúc nhiều phước lành. Đoạn tất cả mọi người ra về.
Hôm đó, vị Phục vụ Tỉnh ḍng cho
Clara rước Ḿnh Thánh Chúa. Clara ngước mắt lên trời, chắp tay, vừa khóc vừa nói
với chị em : “Này các con, hăy ngợi khen Chúa, v́ hôm nay Đức Kitô đă khấng ban
cho Mẹ một ơn cao trọng, mà đem cả trời đất ra so sánh cũng không nghĩa lư ǵ.
Hôm nay, Mẹ được rước Đấng Chí Tôn, và được thấy vị Đại diện của Người.”
XXVII.
CLARA TRẢ LỜI NGƯỜI EM KHÓC LÓC
43.
Hết thảy các con cái đều tụ họp quanh giường người mẹ (41). Họ sắp
sửa trở thành mồ côi và tâm hồn họ đau đớn như bị gươm sắc thâu qua ḷng vậy (Lc
2: 35). Đói khát, buồn ngủ, không làm họ bỏ túc trực bên giường bệnh. Họ quên ăn
quên ngủ và ngày đêm chỉ muốn được khóc than là đủ cho họ rồi. Trong số nữ tu,
có Agnès (46), nước mắt dàn dụa, kêu xin Clara đừng ra đi bỏ Agnès
lại một ḿnh. Clara trả ḷi : “Agnès yêu dấu, chị ra đi là do thánh ư Chúa muốn.
Thôi em đừng khóc nữa, v́ chẳng c̣n bao lâu em cũng sẽ theo gót chị về với Chúa.
Chúa sẽ ban cho em một niềm an ủi lớn lao, trước khi chị giă biệt em.”
XXVIII.
NHỮNG BIẾN CỐ ĐÁNH DẤU PHÚT LY TRẦN
44.
Trong những ngày cuối đời, Clara có vẻ đau đớn nhiều hơn. Ḷng tin tưởng và ḷng
mộ mến của dân chúng gia tăng. Hằng ngày Clara được hân hạnh các Hồng y và hàng
giáo sĩ vị vọng tới thăm viếng và tôn kính như một thánh nhân. Một điều nghe khá
lạ tai là tuy đă bỏ ăn 17 ngày mà Clara vẫn được Chúa ban đầy đủ sức mạnh tinh
thần, để làm cho những kẻ tới với Người được vững tâm phục vụ Chúa, và lúc anh
Raynaldô (47), một người rất tốt bụng, khuyến khích Clara kiên nhẫn
chịu đựng cuộc tử nạn lâu dài này; Clara rất b́nh thản trả lời : “Anh Raynaldô
quí mến, từ ngày tôi nhờ thánh Phanxicô, tôi tớ Chúa, mà cảm nghiệm được ân sủng
Chúa Giêsu Kitô th́ đối với tôi, không c̣n khổ đau nào là khó chịu, không c̣n
khổ hạnh nào là nặng nề, và không c̣n tật bệnh nào là dữ dằn cả.”
45.
Nhưng Chúa đă hành động cách nhân hậu; và ḱa ! Người đă đứng trước cửa. Clara
mong muốn có linh mục và các anh em thánh thiện bên ḿnh để đọc cho nghe cuộc
khổ nạn của Chúa và các lời Sách Thánh. Lúc anh Juniphêrô (48), người
hát dạo lỗi lạc thường dùng lời ca nhiệt t́nh để gợi lên mầu nhiệm Thiên Chúa,
xuất hiện giữa anh em, Clara rất đỗi vui mừng, hỏi anh có biết ǵ về Thiên Chúa
không. Anh Juniphêrô liền mở miệng nói; và từ tấm ḷng nóng bỏng của anh đă phát
ra những lời nói giống như tia lửa. Clara đă gặp được nhiều sự an ủi nơi các dụ
ngôn anh Juniphêrô dùng.
Cuối cùng, quay mặt về phía các chị
em đang khóc và vừa ca ngợi vừa nhắc nhở cho chị em về đức nghèo của Chúa và các
ơn lành của Ngàøi, Clara chúc lành cho mọi người, nam cũng như nữ, đă tận tâm
với Người. Đối với các bà sống trong tu viện nghèo khó, hiện tại cũng như tương
lai, Clara xin Chúa ban xuống dư đầy ơn phước.
Và phần kế tiếp đây, ai có thể kể lại
mà không sa lệ. Hiện diện có hai người bạn đồng hành của thánh Phanxicô là anh
Angêlô (49), tuy ḷng cũng buồn rầu, mà vẫn an ủi những kẻ sầu năo,
c̣n anh Lêô (50), th́ cứ hôn lên giường của kẻ sắp ra đi. Đoàn con bị
bỏ lại, khóc thương người mẹ đạo đức. Nước mắt chan hoà, họ túc trực bên người
mẹ mà họ sẽ không c̣n gặp lại nữa. Nỗi đau đớn của họ thật thấm thía. Đối với
họ, mọi nguồn an ủi đều tiêu tan, với sự ra đi của Mẹ bề trên. Họ bị để lại nơi
thung lũng đầy nước mắt (Thánh vịnh 83: 7), và không bao giờ được vị Giám sư của
họ an ủi nữa. Chỉ có sự dè dặt mới cầm giữ tay họ không xé nát thân ḿnh. Nhưng
các chị em càng ḱm hăm, không cho cảm xúc tự do bộc lộ, th́ cảm xúc lại càng
mănh liệt. Luật của đan viện buộc phải thinh lặng, nhưng lúc đó sức mạnh của nỗi
khổ đau như đè nặng lên tâm can, khiến họ phải kêu la nức nở. Khóc than nhiều,
mắt họ sưng vù lên, nhưng từ cơi ḷng đau đớn cứ không ngớt tuôn trào ra những
ḍng lệ mới.
46.
Trở về với chính bản thân, vị trinh nữ thánh thiện th́ thầm cùng linh hồn :
“Ngươi hăy vững tâm ra đi, v́ có một người dẫn lộ tốt lành; hăy ra đi, v́ Đấng
dựng nên ngươi đă thánh hoá ngươi. Đấng ấy luôn bao bọc, che chở ngươi như mẹ
che chở con và đă yêu mến ngươi với t́nh yêu hiền dịu.” Clara liền nói : “Lạy
Chúa, con ngợi khen Chúa v́ Chúa đă tạo dựng nên con.” Một nữ tu hỏi Clara đang
đối thoại với ai, Clara trả lời : “Mẹ đang đối thoại với linh hồn tràn đầy ơn
phước.” Vị dẫn đạo chẳng c̣n xa xôi ǵ. Hướng về chị nữ tu kia, Clara hỏi : “Con
có thấy Vua vinh hiển mà Mẹ đang thấy không ?”
Một nữ tu khác cũng được bàn tay Chúa
đoái thương (Ezêkiel 1: 3) ; với cặp mắt phàm, đẫm lệ, chị đă được thị kiến một
cảnh tượng làm chị sung sướng. Bị đau đớn như mũi tên xuyên vào ḿnh, chị ngước
mắt về phía cửa pḥng. Và ḱa, một đoàn trinh nữ, áo dài trắng tinh, đang tiến
vào. Mỗi người đều đội trên đầu một triều thiên vàng. Trong đám đó, một trinh nữ
lộng lẫy hơn cả các trinh nữ khác, bước ra, vương miện trên đầu có h́nh lư hương
chạm trổ ở phía chóp; từ vương miện này phát ra hào quang chói lọi, khiến cho
căn pḥng tăm tối bỗng sáng rực lên như ban ngày. Trinh nữ tới bên giường vị Hôn
thê Đức Kitô đang nằm và dào dạt yêu thương, cúi xuống âu yếm ôm hôn. Các trinh
nữ đem đến một chiếc khăn dài tuyệt đẹp, phủ lên ḿnh thánh nữ và cùng đua nhau
tô điểm gian pḥng (51).
Ngày hôm sau, lễ thánh Laurentio,
linh hồn rất thánh Clara đă ĺa trần, để được trao tặng phần thưởng muôn đời.
Hồn thiêng Người rời đền thờ thân xác, để vui sướng bay lên tới chốn cửu trùng.
Phúc thay chuyến ra đi khỏi bể khổ đă đưa Clara vào đời sống hạnh phúc. Clara
vui mừng, chẳng phải v́ của ăn đạm bạc thế gian, nhưng v́ được đồng bàn dự tiệc
với các thánh trên trời. Thay v́ bận chiếc áo trần thế, sẽ biến thành tro bụi,
Clara bận chiếc áo muôn đời vinh hiển trên Nước Trời.
XXIX.
GIÁO TRIỀU LAMĂ VÀ ĐÔNG ĐẢO QUẦN CHÚNG DỰ TANG LỄ
47. Tin
Clara vừa mới qua đời khiến tất cả dân chúng trong thành phố vô cùng xúc động.
Đàn ông, đàn bà, ai ai cũng chạy tới tu viện. Họ tuôn tới đông đảo đến nỗi thành
phố Assisi như là bị bỏ hoang. Tất cả đều cao rao Clara là đấng thánh, được Chúa
yêu thương, và giữa tiếng ca vang ấy, chỉ đôi ba người là cầm được nước mắt.
Quan Thị trưởng cũng tới cùng với một số lính và một số đông người vũ trang.
Chiều hôm đó và suốt đêm, họ canh gác cẩn mật quanh kho tàng quí giá, để không
ǵ tai hại có thể xảy ra.
Hôm sau, tất cả Giáo triều xôn xao.
Vị Đại diện Chúa Kitô và các vị Hồng y đă ngự giá tới tu viện thánh Đamianô
(52) và tất cả thành phố cũng tiến về đó.
Tang lễ bắt đầu, anh em cất tiếng hát
bài lễ cầu hồn, bỗng nhiên Đức Thánh Cha ra lệnh thay thế bằng bài lễ các Trinh
Nữ; như thế Ngài muốn phong thánh cho Clara trước khi thể xác được an táng.
Nhưng Đức Hồng y Giáo phận Ostia lưu ư Ngài là trong vấn đề này cần phải tiến
hành chậm răi hơn nữa. Do đó Thánh Lễ cầu hồn đă được cử hành.
Sau đó, trước mặt Đức Giáo Hoàng và
toàn thể các Hồng y, cùng hàng Giáo sĩ vị vọng, Đức Giám mục giáo phận Ostia đă
giảng thuyết với đề tài : “Mọi sự đều là phù vân.” (Giảng viên 1: 2). Trong bài
giảng thuyết tuyệt hảo này, Ngài ca ngợi người trinh nữ siêu phàm đă biết khinh
chê mọi hư vô trần thế.
48.
Các vị Hồng y, Linh mục cũng đến tham dự tang lễ cách sốt sáng và cử hành những
nghi thức thông thường trước di hài Trinh nữ. Kế đó, người ta nghĩ nếu để một
kho tàng quí giá như vậy cách xa dân thành phố, th́ sẽ không bảo đảm và không
xứng đáng, thế nên người ta đă long trọng rước linh cữu về nhà thờ thánh Georgio
(53), giữa tiếng ca khen chúc tụng, lẫn với tiếng kèn và tiếng hoan
hô vang dậy. Đây cũng là nơi thi hài thánh Phanxicô được an táng lần đầu
(54). Như thế là một điềm cho thấy Đấng dọn đường sự sống cho Thánh nữ lúc
sinh thời cũng dọn sẵn chỗ an nghỉ cho Người khi quá cố.
Rồi dân chúng tụ họp đông đảo nơi mộ
Thánh nữ, ca ngợi Thiên Chúa rằng : “Quả thật đây là Đấng Thánh, Đấng đă được
người đời ca ngợi nơi dương thế, nay trị v́ trong vinh quang cùng các thiên
thần, xin cầu bầu cho chúng tôi trước toà Chúa Kitô, lạy Thánh nữ là Đấng tiên
phong các Bà Nghèo khó, Đấng dẫn dắt bao người tới sự ăn năn đền tội và tới sự
sống muôn đời.
Vài ngày sau đó, Agnès được gọi tới
dự tiệc cưới con chiên, đă theo chân Clara đến nơi vĩnh phước (55),
nơi mà hai thiếu nữ Sion, chị em về bản tính, về ân sủng và về vinh quang, đồng
ca ngợi Thiên Chúa không ngừng.
Thực sự Agnès đă nhận được nguồn an
ủi của Clara hứa trước giờ vĩnh biệt. Noi gương chị cả Clara, Agnès đă bỏ thế
tục bước vào đời sống Thánh giá. Cũng thế, khi Clara được rạng ngời nhờ các
công nghiệp và các phép lạ, Agnès đă sớm rời bỏ ánh sáng hữu hạn trần thế để
sống muôn đời với Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, Đấng hằng sống,
hằng trị cùng Chúa Cha và Chúa Thánh Thần muôn đời. Amen.
Quyển II
CÁC PHÉP LẠ THÁNH CLARA LÀM SAU KHI TỪ GIĂ CƠI ĐỜI
Những phép lạ của Thánh Clara
49.
Những dấu phi thường, những bằng chứng khả kính về những phép lạ của chư thánh,
tất cả những cái đó tiềm ẩn trong nếp sống thánh thiện và trong việc làm hoàn
hảo của các thánh nhân.
Thực vậy, thánh Yoan chẳng làm phép
lạ nào cả (Yn 10: 41), nhưng những người đă làm được phép lạ cũng không v́ thế
mà thánh thiện hơn Người. Do đó tôi có thể thỏa măn, sau khi đă tán dương đời
sống hoàn hảo thánh nữ, nhưng thiết tưởng cũng cần phải đáp ứng ḷng sùng mộ của
dân chúng và lay động sự nguội lạnh của họ.
Vậy Clara, lúc c̣n sống đă nổi danh
nhờ công nghiệp của Người, bây giờ ch́m ngập trong ánh sáng muôn đời cũng không
kém vang danh lạ thường trên dương gian nhờ các phép lạ chói lọi của Người. Sự
thật chân thành và được tuyên thệ khiến phải ghi lại nhiều điều nhưng v́ số tài
liệu quá phong phú, nên đành phải lướt qua một số lớn.
Trừ quỉ ám.
50.
Ở Pêrusiô có một em bé tên là Giacôbê. Nó có vẻ bị quỉ dữ ám hơn là ốm yếu. Lúc
th́ nó nhảy bổ vào lửa như người thất vọng, khi th́ lăn kềnh ra đất. Đôi khi hắn
cắn gạch đá đến găy răng, hoặc cào đầu, cào ḿnh cho chảy máu. Miệng méo mó,
lưỡi thè ra, hắn có thể cuộn tṛn ḿnh lại một cách dễ dàng, đến nỗi hắn thường
đưa cặp đùi lên kẹp được gáy. Mỗi ngày hai lần cơn điên hành hạ nó, đến sức lực
của hai người hợp lại cũng không thể kiềm giữ cho nó khỏi bỏ quần áo. Người ta
đă chạy t́m nhiều lương y kinh nghiệm mà không t́m được vị nào biết chỉ dẫn
thích đáng. Ông Guiđôlôtô, cha đứa bé, v́ không t́m ra thuốc nơi người đời để
chữa một căn bệnh không may như thế, nên đă chạy đến cậy nhờ công nghiệp thánh
Clara : “Lạy thánh nữ đồng trinh chí thánh đă được thiên hạ tôn kính, con xin
giao phó đứa con đáng thương này cho Ngài. Con hết ḷng khẩn nài, xin Ngài cho
nó được khỏi bệnh.” Ḷng đầy tin tưởng, ông vội chạy đến mộ thánh Clara và đặt
đứa con trên mộ Thánh nữ. Ngay khi c̣n đang cầu nguyện, ông đă được nhận lời.
Đứa nhỏ tức khắc hết tật và sau này em không c̣n một tật bịnh nào như thế hành
hạ nữa.
Một
phép lạ khác.
51.
Bà Alexandrina, quê tại Fratta, thuộc giáo phận Pêrusiô, phải cực khổ v́ một tên
quỉ rất dữ ám hại. Hắn bắt bà ta phục quyền hắn đến nỗi nó có thể khiến bà ta
bay như một con chim qua một mỏm đá sừng sững đứng trên bờ sông rồi cho đậu trên
một cành mềm đu đưa trên gịng sông Tibêri. Tên quỉ dữ bắt bà ta làm như thế,
như để đùa giỡn. Và cũng v́ tội lỗi của bà, nên bán thân bên trái bà bị tê liệt,
cánh tay bị co quắp; bà đă chạy đủ thứ thuốc mà không có kết quả ǵ cả.
Ḷng ăn năn hối hận, bà tiến tới mộ
Clara hiển thánh, xin Thánh nữ cầu bầu và được lành cả ba thứ tật bệnh, nhờ một
vị thuốc duy nhất. Thực vậy, tay co quắp trở nên b́nh thường, bán thân tê liệt
được lành và tên quỉ dữ bị đuổi ra khỏi bà.
Một bà khác cùng một địa phương bị
quỉ ám và mắc nhiều chứng bịnh, đă được ơn giải thoát cùng một lúc trước mộ của
Thánh nữ.
Chữa bệnh điên
cuồng.
52.
Một em bé Pháp, thuộc đoàn tùy tùng giáo triều, bị cơn điên hành hạ khiến nó hóa
ra câm và thân thể nó quay cuồng dễ sợ. Không ai kiềm hăm được nó trái lại nó
dăy dụa kinh khủng trong tay người cầm giữ. Người ta lấy dây trói nó lên một
chiếc cáng rồi các người đồng hương của nó khiêng tới nhà thờ thánh Clara, dầu ư
nó không muốn như vậy(56). Họ đặt nó xuống nơi mộ Thánh nữ và nhờ đức
tin của những người khiêng tới, tức khắc nó được hoàn toàn khỏi bệnh.
Chữa
bệnh kinh phong.
Ông Valentinô,
người ở thị trấn Spello (57), mắc bệnh kinh phong nặng đến nỗi mỗi
ngày, bất kỳ ở đâu, ông cũng lăn đùng ra đất những sáu lần. Ngoài ra ông không
thể đi đứng dễ dàng, v́ một ống chân bị rút ngắn. Người ta đặt ông lên lưng lừa
và đưa ông tới mộ thánh Clara, để ông nằm đó hai ngày ba đêm. Sang ngày thứ ba,
có một tiếng rắc phát ra từ nơi chân ông mặc dầu không ai sờ mó tới. Tức thời,
ông được khỏi cả hai bệnh.
Người
mù được sáng.
Em Giacôbê, con
của một phụ nữ ở thành Spôlêtô, bị mù từ 12 năm nay. Em luôn luôn phải có một
người dẫn đường, nếu không, thế nào em cũng rơi xuống hố. Quả vậy, một ngày kia,
đứa bé dẫn đường bỏ em một ḿnh, em rơi ngay xuống hố, găy tay và bị thương nơi
đầu.
Đêm kia, em nằm ngủ nơi một cây cầu ở
thành Narni (58), em mơ thấy một bà hiện ra và nói với em: “Giacôbê,
sao con không tới với ta ở Assisi, để được chữa lành?” Sớm hôm sau, em thức dậy
và run run kể lại giấc mộng cho hai người mù khác nghe. Hai người này đáp lại :
“Chúng tao nghe nói là trong thành Assisi có bà kia vừa qua đời, và người ta đồn
rằng bàn tay Thiên Chúa đă làm vang danh ngôi mộ của bà với nhiều vụ chữa lành
bệnh và nhiều việc lạ lùng.”
Vừa nghe xong lời đó, Giacôbê ḷng
đầy phấn khởi, vội vă lên đường. Đêm sau em trọ lại tại Spôlêtô và lại mơ thấy
như trước. Thế là em nai nịt gọn gàng ra đi lập tức chỉ v́ em muốn mắt được
sáng.
53.
Tuy nhiên, lúc tới Assisi, em thấy nhiều đám người tụ họp trước mộ Trinh nữ.
Không có cách nào tới ngôi mộ được, em đành lấy đá gối đầu nằm ngủ ngay trước
cửa. Tuy tin tưởng mạnh mẽ, em vẫn cảm thấy xót xa v́ không thể vào bên trong
được. Và ḱa, tiếng gọi lại vang vọng lần thứ ba : “Giacôbê! nếu con tiến vào
được, Chúa sẽ ban ơn lành cho con.”
Bừng mắt dậy, em vừa khóc vừa van xin
đám đông v́ ḷng mến Chúa mở đường cho em vào. Lối đi được mở ra, em liền cởi
giầy, trút áo, quàng dây vào cổ, khiêm tốn động tới mộ Thánh nữ. Rồi em say sưa
nằm ngủ. Em nghe thánh Clara bảo em : “Hăy đứng dậy đi, con đă được lành.”
Tức khắc, em chỗi dậy, hết mù loà,
lớp mây nơi mắt cũng biến đi. Nhờ thánh Clara em thấy rơ ánh sáng. Em liền dùng
lời ca ngợi làm rạng danh Thiên Chúa và cũng mời mọi người cùng em khen ngợi
Chúa v́ một việc lạ lùng như thế.
Sửa lại bàn
tay bị dập nát .
54.
Bona Gioan Martini, dân thành Perusio, cùng với các người đồng hương kéo quân
đến đánh thành Foligno. Tại đây, ngay khi khởi chiến, một ḥn đá nặng rơi xuống
và làm bàn tay trái của anh dập nát. Muốn được lành lặn, anh đă tốn nhiều tiền
thuốc, nhưng không thuốc nào có thể giúp anh khỏi phải mang măi một bàn tay vô
dụng và hầu như bất lực, không làm được việc ǵ. V́ vậy, anh buồn ḷng v́ bàn
tay vô dụng kia không chịu đựng được vật nặng như bàn tay phải, nên đă nhiều lần
anh ao ước cắt cụt tay đi.
Nhưng được nghe nói về những điều
Thiên Chúa thương thực hiện qua nữ t́ Người là Clara, anh liền cầu khấn và ra đi
tới mộ Thánh nữ. Anh dâng lên Thánh nữ một bàn tay làm bằng sáp. Rồi anh phủ
phục trên mộ Thánh nữ. Anh liền được lành tay ngay trước khi anh ra khỏi thánh
đường.
Chữa
lành người dị dạng.
55.
Có anh kia, tên Petriolo, sinh tại thị trấn Bettora(59) bị kiệt quệ
v́ một chứng bệnh trong ba năm trời. Anh ta có vẻ như khô héo đi v́ chứng bệnh
lâu năm ấy. Chứng bệnh làm anh bị đau thắt nơi hông dữ dội đến nỗi anh phải kḥm
lưng và cúi gập ḿnh xuống, khó khăn lắm anh mới chống gậy đi được.
Cha anh đă cậy tới tài năng của nhiều
vị lang y, cả đến các chuyên gia về xương gẫy. Ông sẵn sàng tiêu hết gia sản để
con ông hồi phục sức khoẻ. Tuy nhiên các thầy thuốc cho ông thấy là không có
thuật nào chữa nổi căn bệnh như thế, ông liền quay về xin lời cầu bầu của vị
tân Thánh mà ông nghe kể đă làm nhiều việc lạ lùng. Người ta mang Petriolo tới
nơi để di hài qúi giá Thánh nữ, đặt anh nằm ít lâu trước ngôi mộ th́ anh được ơn
khỏi bệnh hoàn toàn. Ngay lúc đó, anh chỗi dậy, đứng thẳng người lên và thấy anh
được lành lặn. Anh “đi lại, nhảy nhót, ca ngợi Thiên Chúa”, và mời lớp người
đang tuôn tới ca tụng thánh Clara.
56 Trong
làng S. Quirico(60) thuộc giáo phận Assisi, có một em bé lên 10, què
từ trong bụng mẹ (Cvtđ 3: 2). Chân em lỏng khỏng; bàn chân quặt chéo đi đứng
xiêu vẹo, và khó khăn lắm em mới có thể chỗi dậy được khi bị té. Mẹ em đă nhiều
lần phú dâng em cho thánh Phanxicô, nhưng chẳng được khá hơn.
Biết thánh Clara được tôn vinh nhờ
các phép lạ tân kỳ, bà ta đưa em tới mộ Thánh nữ. Sau một vài ngày, người ta
bỗng nghe tiếng răng rắc trong xương chân, rồi chân tay em trở lại ngay thẳng.
Điều mà thánh Phanxicô đă từ khước khi được cầu khẩn nhiều lần, th́ Clara môn
sinh Ngài, nhờ sức mạnh Thiên Chúa đă nhân nhượng ban cho.
57.
Ông Giacôbê ḍng họ Franco, một người dân thành Gubbio (61), có người
con trai lên năm, đôi chân yếu ớt, chưa bao giờ bước đi được mà cũng không thể
nào bước đi được. Ông cứ than trách, coi đứa bé như quái vật trong nhà và là sự
nhục nhă của gia tộc. Em lăn ngủ trên đất, trườn ḅ vào chỗ bụi bậm. Đôi khi em
muốn chống gậy đứng lên mà không nổi. Tạo hóa đă phú cho em ư muốn bước đi,
nhưng lại từ khước không cho em năng lực. Cậy nhờ công nghiệp thánh Clara, cha
mẹ em hiến dâng em cho Thánh nữ. Theo lời họ muốn cho em bé làm con Thánh nữ,
nếu em được lành lặn trở lại, nhờ lời cầu bầu của Người. Lời hứa vừa dứt, người
trinh nữ Đức Kitô đă chữa lành đứa nhỏ. Thánh Clara cho đứa nhỏ, đă được hứa
dâng Người, khả năng đi lại như thường. Lập tức, cha mẹ em đưa em tới mộ Trinh
nữ dâng hiến Chúa, trong lúc em nhảy nhót tưng bừng.
58.
Một bà kia ở thị trấn Mevanio(62), tên là Pleneria đă từ lâu bị đau
quặn nơi hông, phải chống gậy mới đi được. Tuy nhiên, dẫu có gậy trong tay bà
cũng không thể nào rướn cho thẳng cái thân c̣ng, và cần phải cố gắng lắm mới lảo
đảo bước đi đôi chút. Vào một ngày thứ sáu, bà nhờ người dẫn tới mộ thánh Clara
miệng không ngớt thành khẩn kêu xin. Điều bà tin tưởng nài xin đă được chấp
thuận. Ngày hôm sau, thứ bảy, bà đă hoàn toàn b́nh phục và một ḿnh đi về nhà,
trong khi trước đó bà phải cậy nhờ người khác đưa tới.
Chữa
khỏi bướu ở cổ.
Một em bé gái ở
Perusio đă từ lâu bị bệnh bướu nơi cổ, thông thường gọi là bệnh tràng nhạc.
Người ta đếm được hai mươi hạch nơi cổ, đến nỗi cổ đứa bé trông lớn hơn cả đầu.
Đă nhiều lần bà mẹ dẫn em tới mộ thánh Clara, thành khẩn cầu xin Người ban ơn.
Lần kia khi em nằm phủ phục trước mộ Thánh nữ suốt đêm dài, mồ hôi toát ra và
tràng nhạc bắt đầu xóp xuống rồi từ từ nhăn nhíu lại. Nhờ công nghiệp của thánh
Clara, tràng nhạc hoàn toàn biến mất với thời gian, đến nỗi không c̣n để lại dấu
vết nữa.
59.
Hồi sinh thời thánh nữ Clara, một nữ tu tên là Andrea cũng mắc phải chứng đau cổ
họng như vậy. Lạ lùng thay, giữa những viên đá phừng phực lửa, lại lẫn lộn một
tâm hồn lạnh lẽo như băng tuyết, và giữa đám trinh nữ khôn ngoan, lại thấy có
một trinh nữ khờ dại (Mt 25: 4). Quả thế, một đêm kia, nữ tu ấy đă bóp cổ đến
nghẹt thở v́ muốn làm cho hạch nơi cổ bật ra ngoài miệng. Vậy là nữ tu ấy đă
muốn tự ư vượt qua thánh ư Chúa. Trong trí Clara đă thấu suốt sự việc, Người bảo
một nữ tu : “Con chạy thật nhanh xuống nhà dưới và cho chị Andrêa Ferraria nuốt
một quả trứng nóng, rồi cùng chị lên đây với mẹ.” Nữ tu vội vă chạy đi, thấy chị
Andrêa không c̣n nói được nữa và sắp chết nghẹt do tay chị gây ra. Nữ tu cố gắng
nâng chị Andrêa dậy, d́u tới mẹ Bề trên. Người nữ t́ Thiên Chúa liền quở : “Khốn
nạn cho con, hăy thú nhận ư định của con trước mặt Chúa, mẹ đây, mẹ đă biết tỏ
tường rồi. Này Chúa Kitô sẽ chữa cho con khỏi tật bệnh mà con đă muốn tự chữa
lấy. Nhưng con hăy cải thiện đời sống, v́ con sẽ mắc chứng bệnh khác mà không
qua khỏi được. Nghe những lời đó, chị Andrêa được Chúa soi sáng ăn năn hối cải
và chị đă xuất sắc cải thiện đời sống. Sau đó ít lâu, được khỏi bệnh tràng nhạc,
chị qua đời v́ một căn bệnh khác.
Giải
thoát khỏi miệng sói dữ.
60.
Quanh vùng thường bị sói dữ quấy phá. Chúng tấn công và ăn thịt cả người nữa.
Một bà tên là Bôna, ở miền núi Montê Gallianô (63) thuộc giáo phận
Assisi, có hai người con trai. Bà chưa ngớt khóc than đứa này bị sói tha đi, th́
lại phải khóc than đứa kia cũng bị nạn sói dữ như vậy. Quả thế, lúc bà mẹ đang ở
trong nhà, lo việc nội trợ, th́ đứa con chạy chơi bên ngoài bị một con sói ngoạm
cổ tha vào rừng. Sói chạy hết sức nhanh, mang theo con mồi. Dân chúng làm việc ở
các vườn nho nghe tiếng kêu thảm thiết của đứa bé, liền gọi bà mẹ, bảo rằng :
“Bà coi xem con bà ở đâu, chúng tôi vừa nghe tiếng la hét khác thường.”
Khi nhận ra là đứa nhỏ bị xói tha đi,
bà kêu trời, khóc than ầm ỹ rồi bà cầu khẩn với thánh Clara : “Thánh nữ Clara
hiển vinh, xin trả đứa con đáng thương lại cho tôi. Xin trả nó lại cho người mẹ
bất hạnh nầy. Nếu Thánh nữ không trả, tôi sẽ nhảy xuống sông tự vẫn.”
Những người lối xóm đuổi theo con sói
t́m thấy đứa nhỏ được sói bỏ lại trong rừng. Họ thấy một con chó đang liếm các
vết thương. Thoạt đầu sói ngoạm cổ đứa bé tha đi, và để tha cho dễ, nó dùng mơm
ngoạm ngang hông. Bởi lẽ nó ngoạm mạnh, nên đă để lại những vết thương nặng ở
hai chỗ này.
Được thoả măn quá ḷng mong ước, bà
vội vàng cùng với các người lối xóm chạy tới vị ân nhân. Bà chỉ các vết thương
cho những ai muốn xem biết, rồi dâng lên Chúa và thánh Clara nhiều lời cảm tạ,
đội ơn.
61.
Một bé gái ở thị trấn Cannara(64) đang ngồi ở ruộng lúa giữa ban ngày
và có bà kia gối đầu vào ḷng nó. Bỗng một con sói ham ăn thịt người nhẹ nhàng
bước tới con mồi. Đứa bé đă trông thấy nhưng lại tưởng là con chó, nên chẳng sợ
hăi ǵ cả. Em cứ tiếp tục chăm chú gỡ mái tóc cho bà kia. Con vật dữ tợn liền
nhảy chồm tới, há rộng miệng ngoạm lấy mặt và tha em vào rừng, như một miếng
mồi. Tức th́, người đàn bà kinh hoảng nhảy dâïy và sực nhớ tới thánh Clara, bà
ta la lên : “Thánh nữ Clara hăy cứu nó, hăy cứu nó, giờ đây tôi giao phó nó cho
Thánh nữ.” Thật lạ lùng thay! Đứa bé bị sói cắn tha đi liền mạ lị con vật : “Đồ
trộm cướp ! ta đă được gởi gắm cho một vị Thánh nữ cao cả như thế mà mày c̣n
dám tha ta đi xa hả ? Quá ngượng ngùng v́ lời xỉ vả, con vật liền nhẹ nhàng thả
em xuống đất, và như một tên trộm bị bắt quả tang nó lẹ làng lảng ra xa.
Clara
được phong thánh.
62.
Vào thời Đức Alexandrô IV nhân hậu, Đấng ưa thích thánh thiện, bảo trợ tu sĩ và
là cột trụ ḍng tu, ngự trên ngai toà thánh Phêrô, danh tiếng nhân đức của Trinh
nữ Clara càng ngày càng lan xa. Cả thế giới nóng ḷng chờ đợi một trinh nữ như
thế được phong thánh. Muôn vàn phép lạ Trinh nữ đă làm khiến Đức Giáo hoàng như
được thúc đẩy làm một việc khác thường. Ngài bắt đầu thảo luận cùng các vị Hồng
y về việc phong thánh. Công cuộc điều tra các phép lạ cũng như việc cứu xét
thành tích thánh thiện trong đời sống Clara được giao phó cho những nhân vật
quan trọng và thông thái(65). Người ta nhận thấy lúc sinh thời Clara
đă anh dũng thực hành tất cả các nhân đức và khi chết rồi Clara vẫn đáng khâm
phục qua các phép lạ đích xác và được thừa nhận.
Đến ngày đă ấn định, Hồng y đoàn kéo
tới, Hội đồng các Tổng Giám mục và Giám mục cũng hiện diện, cùng với sự tham dự
của các giáo sĩ, các tu sĩ và một số rất đông các bậc khôn ngoan, quyền thế, Đức
Giáo hoàng cho tŕnh bày nội vụ về việc phong thánh và xin hàng giáo phẩm vị
vọng tỏ bày ư kiến. Tất cả mọi người đều nhất trí Clara là Đấng đă được Chúa tôn
vinh trên trời th́ cũng cần được tôn vinh nơi dương thế.
Hai năm trôi qua kể từ ngày thánh
Clara về chầu Chúa, vài ngày sau lễ giỗ Thánh nữ, khi đă triệu tập đông đủ hàng
Giáo phẩm, bậc vị vọng cùng tất cả hàng Giáo sĩ, và khi đă đọc một bài diễn văn
Đức Giáo hoàng Alexăndrô diễm phúc, Đấng được Chúa dành cho vinh dự tấn phong
Trinh nữ, cung kính ghi danh Clara vào sổ các thánh với một vẻ cực kỳ trang
trọng. Người buộc phải mừng kính trọng thể lễ Thánh
Clara trong toàn thể Giáo hội(66).
Chính Đức Giáo hoàng là người đầu tiên đă cùng với tất cả giáo triều cử hành
thánh lễ kính Thánh nữ cách trọng thể.
Những sự việc trên đây diễn ra tại
Vương cung Thánh đường Anagni(67), 1255 năm sau ngày Chúa nhập thể và
là đệ nhất niên triều đại Giáo hoàng Alexandrô IV, để tán dương Đức Giêsu Kitô
Chúa chúng ta, Người hằng sống hằng trị cùng Đức Chúa Cha và Đức Chúa Thánh
Thần muôn đời. Amen.
LỜI
KÍNH CÁO CỦA DỊCH GIẢ
Sử liệu căn bản
liên quan tới thánh nữ Clara tương đối ít. Sở dĩ như thế một phần cũng là v́
Thánh nữ chỉ sống thầm lặng trong bốn bức tường tu viện thánh Đamianô. Xét về
giá trị lịch sử, cuốn “Truyện Thánh Clara” mà chúng tôi trích dịch ở đây là một
tài liệu quư giá, không kém ǵ Bản Luật Ḍng, Chúc Thư, các Thư và Lời Chúc lành
của Thánh nữ. Đối với những bạn đọc muốn t́m hiểu đời sống và tinh thần của
Thánh nữ và các Chị Em Nghèo Khó một cách sâu sắc, thiết tưởng c̣n phải đọc thêm
một số văn kiện của Ṭa Thánh và các văn kiện khác. Đó là văn bản về Đặc ân sống
nghèo, sắc dụ và bảng công trạng để phong thánh, thư của Đức Hồng y Hugôlin và
thư của thánh Agnès gởi Clara, thư Đức Thánh Cha Grêgôriô IX gởi các Chị Em
Nghèo Khó và thư luân lưu vào dịp Tha1nh nữ qua đời.
Trước đây có nhiều người cho rằng
thánh Bonaventura, một tu sĩ Phan sinh, tiến sĩ Giáo Hội, đă viết ra cuốn
“Truyện Thánh Clara” này. Ngày nay, căn cứ trên bức thư tựa ở đầu cuốn truyện,
người ta được biết một cách khá chắc chắn Tôma thành Cêlanô mới là tác giả. Tôma
được Đức Alexăndrô IV ủy thác cho việc ghi lại tiểu sử Thánh nữ, cũng như trước
kia, Tôma được ủy thác cho việc viết hạnh Thánh Phanxicô. Trong thư tựa, Tôma
cho ḿnh là người kém học thức, nhưng đó chỉ là kiểu nói khiêm tốn thôi. Cách
kết cấu câu chuyện, lối hành văn và sự tín nhiệm của Đức Thánh Cha chứng tỏ Tôma
là người tài năng, đức độ. Quả vậy, Tôma thường dùng điển tích, trích dẫn Thánh
Kinh và vận dụng các luận cứ thần học cao siêu, lại khéo dùng lối văn biền ngẫu,
lối đối và lối chơi chữ tuyệt vời. Ngoài ra, Tôma c̣n có khiếu làm thơ, khiến
câu văn có những tiết tấu nhịp nhàng.
Tôma đă viết Truyện Thánh Clara sau
ngày Clara được phong thánh, tức là sau ngày 15-8-1255, và đă kết thúc vào năm
1256. Đây là thời kỳ mà nhiều người đương thời Clara c̣n sống, nên Tôma có thể
căn cứ trên chứng từ của họ, để biên soạn cuốn truyện. Tôma cũng thú nhận là đă
căn cứ trên bảng công trạng và sắc dụ phong thánh, nhưng khi gặp những chỗ thiếu
sót, hay những điểm c̣n nghi ngờ, Tôma không ngần ngại t́m tới “các bạn đồng
hành thánh Phanxicô và toàn thể các trinh nữ của Chúa” ở tu viện Thánh Đamianô.
Tôma nghĩ rằng chỉ nên tin tưởng vào chứng từ của những người đă được mắt thấy
tai nghe. V́ thế, dầu Tôma không phải là chứng nhân trực tiếp, biết rành rẽ đời
sống Thánh nữ, tác phẩm của Tôma vẫn có một giá trị lịch sử cao.
Thiết tưởng cũng cần lưu ư bạn đọc về
lối viết truyện các thánh thời Trung cổ. Thời ấy người ta có thói quen nh́n ngắm
cuộc đời các thánh từ đỉnh vinh quang của các ngài. Tất cả những chi tiết ǵ có
thể làm lu mời sự thánh thiện của các ngài đều phải dè dặt và tránh né. Do đó có
những điều hoàn toàn nhân loại được các tác giả siêu việt hoá một cách dễ dàng.
Ngày nay khi xét về một con người, chúng ta thường chọn con đường ngược lại.
Chúng ta đi từ cái nhân loại tầm thường đến sự thánh thiện siêu việt... Vấn đề
là ở chỗ trong hai lối viết truyện ấy, lối nào đứng đắn và khách quan hơn ?
Truyện Thánh Clara đă được khai triển
từ bảng công trạng dùng để phong thánh. Đây là một tài liệu lịch sử quí giá,
nhưng chưa toàn bích. V́ quá súc tích, bản băn không khỏi để lại một vài chi
tiết khó hiểu. Chúng tôi đơn cử một ví dụ. Khi họ ồ ạt tấn công, buộc Clara bỏ
ḍng trở về, Clara đă chạy tới bàn thờ, một tay lật khăn ra để họ hàng trông
thấy mái tóc đă cạo, tay kia bám lấy khăn bàn thờ. Độc giả có thể ngạc nhiên
không hiểu về hai cử chỉ trên đây của Thánh nữ có ư nghĩa ǵ. Tôma đă không giải
thích ngay là vào thời Trung cổ, hễ đă cầm lấy khăn bàn thờ mà tuyên thệ và đă
xuống tóc đi tu là thuộc về Chúa rồi, không ai được phạm tới người đó nữa. Kẻ
nào bất tuân sẽ mắc vạ tuyệt thông ngay tức khắc.
Bản dịch của chúng tôi căn cứ trên
bản cảo 338, tàng trữ tại thư viện thành Assisi, được F. Pennachi hiệu đính và
ấn hành năm 1910 tại Assisi, và mới đây được nhà xuất bản La Editorial Catolica,
S.A tái bản năm 1970 tại Madrid.
V́ ư thức được giá trị lịch sử của
cuốn truyện, chúng tôi đă cố gắng dịch sát nguyên văn, không dám thêm bớt ǵ. V́
lư do ấy, bản dịch có nhiều chỗ không được thông suốt, đôi khi lời văn c̣n khó
hiểu, chúng tôi xin độc giả luợng t́nh khoan dung.
Sau hết, để rộng đường nghiên cứu,
độc giả có thể xem thêm các tác phẩm có sẵn do Lm Nguyễn hồng Giáo sáng tác
chuyển ư, trích dịch: Thánh Clara thành Assisi; Bút tích Thánh Clara; Tinh thần
Thánh Clara. Các tác phẩm này liên quan mật thiết tới đời sống và tinh thần
thánh Clara và của các Chị em Nghèo khó.
Ước ǵ cố gắng bé mọn của chúng tôi
trong việc trích dịch Truyện Thánh Clara đóng góp được phần nào vào việc t́m
hiểu của những ai yêu mến Đấng Thánh lập Ḍng, và nhất là của các Chị em Ḍng
Kín Thánh Clara tại Việt nam.
Các dịch giả
Phần chú
thích :
(1) Đức Giáo
Hoàng Alêxandrô IV cai quản Giáo Hội từ năm 1254- 1261; làm Hồng Y bảo trợ Ḍng
Anh Em Hèn Mọn từ năm 1227 và Ḍng Nữ Đan sĩ Thánh Clara từ năm 1248.
(2) ám chỉ thánh Phanxicô, thánh Đôminicô và các tu sĩ hai ḍng ấy.
(3) Bạn đồng hành, trước hết phải kể “ba người bạn” của thánh Phanxicô là anh
Lêô, mất 1271, anh Angêlô, mất năm 1258, anh Rufinô, mất năm 1270. Ngoài ra c̣n
có anh Juniphêrô, mất năm 1258, anh Mác-cô, linh mục trụ tŕ nguyện đường thánh
Đamianô. Ba anh Lêô, Angêlô và Mác-cô là ủy viên ban điều tra phong thánh Clara.
(4) Tôma thành Cêlanô là người đầu tiên viết tiểu sử thánh Phanxicô. Vào ḍng
năm 1215, là một tu sĩ hèn mọn có tài và học thức. Kể từ năm 1221, Tôma đi giảng
tại Đức. Năm 1228 có mặt tại Assisi, tham dự lễ phong thánh Phanxicô. Đức
Grêgôriô IX và Tu nghị 1244 đă truyền cho Tôma chép tiểu sử Cha Thánh làm thành
hai bộ. Năm 1255, Đức Alêxăndrô IV cũng truyền cho Ngài chép Truyện Thánh
Clara. Tôma qua đời khoảng năm 1260.
(5) Clara có nghĩa là “trong sáng”.
(6) Clara không xuất thân từ ḍng dơi bá tước Scifi, như người ta thường lầm
tưởng. Gia đ́nh quí phái, giàu sang mà không có chức bá tước. Thân phụ là
Favarônê và tổ phụ là Offrêđucciô. Chủ gia đ́nh là ông bác Monalđô. Gia đ́nh
sinh sống tại Assisi, cạnh công trường thánh Rufinô.
(7) Ortulana có nghĩa là “người làm vườn”.
(8) Tức là hai thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô.
(9) Theo Z.Lazzeri, Clara sinh năm 1193, vào ḍng năm 1211, giữ chức vụ Bề Trên
năm 1214, sống trong ḍng 42 năm, 4 tháng, 14 ngày. Tuy nhiên một vài học giả
nhận thấy phải sửa đổi phần nào niên biểu này. Xem L.Hardick trong Zur
Chronologie im Leben der hl. Klara đăng trên Franz Stud 25 (1953) 174-210.
(10) Giếng Rửa tội này hiện nay vẫn c̣n tại Vương Cung Thánh Đường Rufinô. Mười
hai hoặc 13 năm trước đó, thánh Phanxicô cũng chịu Phép Rửa tội tại đây. (11)
Vào thời Trung cổ, khi lần chuỗi thường chỉ đọc kinh Lạy Cha, do đó có “chuỗi
Lạy Cha”.
(12) Theo lời chứng của Raniêri đi Bernarđô và Piêtrô đi Bernarđô trong hồ sơ
phong thánh.
(13) Clara thường đến đây với nữ tu Bona di Guelfucciô. C̣n Phanxicô, Người
thường đến đây với anh Philiphê Longô.
(14) Nhà thờ Thánh Nữ Maria Portiuncula ở cách Vương Cung Thánh Đường Thánh
Phanxicô độ hai cây số về hướng tây nam. Hiện nay Vương Cung Thánh Đường Thánh
Nữ Maria Các Thiên Thần bao phủ lên ngôi nhà thờ cũ.
(15) Clara chỉ lưu lại vài ngày tại thánh đường thánh Phaolô, sau đó Người sang
ở tại tu viện Thiên thần Pansô, cách Assisi lối ba cây số về hướng đông nam.
(16) Cách Assisi độ một cây số về phía nam và nằm trên sườn núi. Thánh dường nầy
không thuộc quyền sở hữu của các nữ tu Biển-đức ở núi Subasiô, nhưng thuộc quyền
Đức Giám mục Assisi và được Đức Giám mục ban cho Phanxicô, một phần v́ Phanxicô
đă có công tu bổ thánh đường.
(17) Phanxicô và Clara đă làm cho phong trào tu tŕ trong giới phụ nữ bành
trướng mạnh mẽ. Xem thêm 1 Cel 31, 36, 37, và H.Grundmann trong Religiose
Bewegungen im Mittelalter, Berlin, 1935.
(18) Chắc chắn là Celano nghĩ tới hai nàng công chúa, Á thánh Agnès thành Prag
(qua đời năm 1282) và Á thánh Salomea thành Cracau (qua đời năm 1268). Ngoài ra,
tác giả c̣n nghĩ tới Á thánh Helena Enselmini (qua đời năm 1242) và Á thánh
Philippa Mareri (qua đời năm 1236); cả hai đều xuất thân từ ḍng dơi quí phái.
(19) Câu chuyện xảy ra vào khoảng đầu năm 1215. Clara từ chối danh hiệu “Đan
viện mẫu” v́ khiêm tốn và nhất là Người không muốn đồng hoá với Nữ tu Biển-đức.
Tuy thế, Clara đă tuân theo quyết định của Công đồng Lateran IV (năm 1215) buộc
các ḍng tu từ nay về sau phải dựa trên những luật ḍng có sẵn, không được ban
hành luật mới. Do đó, cộng đoàn nữ tu ở San Damianô tuân giữ Luật Ḍng
Biển-đức, và Clara đành phải nhận danh hiệu “Đan viện mẫu” (abbesse).
(20) Sở dĩ tu viện thánh Đamianô được ví như một tổ chim v́ nằm ngay ở sườn núi.
Tu viện này nhỏ bé, rất phù hợp với quan niệm nghèo khó của Clara.
(21) Đức Innôcentiô III lên ngôi Giáo hoàng năm 1198, tạ thế năm 1216. Người là
vị Giáo hoàng danh tiếng nhất thời Trung cổ. Dưới triều đại Người, xuất hiện hai
ḍng hành khất quan trọng là ḍng Đa-minh và Phan sinh, và ḍng nữ đan sĩ thánh
Clara. (22) Đặc ân sống nghèo được ban ra gi74a khoảng thời gian nhóm họp Công
đồng Lateran IV và ngày Đức Innocentiô III tạ thế. Đức Grêgôriô IX đă tái xác
nhận đặc ân này ngày 17 - 9 -1228.
(23) Đức Giáo hoàng Grêgôriô IX xuất thân là một bá tước. Được đặt làm Hồng y
Giám mục Giáo phận Ostia và Velletri năm 1206. Từ năm 1218 - 1219, Người là Bề
trên chính thức của các đan sĩ thánh Clara. Năm 1220 - 1221, Người trở thành vị
Hồng y bảo trợ đầu tiên của Ḍng Anh em Hèn mọn. Năm 1227, lên ngôi Giáo hoàng.
Năm 1241, Người từ trần. Người tin tưởng mạnh mẽ vào thánh Phanxicô và thánh
Clara.
(24) Tên của nữ tu này là Agnès di Oportulo.
(25) Từ 1224 trở về sau, Clara thường hay đau ốm. Thời gian đau ốm kéo dài
khoảng 28 năm.
(26) Mùa Chay cả kéo dài từ Chúa nhật thứ ba trước Lễ Tro tới Lễ Phục Sinh. Mùa
Chay thánh Martinô kéo dài từ lễ Các Thánh Nam Nữ đến Lễ Giáng Sinh.
(27) Cuộc tấn công xảy ra vào một ngày thứ Sáu, tháng chín năm 1240.
(28) Nhiều bức họa thường tŕnh bày h́nh ảnh của Clara cầm chén Ḿnh Thánh
Chúa. Theo nữ tu Francesca da Col di Mezzo, người đă chứng kiến sự hiện này, th́
chính vị linh mục trụ tŕ ở đây đă rước Ḿnh Thánh Chúa tới cửa. Và cửa đây
không phải là cửa ở pḥng khách, nhưng là cửa ở gần pḥng ăn. Quân Hồi giáo đă
tấn công vào mặt này.
(29) Biến cố này xảy ra ngày 22.6.1241. Để tỏ ḷng biết ơn hằng năm, vào ngày
này, có cuộc rước kiệu trọng thể từ Assisi đến San Damianô. Tục lệ này bị gián
đoạn năm 1860; đến 1924 được tiếp tục giữ lại.
(30) Đó là thánh Agnès thành Assisi. Để biết thêm về tiểu sử thánh Agnès thành
Assisi, xin đọc các số 43, 48 trong sách này; đồng thời đọc thêm các tài liệu
sau đây : Thư Agnès gởi chị Clara; Thư IV gởi thánh Agnès thành Prag; Thư Hồng y
Hugolin gởi Clara, và Tiểu sử thánh nữ Agnès trong Analecta Franciscana III,
173, 182.
(31) Nhà thờ thánh Phanxicô tại Gubiô hiện c̣n tàng trữ một chiếc khăn thánh
thế kỷ 13. Có người bảo chiếc khăn đó do Clara làm.
(32) Nhà thờ thánh Phanxicô cách xa San Đamianô chừng 2 cây số nên ở đó có thể
nghe được tiếng chuông nhà thờ, nhưng không thể nào nghe được tiếng đại phong
cầm. Căn cứ trên sự kiện này, Đức Piô XII đặt thánh Clara làm Quan thầy Vô
tuyến truyền h́nh. Acta Ordinis minorum 77 (1958), trang 244 và kế tiếp.
(33) Thời Trung cổ và sau này, người ta cung kính chẳng những Năm dấu đanh được
ghi trong Thánh Kinh mà c̣n cung kính 13 hoặc 15 dấu đanh nữa. Nhà thuyết giáo
Brugman (tạ thế năm 1473) từng ghi lại tên 13 dấu đanh ấy.
(34) Pêrusiô là một thị trấn cách xa Assisi chừng 18 cây số về hướng tây.
(35) Bà Ortulana vào Ḍng tại San Damianô, khoảng 1226, trước cô con gái thứ ba
là Béatrice. Bà đă sống thánh thiện và qua đời trước năm 1238.
(36) Philipphê thành Adria tức là anh Philipphê Longô. Chữ Adria ở đây do chữ
Atria viết lầm ra. Philipphê là người bạn đồng hành thứ 7 của thánh Phanxicô từ
1219 đến 1220, và là vị kinh lược các đan sĩ Ḍng thánh Clara từ 1228 đến 1248.
Archivum Franciscanum Historicum 15 (1922) 75-81. Biến cố này xảy ra vào năm
1232 hoặc 1233, tuần thứ hai sau Lễ Phục Sinh.
(37) Đức Grêgôriô IX đă ban Sắc dụ “Quo elongati” ngày 28/9/1230 cấm nhặt điều
này. Vị Tổng Phục vụ hồi đó là Gioan Parenti (1227-1232).
(38) Ở điểm này có 2 bản chép tay ghi lại 2 chương trích trong cuốn “Actus
Béati Francisci et Sosiorum ejus”; chương I mang tựa đề “Thánh Phanxicô và thánh
Clara đă dùng cơm chung rồi ngất trí” (Sách Tiểu kỳ hoa, chương 15); chương II
tựa đề “Thánh Clara vâng lệnh Đức Giáo hoàng làm phép bánh trên bàn, khiến Thánh
giá hiện h́nh trên mỗi chiếc bánh” (Sách Tiểu kỳ hoa, chương 33). Hai chuyện này
chắc chắn mới được thêm vào sau và đă có trong sách Tiểu kỳ hoa, nên khỏi cần
trích dẫn 2 chương ấy.
(39) Đức Innôcentiô IV là một Bá tước được bầu làm Giáo hoàng ngày 25-6-1243 và
qua đời ngày 7-12-1274. Ngài là một nhà Giáo Luật xuất sắc, một nhà ngoại giao
lanh lợi khó lung lạc và cương quyết. Tuy nhiên ḷng đạo đức sốt mến không bằng
Đức Grêgôriô IX. Ngài đối xử tận t́nh với Clara và Ḍng của Thánh nữ.
(40) Đức Innôcentiô IV lưu lại Lyon từ tháng 12-1244 đến tháng 4-1251, sau đó
trở về nước Ư, được tiếp đón long trọng tại Pêrusiô ngày 5-11-1251. Ngài ở lại
đây cho đến cuối tháng 4-1253.
(41) Theo lời chị Francesca da Col di Mezzô, Clara lâm bệnh nặng đến nỗi chị em
tưởng Ngài sẽ chết ngày 11-11-1250.
(42) Đây là Đức Hồng y Raynald, sau này là Đức Giáo hoàng Alexander IV
(1254-1261), kế vị Đức Innôcentiô IV.
(43) Sự kiện Luật Ḍng được nói ở đây có thể chứng minh rơ ràng qua Sắc dụ phê
chuẩn “Solet annuere” ngày 9-8-1253, trong đó có ghi trọn văn thư chấp thuận
“Quia Vos” của Hồng y Raynald. Theo Pennachi, th́ Đức Hồng y đă viếng thăm San
Damiano vào ngày 8-9-1252. Chắc chắn là Luật Ḍng Thánh Clara và đặc ân sống
nghèo được phê chuẩn lần thứ I ngày 16-9-1252 tại Pêrusiô qua văn thư “Quia Vos”
của Hồng y Raynald nhân danh Đức Giáo hoàng. Xem Wadding năm 1252 q. XIX)
(44) Đoạn này cho thấy Đức Innôcentiô chỉ đến thăm thánh Clara một lần. Một vài
học giả căn cứ trên lời chứng của anh Nicôla thành Carbiô, một tu sĩ hèn mọn,
vừa là tuyên úy và tiểu sử gia của Đức Giáo hoàng vừa là Giám mục thành Assisi
năm 1250, đă khẳng định là Đức Innôcentiô đến thăm Clara hai lần. Lần đầu vào
đầu tháng 5 và lần thứ hai vào đầu tháng 8 năm 1253, trước lúc Clara qua đời
(E.Grau và L.Hardick).
(45) Theo E.Grau, Đức Innôcentiô lúc viếng thăm Clara lần chót đă vĩnh viễn phê
chuẩn Luật Ḍng Thánh Clara. Trên giường bệnh, Clara nhận được lời hứa phê
chuẩn. Ngày 9-8-1253, Sắc Dụ được soạn thảo xong, và ngày 10-8-1253, một ngày
trước khi từ trần, Clara đă nhận được Sắc Dụ như ḷng mong ước (E.Grau trong bài
“Die papstliche Bestatigung. “ FranzStud 35 (1953) 317-323.
(46) Từ năm 1228-1229 về sau, Agnès không ở tại tu viện San Damianô nữa. Người
giữ chức Bề trên tại tu viện Monticelli gần thành Florencia. Năm 1253, lúc Clara
sắp từ trần, Agnès mới được mời về San Damianô.
(47) Theo các nhà viết tiểu sử cận đại th́ Raynaldô là vị Linh hướng của
Clara.
(48) Juniphêrô là bạn đồng hành của Phanxicô. Anh nổi danh v́ tính đơn sơ và
kiên nhẫn. Xin đọc thêm tiểu sử của anh trong sách Tiểu kỳ hoa và sách Gương
trọn lành (Speculum perfectionis, đoạn 85).
(49) Angelo Tancredi vốn là 1 hiệp sĩ lúc c̣n ở thế gian; anh là một trong số
11 bạn đồng hành của thánh Phanxicô.
(50) Anh Lêô là thư kư và là linh mục giải tội của Phanxicô. Tiểu sử của anh
được ghi lại trong I Cel 102; II Cel 49; 50 gương trọn lành, chương 85.
(51) Chị Benvenuta di Diambra đă được may mắn thị kiến. Theo lời chị, thị kiến
xảy ra chiều ngày 8-8-1253.
(52) Khi đó Đức Innocentiô và quần thần có mặt tại Assisi, chuẩn bị mừng lễ
thánh Ruffinô, Quan thầy của thành phố Assisi, 11 tháng 8.
(53) Trước kia, dân thành Assisi đă khôn ngoan rước thi hài thánh Phanxicô từ
Portiuncula về Assisi một ngày sau lúc Thánh nhân qua đời. Hồi đó, những vụ đánh
cướp thi hài các thánh không phải là chuyện hiếm.
(54) Các nhà chức trách Assisi muốn an táng Clara tại thánh đường San Giorgio,
nơi đă an táng thánh Phanxicô. Thánh đường S.Giorgio hồi đó nay là tu viện thánh
Clara.
(55) Theo Wadding, Agnès chết ngày 16 tháng 11 năm 1253; tức là 97 ngày sau khi
Clara qua đời. C̣n theo học giả Lazzeri, th́ Agnès chết ngày 27 tháng 8 năm
1253; và như thế, đúng với điều ghi trong tiểu sử này, “vài ngày sau đó”.
(56) Đây là ngôi mộ tạm thời của Thánh nữ. Di hài Thánh nữ sẽ được vĩnh di về
Thánh đường S.Chiara ngày 3 tháng 10 năm 1260.
(57) Một thị trấn nhỏ cách Assisi độ 8 cây số về hướng đông nam.
(58) Thành phố bên bờ sông Nera, cách Terni độ 11 cây số về hướng nam.
(59) Bettora nay là một ngôi làng cách Assisi độ 12 cây số về hướng nam.
(60) Lănh địa này nằm gần Bettora. Nay không c̣n vết tích ǵ nữa.
(61) Thành phố cách Assisi chừng 30 cây số về hướng nam.
(62) Mevanio là một thị trấn nhỏ cách Assisi 14 cây số về hướng nam.
(63) Có lẽ là Monte Galgano, cách Assisi 10 cây số về hướng nam.
(64) Thành phố Cannara cách Assisi 8 cây số về hướng nam.
(65) Từ ngày 18/10/1253, qua Sắc dụ “Gloriosus Deus”, Đức Innocentiô đă ủy
thác cho Giám mục Bartôlômêô thành Spôlêtô điều tra đời sống và các phép lạ
thánh Clara. Kết quả Clara được phong thánh.
(66) Ngày 11/8 là ngày Clara qua đời. Ngày này lại trùng vào ngày lễ Thánh
Ruffinô, quan thày của Assisi, nên Đức Giáo hoàng đă quyết định mừng lễ Thánh
Clara vào ngày 12/8. Nay Giáo hội lấy lại ngày cũ, tức ngày 11/8.
(67) Đức Giáo hoàng Alexander IV lúc đó lưu tại Anagni, một thành phố cách La Mă
60 cây số về hướng đông nam và là quê hương của Người. Ngày 15/8/1255 Người đă
long trọng ghi tên Clara vào sổ các thánh. Lazzeri: De die canonisationis
beataeClarae, trong Arch Franc Hist 11 (1918), 276-278.
|