|
Trong Số Này:
|
|
|
Khoảng Cách
Thưa quí anh chị,
Mỗi khi cái lạnh rét da báo hiệu mùa Đông đang đến lại nhắc nhở chúng ta dọn lòng kính nhớ, suy niệm, và đón mừng Mầu Nhiệm Ngôi Hai Nhập Thể; một mầu nhiệm được lồng trong Thánh Gia Thất đơn sơ, khiêm hạ, nghèo hèn; và là cơ hội để chúng ta suy tư về ‘sự giàu-nghèo’ của Ba Đấng trong Gia Đình Thánh.
Theo Thánh Kinh Tân Ước kể lại, Thánh Giuse tất tả ngược xuôi chạy tìm chỗ trọ. Ngài đã vất vả lo lắng khi không tìm được chỗ trú chân cho cả gia đình. Mẹ Maria thì mệt lã ngồi lặng lẽ trên lưng lừa vì đường xa, và vì sắp sinh con. Mẹ rất đau lòng khi Con Thiên Chúa, cũng là con dấu ái của Mẹ phải sinh ra giữa đồng hoang cô quạnh, phải nhờ hang đá che chắn tuyết sương, nhờ những cọng rơm khô và bò lừa truyền cho chút hơi ấm… Còn Chúa Hài Nhi nằm trong máng cỏ hôi hám ẩm thấp cho thấy sự nghèo hèn tuyệt đối, khiêm tốn thẳm sâu của Người. Cả Ba Đấng mong chờ một ánh mắt cảm thông, một gật đầu thương hại, nhưng cuối cùng cũng phải thất vọng dắt dìu nhau ra đồng hoang trú ngụ, phải để cho Thiên Chúa, Đấng Chí Thánh Chí Tôn chào đời trong hang đá giữa đêm đông lạnh giá vì tuyết sương, và lạnh lẽo vì lòng dạ vô tâm như băng tuyết của con người.
Chúa đến trần gian vì yêu chúng ta, để giao hoà giữa trời và đất, để nối lại mối tình mà con người đã đánh mất từ khi rời khỏi địa đàng. Chúa đến để đem lại bình an và hạnh phúc cho con người, để người và người biết yêu nhau hơn. Chúa đến để xóa bỏ giai cấp khi Người tỏ mình ra cho những Mục Đồng và các nhà Chiêm Tinh. Mục đồng và Chiêm tinh là hai hình ảnh tương phản rõ rệt. Kẻ thì nghèo xơ xác, kém văn hoá, người thì giàu sang, trí thức. Nhưng họ có cùng một mục đích, một cái nhìn, một cách thể hiện tình yêu giống nhau là quyết tâm đi tìm kiếm Chúa, cùng khao khát ước mong được gặp Chúa, và đến với Chúa bằng thành tâm, thiện ý. Các mục đồng đã ra đi không chút do dự, đi hối hả, bất chấp đêm khuya, bất chấp thời tiết (Lc 2,16) Các nhà chiêm tinh cũng không ngại đường xá xa xôi vất vả để được nhìn ngắm, thờ lạy Thiên Chúa Làm Người. (Lc 2,1,12).
Ngày ấy và ngày nay cách nhau hơn hai ngàn năm, với ngần ấy thời gian, với cuộc sống có muôn vàn thay đổi. Từ lạc hậu đến văn minh, từ việc đi lừa cỡi ngựa, cho đến việc vượt qua đại dương, lên tới trăng sao. Thế nhưng khoảng cách giữa giàu và nghèo vẫn còn đó, vẫn như vực thẳm chia cắt tình người, dù khoảng cách ấy không đầy một tầm tay với. Chỉ cần một cái nhìn thân thương, một nụ cười trìu mến, một cái xiết tay chân tình, một lời nói cảm thông, một hòa nhịp của con tim cũng đã đủ.
Thử đặt mình vào vị trí của một người giàu có ở thời ấy tại Bêlem thì chúng ta sẽ đối xử thế nào khi có người gõ cửa xin tá túc qua đêm, xin chén cơm thừa, xin ly nước cặn? Liệu chúng ta có biết mở lòng đón nhận, chia sẻ với những người kém may mắn không? Hay cũng nhẫn tâm đuổi xua, chối từ. Và hôm nay, khi sống giữa thành phố hoa lệ, văn minh hiện đại, vật chất thường ngự trị ở một vị trí cao trong tâm hồn, thường làm chủ, hay điều khiển cả lương tri con người, làm cho con người lãng quên Thiên Chúa.
Ngày xưa, Con Thiên Chúa bị xua đuổi vì sự vô tâm. Ngày nay Thiên Chúa vẫn bị hất hủi bởi trái tim của con người không mở ngõ. Ngày xưa Con Thiên Chúa chào đời trong cô đơn lạnh lẽo. Ngày nay Con Thiên Chúa vẫn lang thang giữa đời để tìm chút tình thương bởi khoảng cách nghèo giàu vẫn còn đó. Tại sao vậy? Tại sao giữa người và người lại vô tâm đến độ không hề nhìn thấy nổi khổ của nhau? Tại sao lại nhẫn tâm lắc đầu chối từ, xua đuổi anh em mình trong lúc hoạn nạn? Những cái lắc đầu này có đồng nghĩa với sự ác tâm không nhỉ?
Thật vậy, ngay hôm nay, việc cần phải làm là hãy nhìn vào tấm gương của Thiên Chúa Hài Nhi Giêsu, là Đấng không phân biệt "mục đồng” hay “chiêm tinh", là Đấng muốn xóa bỏ khoảng cách giữa giàu và nghèo. Hãy nắm tay nhau và cùng bước đi, cùng tìm về hang đá mà thờ lạy Chúa… Và như thế, Thánh Gia Thất sẽ không bị xua đuổi, Đức Thánh Nhi Giêsu sẽ âu yếm nhìn anh em của Người với nụ cười hạnh phúc.
BBT
|

Trở về mục lục >>
|
|
|
|
Không Một Ai Biết Giờ
(Mátthêu 24, 37-44 – CN I MV - A )
24:37 "Quả thế, thời ông Nô-ê thế nào, thì cuộc quang lâm của Con Người cũng sẽ như vậy. 24:38 Vì trong những ngày trước nạn hồng thuỷ, thiên hạ vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng, mãi cho đến ngày ông Nô-ê vào tàu. 24:39 Họ không hay biết gì, cho đến khi nạn hồng thuỷ ập tới cuốn đi hết thảy. Cuộc quang lâm của Con Người cũng sẽ như vậy. 24:40 Bấy giờ, hai người đàn ông đang làm ruộng, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại; 24:41 hai người đàn bà đang kéo cối xay, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại. 24:42 "Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến. 24:43 Anh em hãy biết điều này: nếu chủ nhà biết vào canh nào kẻ trộm sẽ đến, hẳn ông đã thức, không để nó khoét vách nhà mình đâu. 24:44 Cho nên anh em cũng vậy, anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến.
1.- Ngữ cảnh
Khối diễn từ cuối cùng gồm trọn chương 23, "Những lời nguyền rủa người Phariêu", trước đây vẫn được coi như tách biệt, và phân đoạn 24,1–25,46, “Diễn từ cánh chung”: Cả khối từ câu 23,1 đến câu 25,46 làm thành bài diễn từ duy nhất có chức năng nhắc nhở những người trong nhà sống một đời sống trung thực với những hành vi, công bình, nhân ái, dưới ánh sáng của cuộc chiến thắng cánh chung của Thiên Chúa và cuộc phán xét đang đến. Bài Tin Mừng Mt 24,37-44 nằm trong khối diễn từ cuối cùng này.
Phụng vụ cho đọc từ c. 37, nhưng có lẽ nên đọc bản văn ngay từ câu 36, vì: 1) Tư tưởng của câu 36 này được trình bày trong các câu 37-44; 2) Hai từ ngữ "ngày và giờ" trong c. 36 được nhắc lại trong cc. 42 và 44 làm thành một lối hành văn “đóng khung”, khiến cả phân đoạn 24,36-44 thành một đơn vị thống nhất. Các nhà chú giải thường cắt phân đoạn ở c. 36 thay vì ở c. 37 như trong bản văn Phụng vụ.
2.- Bố cục
Bản văn có thể được chia ra làm ba phần:
1) Bài học thời Nôê (24,37-39), với công thức "cuộc quang lâm của Con Người cũng sẽ như vậy" ở c.37 và c.39 đóng khung đoạn văn thành một đơn vị; đơn vị này xoáy vào trọng tâm là "ngày quang lâm của Con Người";
2) Cuộc phân rẽ vào ngày quang lâm (24, 40-41): Hai câu này vừa là kết luận cho đoạn 37-39, vừa là tiền đề (và cũng là kết luận) cho lời kêu gọi và dụ ngôn ở cc. 42-44;
3) Bài học về canh thức và sẵn sàng (24,42-44), với dụ ngôn "Kẻ trộm đêm khuya", được đóng khung thành một đơn vị bằng hai công thức tương tự “ngày Chúa của anh em đến” (c. 42) và "giờ Con Người sẽ đến” (c. 44); đơn vị này xoáy vào hai từ cụ thể được tác giả Mt dùng để gọi ngày quang lâm, "ngày và giờ".
3.- Vài điểm chú giải
- thời ông Nôê (37): Kinh Thánh kể việc Nôê đóng tàu trong sách Sáng thế (6,11-13).
- quang lâm (37.39) (hl: parousía, nghĩa đen là "sự hiện diện"; p: parousie, avènement; a: coming, arrival): Trong Mt 24,29-31, Đức Giêsu cho biết rằng Ngài sẽ trở lại "uy nghi" (=với quyền lực), "vinh hiển" (=với vinh quang), "ngự giá mây trời" (=trên mây trời). Các hình ảnh đó cho hiểu Ngài sẽ trở lại trong tư cách Đấng chiến thắng. Đây là một cuộc khải hoàn.
- một người được đem đi, một người bị bỏ lại (40.41): Hai động từ của bản văn hy lạp ở thụ-động-cách paralambanetai và aphietai. Dựa theo truyền thống, có thể hiểu: sự kiện các thiên thần "tập hợp những kẻ được [Con Người] tuyển chọn” (c.31; x. Mc13,27) cho thấy paralambanetai (p: est pris; a: will be taken) có nghĩa là "được cứu thoát”, nên phải dịch là "được đem đi”, aphietai (p: est laissé; a: will be left ) có nghĩa là "bị kết án", nên phải dịch là "bị bỏ lại".
- canh thức (42) (hl: grêgoreô; p: veiller; a: be awake, be on the watch): có nghĩa là "không ngủ". Đây là thái độ Đức Giêsu yêu cầu phải có nơi những người đang trông chờ Ngài đến (x. 25,13; Mc 13,33-37; Lc 12,35-40). Sự canh thức, ở trong tình trạng "báo động”, giả thiết phải có một niềm hy vọng vững chắc và đòi hỏi tâm trí luôn sẵn sàng (đây cũng là "sự tiết độ”: 1 Tx 5,6-8; 1 Pr 5,8).
- không biết ngày nào (42): Đức Giêsu vừa khẳng định mạnh mẽ rằng Ngài sẽ lại đến, vừa nhấn mạnh rằng không ai biết được ngày giờ đó (24,36.42.44). Không ai biết và cũng không ai có thể tính toán để tìm ra ngày giờ ấy cả.
- kẻ trộm (43): Kinh Thánh dùng hình ảnh tên trộm để nói tới tính bất ngờ của ngày Chúa đến (x. 1 Tx 5,2; 2 Pr 3,10; Kh 3,3; 16,15).
- vào canh nào (43): Một đêm thường được chia thành bốn canh (hl: phylakê; p: veille; a: watch): chiều (từ khi mặt trời lặn đến 9g tối), nửa đêm (từ 9g tối đến 12g đêm), khi gà gáy (từ 12g đêm đến 3g sáng) và sáng (từ 3g sáng đến bình minh, khoảng 6g sáng).
- khoét vách (43): Nhà dân Do-thái thời Đức Giêsu thường được làm bằng đất với cành cây khô, nên kẻ trộm có thể lọt vào nhà bằng cách khoét thủng vách tường đất.
4.- Ý nghĩa của bản văn
* Bài học thời Nôê (37-39)
Những người đương thời Nôê hoàn toàn để mình bị cuốn hút vào trong cuộc sống trần thế, với những sinh hoạt cụ thể và những phương diện bề ngoài ai cũng thấy được (ăn uống, cưới vợ lấy chồng). Họ vui hưởng đời này, không muốn quan tâm đến bất cứ điều gì khác nữa. Vả lại, nạn hồng thủy chỉ được loan báo, chứ chưa xảy ra. Cũng thế, cuộc quang lâm của Chúa Giêsu cũng chỉ mới được loan báo, chứ chưa xảy ra. Tính cụ thể của các sự việc trần thế và kinh nghiệm hiện tại dường như thực hữu hơn là bản thân Đức Chúa như Ngài đã loan báo. Do đó, người ta bị hút vào hiện tại và hoàn toàn không màng đến Ngài, không nghĩ đến trách nhiệm của mình đối với Ngài. Dù sao, biến cố quan trọng ấy cũng đã được loan báo, nên chúng ta phải chịu trách nhiệm về tình trạng bản thân khi Ngài đến. Cần phải luôn canh thức và sẵn sàng.
* Cuộc phân rẽ vào ngày quang lâm (40-41)
Với hai ví dụ rút ra từ cuộc sống thường ngày, Đức Giêsu cho thấy rằng mọi người bình đẳng trong các sinh hoạt trần thế, và không một hoàn cảnh bên ngoài nào bảo đảm cho người ta có một tư cách xứng đáng cả. Về bề ngoài, không có nét nào phân biệt giữa hai người đàn ông đang làm ruộng, hoặc hai người đàn bà đang kéo cối xay. Tuy nhiên, khi Đức Giêsu quang lâm, sẽ xảy ra một cuộc phân rẽ tận căn: những ai đã sẵn sàng với Ngài thì được đón vào sống hiệp thông với Ngài, còn những người khác thì bị loại trừ. Số phận vĩnh viễn của mỗi người tùy thuộc cách thức mỗi người sống với Ngài trong thời gian này. Từ chỗ thấy rằng mọi người đều có phần công việc và lao khổ, hạnh phúc và bất hạnh, đau khổ và niềm vui, sống và chết, người ta dễ rơi vào ảo tưởng là sự vâng phục hoặc bất phục tùng đối với Thiên Chúa, sự ngay thẳng hay gian tà không hề quan trọng gì cả, là mọi sự đều như nhau, chẳng có ư nghĩa gì, bởi vì mọi sự sẽ kết thúc giống nhau cho mọi người! Đức Giêsu điều chỉnh lối suy tư sai lạc này.
* Bài học về canh thức và sẵn sàng (42-44)
Nếu chúng ta biết ngày giờ Chúa đến, hẳn là chúng ta sẽ chuẩn bị và chờ đợi. Nhưng Đức Giêsu dùng dụ ngôn kẻ trộm đêm khuya để báo cho chúng ta rằng Ngài sẽ đến thật bất ngờ, chúng ta không thể tiên liệu. Do đó, chúng ta phải luôn luôn sẵn sàng, từng giờ từng phút. Trong mỗi khoảnh khắc, chúng ta phải sống một cuộc sống phù hợp với ý muốn của Ngài và có thể lãnh trách nhiệm trước mặt Ngài. Chính vì Ngài không cho thấy tất cả ý định của Ngài mà chúng ta phải hiểu rằng chúng ta hoàn toàn lệ thuộc vào Ngài. Sự kiện lúc này Ngài còn đang ẩn mình và rất "ở yên" không được khiến chúng ta bị lừa.
+ Kết luận
Theo kinh nghiệm thông thường, người ta cho rằng chính loài người và các sức mạnh thiên nhiên qui định dòng lưu chuyển của từng số phận con người và toàn thể lịch sử nhân loại. Quan niệm này khiến người ta nghĩ rằng sự việc vẫn cứ tiếp tục như thế, trừ phi là xảy ra một tai họa trên toàn thể vũ trụ. Nhưng Đức Giêsu lại đến loan báo rằng Nước Trời đã gần kề, có nghĩa là Thiên Chúa dứt khoát quyết định bung mở quyền chúa tể của Người ra (x.4,17). Điều này sẽ được thể hiện khi Con Người đến với quyền lực và vinh quang Thiên Chúa (24,30). Khi Ngài tỏ mình ra vĩnh viễn cho hết mọi người với quyền lực thần linh của Ngài trước toàn thể thế giới, mỗi người sẽ xuất hiện ra trước mặt Ngài trong chiều hướng và giá trị đã đạt được. Với biến cố Đức Giêsu đến vĩnh viễn, mỗi người cũng sẽ đạt tới ánh sáng trong bản chất thâm sâu của mình. Mỗi người bị liên kết sâu xa với ngày Đức Giêsu trở lại, do đó phải sống trọn cuộc đời trong chiều hướng này. Và bởi vì không một ai biết chính xác ngày giờ Ngài trở lại (24,36.42.44), mỗi người cần luôn luôn sống trong tư thế sẵn sàng đón Ngài khi Ngài lại đến.
5.- Gợi ý suy niệm
1. Đức Giêsu khẳng định là không một ai có thể biết được ngày giờ Ngài trở lại trần gian và tính toán để tìm ra ngày giờ ấy. Do đó, điều hết sức hệ trọng là luôn sẵn sàng cho biến cố ấy, tức là lưu ý đến tính bất xác, tính bất khả tri và bất khả tiên liệu của ngày giờ đó, hầu tránh được lối sống mù quáng. Chúng ta vẫn đang hy vọng Ngài trở lại. Nhưng đây không phải là một nỗi niềm chờ mong khắc khoải, mà là một xác tín rằng Ngài cũng là Đấng đã đến và đang đến sống giữa chúng ta: chính Ngài đang và sẽ đưa lại ư nghĩa chân thật cho cuộc đời và vũ trụ chúng ta.
2. Vì đã được Đức Giêsu dạy là không thể tìm ra đáp án cho các câu hỏi “khi nào và cách nào", người Ki-tô hữu chỉ càng chăm chú sống y như thể ngày đó đang đến rồi. Tuy nhiên, canh thức và sẵn sàng không có nghĩa là cứ đưa mắt nhìn về trời! Lời Chúa mời gọi chúng ta hãy quan tâm đến những nhiệm vụ hằng ngày chúng ta đã và sẽ đảm nhận. Sống và làm việc đúng như Ngài đã giáo huấn chúng ta, đó là cách thức tốt nhất để đón Ngài vào ngày Ngài trở lại. Sự canh thức càng có tính thúc bách khi chúng ta không biết giờ cùng tận. Tiếng hô của bài Tin Mừng: "Anh em hãy sẵn sàng! Hãy canh thức!" phải vang lên trong tim của những người đang chờ mong cuộc gặp gỡ vĩ đại.
3. Nhìn bề ngoài, không có dấu chỉ nào giúp phân biệt người đang sống đúng thánh ư Thiên Chúa và người không sống như thế, khi mà ai nấy đều đang sống chìm vào giữa những thực tại trần gian. Do đó, chúng ta không được nhìn vào người khác để lượng định bản thân và nhất là để mình rơi vào một thứ yên tâm giả tạo. Tốt nhất là hãy nhớ lại các giáo huấn Đức Giêsu đã ban cho chúng ta, rà soát xem chúng ta đã đưa ra thực hành như thế nào. Bài Giảng trên núi trong Tin Mừng Mt chính là một cẩm nang giúp người Ki-tô hữu sống canh thức và sẵn sàng.
4. Chúng ta nhớ rằng chúng ta luôn luôn lệ thuộc vào Ngài và chúng ta luôn chịu trách nhiệm trước mặt Ngài. Đức Giêsu đến vào Ngày quang lâm không còn phải là trong tư cách Đấng Cứu thế, nhưng trong tư cách vị Thẩm Phán tối cao. Do đó, ngày Ngài đến sẽ là ngày giờ của sự thật, bởi vì sẽ là ngày giờ để trả lời (“trả lẽ”) với Ngài về những nhiệm vụ chúng ta phải chu toàn và là ngày giờ chúng ta được vén mở (=mạc khải) cho hiểu biết mọi sự.
Lm. F.X. Vũ Phan Long, ofm
|
|

Trở về mục lục >>
|
|
|
|
Tình Huynh Đệ Hiệp Thông (tt)
Luật Dòng Phan Sinh Tại Thế: Điều 24
"Hội đồng phải xử dụng những phương thế thích hợp nhất để phát triển đời sống Phan Sinh và Hội Thánh..." Đó là điều Luật Dòng dạy cho những người có trách nhiệm phải làm. Chúng ta có thể suy nghĩ về hai góc độ: Phát triển đời sống Phan Sinh và Phát triển đời sống Hội Thánh.
a) Phát triển đời sống Phan Sinh: Mỗi khi ta nói rằng huynh đệ đoàn nào đó phát triển mạnh, thì ta thường hay nghĩ đến việc huynh đệ đoàn ấy có đông thành viên, sinh hoạt rầm rộ, làm được nhiều việc bác ái xã hội... đó là những việc cần làm và phải làm. Nhưng thực ra, nói đến phát triển đời sống -theo chúng tôi nghĩ- cần để ư nhiều hơn đến tinh thần trách nhiệm, đồng trách nhiệm của các thành viên trong huynh đệ đoàn, không chỉ trong hội đồng mà thôi. Vậy, nếu một hội đồng có tinh thần trách nhiệm cao, biết vận dụng những thuận lợi khách quan (như thời tiết, khoa học kỹ thuật, hay thuận lợi do xã hội đưa đến), thì sẽ sinh ích lợi rất nhiều cho đời sống của Dòng (cả về số lượng lẫn chiều sâu) và cả cho Giáo Hội nữa. Về điểm này, chúng tôi liên tưởng đến Dòng I ở Việt Nam: Các Cha đã rất khôn khéo vận dụng những thuận lợi Chúa cho để -chẳng những vượt qua những cam go thử thách trong thời gian rất dài, mà còn phát triển đời sống của Đại Gia Đình Phan Sinh. Về Dòng Phan Sinh Tại Thế ở trong nước cũng vậy, các huynh đệ đoàn đầu tiên sau biến cố 1975, đã khéo léo khôi phục hoạt động và phát triển đời sống nội tâm cũng như tổ chức của Dòng, để đến nay bùng nổ con số Giới trẻ Phan Sinh ở Miền Bắc Việt Nam, cùng như Phan Sinh Tại Thế ở các Miền trong nước, (tuy vẫn còn những khó khăn cố hữu, chưa thoát hết được vì chưa hiểu nhau cặn kẽ.) Người viết bài này đang ở trong nội địa Việt Nam, nên không nắm vững nhiều các sinh hoạt của anh chị em ở nước ngoài, nhưng theo những thông tin trên trang nhà psttvnusa.net, thì "Vòng Tay Phan Sinh" mà các anh chị có sáng kiến thành lập, cũng là một tổ chức ưu việt để áp dụng Luật điều 24 này.
b) Phát triển đời sống Hội Thánh. Cũng vậy, Nói đến phát triển hội thánh, cũng phải nghĩ đến hai chiều kích: đời sống thiêng liêng nội tâm và việc tổ chức, việc truyền giáo. Thực ra khi người Phan Sinh sống tốt linh đạo và nghiêm túc thực thi các điều luật, thì đã là phát tiển đời sống Hội Thánh rồi. Vì như Cha Thánh hồi xưa chuyên đi rao giảng tinh thần yêu thương, kêu gọi sám hối ăn năn, linh đạo chúng ta là nước sông của nguồn suối Phanxicô. Linh đạo Phan Sinh chúng ta –theo Luật mới 1978- cũng có góp phần vào việc xã hội và truyền giáo. Qua 16 điều luật Chương II: Đời Sống Phan Sinh Tại Thế, thì chúng ta hoàn toàn có bổn phận phát triển đời sống Hội Thánh. Tại các giáo xứ ở Việt Nam, các linh mục quản xứ hiểu rất rõ rằng trong hội đoàn, hoặc đoàn thể nào có nhiều thành viên là Giới trẻ Phan Sinh, hoặc Phan Sinh Tại Thế, thì Hội đoàn, Đoàn thể ấy dễ quản và dễ linh hoạt hơn. Tại sao vậy? Thưa vì người Phan Sinh Tại Thế có lời khấn giữ Phúc Âm, có nhiệm vụ làm tông đồ, ngay vị trí “tại thế” của mình. Điều này không nói rõ đối với các thành phần phổ quát trong giáo xứ.
Điều 24 còn dạy cả việc sống hiệp thông với những anh chị em đã qua đời. Điều này chẳng có gì là lạ, vì ngay trong giáo lý đức tin, thì người Công Giáo đã có tín điều Các Thánh Thông Công. Hơn ai hết, người Phan Sinh Tại Thế hiểu rõ tình huynh đệ không chấm dứt khi cách biệt bởi sự ra đi về nhà Cha, mà trái lại, tình huynh đệ hiệp thông ấy càng gắn bó hơn khi có một anh chị em qua đời. Theo truyền thống ở Việt Nam, vào ngày 24-11 hàng năm chúng tôi xin lễ, cầu nguyện và làm các việc lành khác để cầu cho các anh chị em trong đại gia đình Phan Sinh đã qua đời. Một số huynh đệ đoàn khác có sáng kiến làm tuần tam nhật, hoặc hành hương viếng đất thánh, viếng mộ các cha, các thầy, các Xơ, viếng mộ các anh chị em Phan Sinh Tại Thế, Giới Trẻ Phan Sinh nữa. Ngoài ra có nơi tổ chức cuộc tĩnh tâm cũng vì mục đích ấy.
Phêrô Nguyễn Đức Tiến; sfo
|
|

Trở về mục lục >>
 |
|
Bài 48: Bài Ca Chiến Tháng
(Xh 15,1-20)
Sau khi vượt qua Biển Sậy, ông Mô-sê và con cái It-ra-en đã ca ngợi Gia-vê bằng một bài ca, có thể được gọi là "Bài Ca Chiến Thắng". Như vậy chúng ta có hai bản văn nói về việc dân It-ra-en vượt qua Biển Sậy: một bản văn xuôi trong chương 14 và một bài thi ca trong chương 15 này.
Bản văn xuôi đúc kết truyền thống Đa-vit và truyền thống Tư-tế, nhấn mạnh tới vai trò của cột mây và cột lửa, tới trận gió đông và việc dân It-ra-en đi qua ráo chân một vùng đất ướt trong đó quân Ai-cập lại bị chết chìm. Còn bài thi ca, tuy hiện thời nằm trong chương 15, nhưng có lẽ lâu đời hơn bài trình thuật trong chương 14. Nó trình bày sự kiện như một cuộc chiến trong đó Gia-vê xuất hiện như ‘một trang chiến binh’: "Người không cần khí giới gì cả, mà chỉ dùng hơi thở của Người tức là gió bão để chiến thắng Pha-ra-ô và đạo binh của ông một cách oai hùng." Qua chiến công này Gia-vê tỏ ra cao cả hơn các thần thánh của Ai-cập (c.11-12).
Bài thi ca chẳng những nói tới việc hiển hách Thiên-Chúa làm tại Biển Sậy mà còn nói tới việc Thiên-Chúa dẫn đưa dân Người tới "đất thiêng", tới "núi gia nghiệp", tới "đền thánh" của Người. Các thế hệ về sau thường cho rằng các kiểu nói ấy ám chỉ Giê-ru-sa-lem nơi có đền thờ của Thiên-Chúa trên núi Sion.
Lời khẳng định Gia-vê dẫn đưa Dân Người ra khỏi Ai-cập từ nay trở thành trọng tâm của mọi lời tuyên xưng đức tin. Sự kiện này sẽ được nhắc đi nhắc lại chẳng những qua mọi thời đại, mà còn trong những hoàn cảnh khác biệt nhau, khi an bình cũng như khi gặp nguy khốn. Bài thánh ca, như đã trình bày ở trên, không chỉ gợi lại một chiến công lừng lẫy của Gia-vê, mà còn nói tới việc Người "đã tậu" cho mình một dân tộc (Xh 15,16). Tiếng Do-thái ở đây (qanah) có nghĩa là "giải phóng, chuộc về". Gia-vê đã chiếm hữu It-ra-en bằng cách giải phóng nó khỏi ách nô lệ Ai-cập. Từ nay Gia-vê thường được gọi là "Đấng Cứu chuộc" của It-ra-en và It-ra-en hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của Gia-vê.
Lm. Norbert Nguyễn Văn Khanh, ofm
|
|
|

Trở về mục lục >>
|
 |
|
Mừng Đón Chúa
Lạy Cha Chí Thánh,
Hài Nhi Giêsu đã giáng trần và hoà mình trong thân phận thấp hèn để chúng con được làm anh em của Người, được hưởng hồng ân cứu độ của Người.
Dù chúng con đã từng đuổi xua Người, chối từ tình yêu của Người, đối xử tệ bạc với Người, nhưng Người vẫn bất chấp những lỗi tội của chúng con để đến với chúng con. Người đã rời bỏ ngôi vị của một Thiên Chúa ở trên thiên cung, đã lìa xa Người Cha vô vàn kính yêu để làm người nơi dương thế…
Lạy Cha, xin thứ tha những lỗi lầm chúng con đã phạm, xin ban Thánh Thần của Cha cho chúng con, giúp chúng con biết sống cho nhau, vì nhau; và biết sẻ chia những gì có thể sẻ chia… để trong đời sống thường ngày, khi Chúa đến, dù ở phương trời nào, với hình thức nào, trong nhân dáng nào, chúng con luôn nhận biết Người, mừng đón Người, và lưu giữ Người trong trái tim đơn nghèo của chúng con tựa như hang đá Bêlem mừng đón Người thủa xa xưa ấy. Amen.
Maria
|
|

Trở về mục lục >>
|
 |
|
Món Quà Dâng Chúa
Các cháu thân mến,
Mùa Giáng Sinh lại đến, người ta nô nức mua sắm quà cho nhau, gói những món quà trong những tờ giấy màu bóng loáng với những dây buộc ngũ sắc đẹp mắt, rồi để chúng dưới gốc cây thông có đèn chớp sáng hòa lẫn với nhiều tiếng nhạc êm tai… làm cho căn nhà của các cháu trở nên ấm cúng hơn những ngày bình thường. Còn các cháu thì mong chờ đêm Giáng Sinh đến sớm để được nhận những món quà của những người thân trao tặng với những tấm thiệp có lời chúc mừng đầy quí mến yêu thương. Ngày nay, Giáng Sinh đã trở thành một ngày lễ cho tất cả mọi người trên thế giới, không kể tôn giáo nào, khiến cho chúng ta có chút hãnh diện khi được làm con Chúa phải không các cháu?
Các cháu thân mến của cô.
Chắc chắn các cháu đều biết ngày Giáng Sinh là ngày gì rồi? Là ngày Chúa sinh ra trong hang đá bò lừa, ngày giao hoà giữa đất và trời, ngày Thiên Chúa cho con người thấy tình yêu sâu thẳm của Ngài. Nhưng thật là tội nghiệp Chúa, hầu như mọi người đã từ từ biến ngày sinh nhật của Chúa Giêsu trở thành ngày chúc mừng của gia đình, tiệc tùng với bạn bè chứ ít ai còn nghĩ đến ngày hôm đó, ngày 24/12 sẽ tìm một món quà để dâng tặng, hay có vài lời chúc mừng Chúa Hài Đồng Giêsu đang nằm trong hang đá lạnh lẽo mong chờ chúng ta đến chia sẻ với Người, dù Người luôn xem chúng ta là con cái, là bạn hữu, là anh em của Người; để chúng ta cùng được thừa hưởng một gia tài phong phú đầy yêu thương và hạnh phúc với Người.
Ngày sinh nhật của Chúa Hài Đồng chúng ta không thể sống như những người chưa biết Người. Mỗi khi nhận quà của người thân, các cháu phải tìm một món quà nào đó để dâng cho Người. Quà cho Chúa không mất tiền mua, cô giúp các cháu nha: bình thường cháu rất muốn chơi game sau giờ cơm chiều, hôm nay các cháu không chơi, lấy thời gian đó giúp mẹ lau bàn, xếp lại đồ chơi đang để bề bộn trên lối đi, hay giúp ba lau cái tivi đầy bụi… Quà cho Chúa là một chút cố gắng nho nhỏ phụ giúp ba mẹ làm việc nhà, là vâng lời ba mẹ. Hoặc xin ba mẹ bớt đi một món quà, lấy tiền đó mua chút quà cho các bạn thiếu thốn hơn các cháu để họ cũng được chia sẻ với các cháu niềm vui của ngày Giáng Sinh và tìm gặp Chúa. Hãy thành thật nói với Chúa: "Con dâng Chúa chút quà nhỏ mọn này nhân ngày Sinh Nhật của Người." Cô tin chắc rằng, không phải chỉ có mình Chúa vui khi nhận quà của các cháu, mà ông bà, ba mẹ của các cháu cũng vui hơn nữa khi thấy các cháu ngoan ngoãn và biết sống trong tình yêu của Chúa.
Cô thương chúc các cháu và gia đình một Giáng Sinh an bình, yêu thương, ấm cúng.
Cô Thể Xuân
|
|

Trở về mục lục >> |
 |
|
|
|
Giáo Hội Là Mẹ, Là Thầy
Được sự cho phép của các đấng bản quyền, loạt bài về Hôn Nhân Gia Đình sẽ được trích đăng từ những lời giáo huấn của Đức Giám Mục Nicolas Huỳnh Văn Nghi, trong tập "Hành Trình với Dân Chúa". Ngài nguyên là Giám Mục giáo phận Phan Thiết, và hiện đang dưỡng bệnh. Vậy, mỗi khi đọc những bài viết trong mục này, xin quí anh chị cầu nguyện cho ngài được Chúa thương ban muôn ơn lành hồn xác, và luôn ở với ngài mãi mãi, Ước được như vậy. (Ghi chú của Ban Biên Tập)
Anh chị em thân mến,
Được Thiên Chúa tuyển chọn và giáo dục để nối tiếp sự nghiệp của Chúa Kitô: là Đường, là Sự thật và là Sự sống; Giáo Hội, suốt hai ngàn năm lịch sử vẫn chu toàn nhiệm vụ là Mẹ và là Thầy.
Là Mẹ, vì Giáo Hội vẫn tiếp tục sinh sản thêm nhiều con cái cho Thiên Chúa. Là Thầy, vì Giáo Hội là người dạy chân lý, là tiến sĩ đức tin.
Với hai chức vụ quan trọng đó, Giáo Hội không thể không quan tâm hướng dẫn và hỗ trợ con cái mình sống sao cho phù hợp với ý định của Thiên Chúa.
Theo Bản Tông Huấn về Gia Đình của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II thì:
1. Sự dạy dỗ cụ thể của Hội Thánh phải gắn liền với giáo lý của Thiên Chúa, và không thể tách lìa khỏi giáo lý ấy.
- Vì không bỏ bớt một điều gì trong giáo lý cứu độ của Chúa Kitô chính là hình thức trỗi vượt của đức ái đối với các linh hồn.
2. Nếu muốn hiểu, muốn sống những giá trị đạo đức và luân lý về những phương pháp của Giáo Hội đòi hỏi; Những đôi vợ chồng phải can đảm, mạnh dạn để tạo nên và duy trì mọi điều kiện về nhân bản, tâm lư, thể lư và tinh thần vốn không thể thiếu được.
Về tinh thần, họ có:
- sự bền bỉ và kiên nhẫn,
- sự khiêm nhường và tâm hồn mạnh mẽ,
- lòng tín thác nơi Thiên Chúa và ơn thiêng của Ngài,
- sự siêng năng cầu nguyện,
- lãnh nhận các Bí Tích Thánh Tẩy và Hòa Giải.
3. Còn về tâm lý và thể lý, họ cần:
- vun trồng đức khiết tịnh trong bậc hôn nhân, sự kiềm chế, sự kính trọng nhau,
- tinh thần hy sinh và quên mình đi đôi với những hiểu biết rõ ràng về phương pháp tự nhiên do các cặp vợ chồng, những y sĩ và những người thành thạo có khả năng cung cấp.
Kết luận: Những kỷ luật nói trên không làm hại đến tình yêu vợ chồng, mà ngược lại, nó còn làm cho tình yêu ấy thêm sâu sắc và tạo nên những giá trị căn bản cao về nhân bản. Chúng cũng có ảnh hưởng tốt và rất hữu hiệu trong việc giáo dục con cái. Thiên Chúa không quên công lao của những người tôi tớ trung tín.
(Giáo Huấn tháng 6.1993, "Hành Trình Với Dân Chúa", trang 820)
ĐGM Nicolas Huỳnh Văn Nghi
|
|

Trở về mục lục >>
 |
|
|
CHUYỆN THÁNH ANTÔN
Chuyện Thánh Antôn Pađua
Lời soạn giả
Cũng như Thánh Vinh Sơn, Thánh Antôn được cộng đồng tín hữu Việt Nam biết rất sớm và nhiệt thành mộ mến, nhất là Hai Đấng đều rộng rãi hay ban ơn giáng phúc nhãn tiền.
Về thánh Vinh sơn, đã có cuốn "Thánh Vinh sơn hay làm phép lạ", xuất bản năm 1970.
Về Thánh Antôn, lâu nay ít thấy có cuốn nào lưu hành. Vì thế chúng tôi mạo muội biên soạn tập sách này, dựa theo cuốn truyện "Ông Thánh Antôn"của Cố Phêrô Maria Lương, bằng chữ nôm, ấn hành năm 1910 tại Hà Nội.
Sách này gồm 3 phần:
1. Cuộc đời lạ lùng của thánh nhân
2. Lòng sùng kính và mộ mến với thánh nhân.
3. Các bài hát về thánh AnTôn và thánh Phanxicô
Thời Trung cổ, ở Châu âu, người ta chú trọng đến nhiều mặt thần kỳ hơn là điều bình dị. Trong truyện các thánh, nhất là những đấng hay làm phép lạ quá nhiều, và nói nhiều về đời sống nhân đức của các ngài. Đó cũng là trường hợp thánh Antôn thành Padua. Câu chuyện thường rườm rà, nhiều chi tiết, mà thiếu sự nhất quán.
Nay chúng tôi soạn lại cho ngắn gọn, súc tích, dễ đọc hơn: rút bớt những điều nói đi nói lại. Mỗi loại phép lạ chỉ tóm lại hai tích điển hình.
Mong rằng cuốn sách nhỏ này làm cho nhiều giáo hữu hiểu biết và sùng kính thánh ntôn nhiều hơn, hầu được ơn phù trợ của Người nhiều hơn nữa.
TPHCM, ngày 01 tháng 07 n ăm 1992
PHẦN THỨ NHẤT: CUỘC ĐỜI LẠ LÙNG CỦA THÁNH ANTÔN
CHƯƠNG I: THỜI THƠ ẤU
Antôn sinh vào tháng 8 năm 1195 tại Lisbon, kinh đô nước Bồ đào Nha. Cha là Matinô, mẹ là Têrêsa. Hai ông bà thuộc hàng quý tộc, đầy lòng mộ đạo và kính mến Đức Mẹ cách riêng.
Khi Antôn vừa bập bẹ, mẹ đã dạy cho cậu kêu cầu thánh danh Chúa Giêsu và Mẹ Maria, cùng dạy cho một kinh Đức Mẹ mà Antôn hằng nhớ trọn đời.
Từ tấm bé, Antôn đã tỏ ra hiền lành, không thường chạy chơi với trẻ lân cận, Cậu chỉ ở nhà với mẹ hoặc theo mẹ đi nhà thờ. Khi quỳ trước bàn thờ Đức Mẹ thì cậu cũng chắp tay, quỳ gối, chăm chú như người lớn vậy. Khi vừa đến tuổi khôn lớn, thì Antôn theo ơn Chúa Thánh Thần, đã khấn giữ mình trinh khiết trọn đời theo gương Đức Mẹ. Vì lòng bác ái nên cậu rất vui sướng khi được cha mẹ giao tiền, giúp người nghèo.
Antôn được 10 tuổi thì cha mẹ Ngài gửi học trong nhà Cha sở gần đó, ở chung cùng với một số thiếu nhi khác, nhưng Antôn trổi hơn các bạn về học hành, nết na và đạo đức. Nhất là cậu mộ mến việc phụng vụ, cậu giúp lễ, xông hương nghiêm trang, sốt sắng như thiên thần vậy. Vì thế, cậu được thầy thương bạn mến.
Ma quỷ thầy vậy thì căm tức, toan hãm hại cậu. Một hôm, cậu đang cầu nguyện trên bậc đá bàn thờ Đức Mẹ như thường lệ, bỗng quỷ lấy hình gớm ghê nhẩy lên vai toan bóp cổ, Antôn muốn kêu danh thánh: Giêsu Maria mà không kêu được, cậu liền lấy ngón tay vẽ dấu Thánh giá vào bậc đá. Quỷ thấy vậy thì rút lui. Lạ lùng thay là dấu Thánh giá ấy ăn sâu vào đá, đến nay vẫn còn. Và khách hành hương hằng năm đua nhau đến tôn kính.
CHƯƠNG II: ANTÔN VÀO DÒNG VÀ LÀM LINH MỤC
Năm mười lăm tuổi, Antôn tỏ ư muốn dâng mình vào một tu hội, để tận tình phụng sự Chúa. Cha mẹ, bà con, bạn hữu đều ngăn cản vì cậu là trưởng nam, cần ở đời để nối dõi tông đường. Kẻ thì khuyên là hãy giãn ra một thời gian để biết rõ thánh ý Chúa hơn, kẻ thì chê cười là dại dột, bỏ tiền tài danh vọng mà theo đường khác khổ vô danh.
Nhưng Antôn coi phú quý vinh hoa như phân bón và cậu quyết chí chọn phần là dâng mình phụng thờ Chúa trọn đời.
Và thế là một sớm kia, Antôn trốn nhà đến tu viện Augustin gần đó, xin vào tu. Bề trên xem danh tính Người thì sẵn lòng tiếp nhận. Biết vậy, Antôn vui sướng dường nào!
Chẳng bao lâu thầy đã quen nếp sống nhà dòng và trở nên khiêm nhường, phục tòng, chăm chỉ chẳng kém gì các thầy kỳ cựu khác.
Thầy có trí thông minh phi thường, hiểu thấu những lẽ cao siêu, nhớ dai những điều đã học chỉ một lần. Thầy chăm học lắm. Dù đêm, dù ngày, thầy không rời sách vở.
Tuy nhiên, thầy lấy việc đi đàng nhân đức làm trọng hơn, để tập đức khiêm nhường, lấy việc hèn như làm bếp, quét nhà, thầy đều tranh làm hết. Vì lòng bác ái, thầy xin được chăm sóc anh em bênh tật.
Có lần Chúa cho thầy lấy áo của thầy khoác áo cho bệnh nhân thì người ấy liền khỏi.
Năm thầy hai mươi lăm tuổi, nghĩa là gần mười năm tu trì, thầy đã vâng lời bề trên mà thụ phong linh mục.
Đang sống trong dòng thánh Augustin, thì xẩy ra vài biến cố làm cho thầy Antôn muốn thay đổi dòng tu. Số là tu viện Augustin có thông lệ bố thí tiền, gạo cho người đến xin mỗi tuần một lần vào ngày thứ tư. Một hôm thầy Antôn thấy hai tu sĩ Phan sinh mặc áo vải thô, sắc mặt vàng võ, lưng đeo bị đến ăn xin thì thầy Antôn động lòng tôn kính mến các thầy ấy lắm, mà cho là kẻ có phước, vì đã bắt chước đức khó nghèo của Chúa Giêsu cách trọn vẹn.
Cũng độ ấy, có cuộc rước xác năm vị thánh tử đạo, đều là thánh tu sĩ Phan sinh từ Bắc Phi về nước Bồ đào Nha. Cuộc khải hoàn ấy thật linh đình và trang trọng, nhất là có nhiều kẻ ốm đau, bệnh tật lâu dài, đều nhờ ơn các đấng ấy mà làm cho lành. Sự kiện nay làm cho thầy Antôn càng trọng mến dòng Phan sinh và ước ao được gia nhập dòng ấy để truyền giáo và được phúc tử đạo.
Nhưng nghĩ lại, bỏ dòng Augustin đã đào tạo nên mình thì mang tiếng là vô ơn, nên thầy Antôn ra sức đuổi ư tưởng ấy đi. Song càng xua đuổi thì nó lại càng trở lại mạnh hơn.
Người lo lắng ngày đêm xin Chúa soi sáng cho biết thánh ý Chúa. Một hôm trong lúc Người đang quỳ cầu nguyện trước tượng chuộc tội, bỗng thấy thánh Phanxicô Khó Khăn, gương mặt sáng láng hiện đến bảo rằng:
"Hỡi Antôn, đừng sợ hãi lo lắng nữa, Chúa sai cha đến báo cho con biết thánh ư Ngài muốn con vào dòng mà Ngài đã truyền cho cha lập. Cha sẽ làm cha con và con sẽ làm con cha".
Thánh Phanxicô biến đi rồi, thì thầy Antôn mừng rỡ hết sức và quyết định theo ơn thiên triệu mới. Ngày hôm sau là ngày mùng 1 tháng 4, thầy Antôn từ tạ Bề trên và nhà dòng mà sang tu viện Phan sinh gần đó, thầy liền được thâu nhận rồi mặc áo dòng và đổi tên là Antôn, vì trước đó tên người là Phê-đi-năng.
GÓP NHẶT ĐÓ ĐÂY
"Tình Sĩ"
- Bạn đã biết có nhiều chữ "sĩ", nhưng bạn nghĩ chữ "sĩ" nào đáng trọng hơn hết?
- Nhạc sĩ, Họa sĩ, Thi sĩ, Tu sĩ, Giáo sĩ…
- Có một chữ "sĩ" dường như chưa ai nói tới: "Tình sĩ"
- "Tình Sĩ" là gì?
- Tình Sĩ tương tự như nghệ sĩ, và nói đến nghệ sĩ là một nhóm người mà trong đó gồm có: Nghệ sĩ Sáng Tác, Nghệ Sĩ Trình diễn, và Nghệ Sĩ Thưởng Thức nữa.
- Còn Tình Sĩ thì sao?
- Tình Sĩ không phải là người thuộc một trong ba nhóm nói trên, nhưng là người có cả ba khả năng ấy.
- Nghĩa là…
- Tình Sĩ là người biết:
+ Sáng Tác qua việc phục vụ tha nhân, làm chứng cho Thiên Chúa
+ Thưởng Thức qua việc tận hưởng ơn Chúa, biết ơn Chúa và người
+ Trình Diễn qua việc làm gương sáng, chia sẻ dấu chỉ yêu thương
- Bằng cách nào?
- Cũng như những môn nghệ thuật khác, bạn hãy học hỏi, luyện tập thì bạn sẽ thành Tình Sĩ, hay còn gọi là người Nghệ Sĩ Yêu Thương…
Phan Antôn
THƯ CHO ÁO NÂU
Tĩnh Lặng Sau Chiếc Xe Lăn
Áo Nâu, Anh thân yêu,
Ngoài kia, sáng nay trời đã trở lạnh, Noel gần đến rồi. Vợ chồng em thường hay kiếm một chút quà biếu cho Trẻ Giêsu. Chợt nghĩ đến anh bạn của chồng em mắc bệnh cùi rất nặng, nhưng nay đã được chữa lành. Anh không đi được, phải ngồi xe lăn. Hai vợ chồng bèn rời chuỗi kinh 50 dang dở, đọc ngay kinh sáng soi, rồi lên đường, lòng nhủ lòng phải noi gương Cha Thánh.
Thánh Phanxicô thì sống tha thiết với người cùi, còn em, trên môi miệng cứ nói là đi theo chân Cha Thánh mà nay mới thật sự có cơ hội thực hiện lần đầu tiên. Cám ơn chồng em lắm.
***
Em nắm chặt lấy vai người bạn, nói đôi lời thân thương thăm hỏi, rồi tập đẩy xe lăn. Ban đầu hơi nặng, nhưng dạo vài ba vòng, thì thấy xe lăn lại nhẹ nhàng lướt đi. Em dừng lại và nhìn người bạn. Anh ấy quay đầu nhìn em. Trong ánh mắt của anh trào dâng một niềm vui thầm kín sâu xa và như muốn nói với em rằng: anh ta đang hạnh phúc vì có những người bạn bên cạnh. Em chợt nhớ Trịnh Công Sơn, trong bài "Diễm Xưa" mà câu kết là "ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau.” Em thật lãng mạn, phải không Anh? Em muốn cho anh ta thưởng thức... Giọng ca em không hay, nhưng lời ca Trịnh thì thật thấm thía. Em hát hết bài cho anh ta nghe…
Điều em nhận ra trên khuôn mặt anh bây giờ là lòng tin tưởng phó thác. Anh chấp nhận số phận, nét mặt rực sáng lên khi anh uống chung một ly rượu với chồng em, để cho chất men thấm dần vào cơ thể, thông truyền tình yêu giữa người với người, giữa Thiên Chúa với con người.
Ba mươi phút trôi qua, một thời gian tuy ngắn ngủi, nhưng để lại cho cả 3 người biết bao điều đáng suy nghĩ: Tình yêu là gì, nếu không là những cử chỉ cụ thể bày tỏ lòng cảm thông, chia sẻ, đồng hành!
Vợ chồng em ra về, để lại nơi anh ấy ánh nhìn hẹn hò...
Ánh mắt của hoàng hôn thâm dần vào xa xăm, và trong tĩnh lặng của đêm đen đang hét lên rất nhiều những tiếng hân hoan.
Agnès Kim Gương
VẦN THƠ ĐƠN SƠ
Bài Hát Tình Cha
Cha ,
Từ trong lòng mẹ
Con đã nghe tiếng Cha
Từ mở mắt ra
Con thấy hình Cha trên bầu trời lồng lộng
Lóng la lóng lánh trong mỗi vì sao khuya
Trong ánh trăng rằm
Con thấy tình Cha chảy tràn lan trên cây rừng cỏ nội,
Cha hát cho con nghe trong gió thổi
Cha ru con trong tí tách giọt mưa đêm
Cha nựng con trong võng gió êm đềm
Cha ẵm con trong lòng chiều trìu mến
Cha yêu con như thuyền chài yêu bến
Như sóng biển hôn mãi bờ đại dương
Cha nuôi con bằng giọt sữa tình thương
Của lời kinh vọng vang trời quê mẹ
Cha yêu con, Con Cha đâu sá kể
Đổ máu đào loang lỗ tận trăng sao
Thần Khí Cha, Cha dốc đổ dạt dào
Hành tinh này sáng trưng mùa Cứu Thế.
Ôi tình Cha, hát lên sướng vô kể
Hôm qua, hôm nay, mãi mãi đến muôn đời.
Cha yêu con, Cha yêu lắm, Cha ơi!
Xin đem con vào Mùa Xuân Vĩnh Cửu.
Xuân Ly Băng
Lời Mẹ Ru
Đêm khuya tiếng Mẹ ru hời
"À ơi, con ngủ giữa trời tuyết sương
Thương con sức vóc phi thường
Nhưng nay lại chịu khôn lường khó khăn
Nhìn đêm, Mẹ thoáng băn khoăn
Nhìn con, lòng Mẹ sương giăng mịt mờ
Con tôi, nhân loại tôn thờ
Nhưng nay nhân loại hững hờ đuổi xua
Con tôi chấp nhận thiệt thua
Con tôi nằm giữa chiên lừa thở hơi
À ơi, ơi hỡi à ơi
Bêlem vinh dự Vua Trời ngự đây.
Nhưng người chìm đắm mê say
Để cho Con Chúa đắng cay muôn phần"...
Noel Nghèo
Thuở nhỏ, mỗi khi mùa Noel đến là tôi cứ lẫn quẫn ở nhà thờ để xem người lớn dọn lễ. Thấy nhiều người xúm xít làm hang đá, tập canh thức, chưng dọn bông hoa, treo đèn rực rở, giăng cờ khắp từ trong ra ngoài. Tôi nghĩ Chúa oai và giàu lắm.
Khi lớn hơn một chút, đến mùa Noel thì tôi làm ‘diễn viên’. Có một lần diễn vai mục đồng, tôi đã hát những câu như thế này: "Trần gian ơi sao ngươi đuổi xua Chúa? Chúa có tội chi? Chúa có tội chi? Phải chăng vì quá yêu người? Còn con, Chúa biết con nghèo, con nghèo nhưng Chúa còn nghèo hơn con." Lúc đó còn nhỏ quá, hát để mà hát, hát cho lấy có để tròn vai diễn.
Khi trưởng thành, mỗi mùa Noel đến, ngồi nghiền ngẫm, suy niệm Tình Yêu Giáng Sinh tôi mới thật thấm thía những lời hát ấy… Đêm nay, quỳ bên hang đá, nhìn Chúa Hài Nhi nằm trên mớ rơm khô, chung quanh chỉ có chiên lừa, lời hát xa xưa ấy lại trở về trong tôi, tôi cảm thấy buồn thương Chúa đến se sắt lòng. Tôi tự hỏi, trần gian ơi sao người nhẫn tâm đuổi xua Chúa? Tại sao Đấng đem bình an, hạnh phúc, và sự sống vĩnh cữu đến cho ngươi mà ngươi không đón nhận Người? Tôi lại hỏi Chúa: “Chúa ơi, tại sao Thiên Cung Chúa không ở, lại xuống trần gian làm người nghèo hèn cho trần gian xua đuổi Chúa vậy? Người nghèo lúc nào cũng vất vả ngược xuôi và luôn trăm chiều thiếu thốn. Người nghèo lúc nào cũng bị nhục mạ khinh khi, người nghèo đi đến đâu cũng bị kẻ khác sợ hãi: sợ xin xỏ, sợ vay mượn, sợ trộm cắp, sợ là gánh nặng. Muôn thuở, người nghèo không có công lý, không có ngày mai. Người ta tạo ra một khoảng cách thật lớn, thật rõ rệt giữa giàu và nghèo. Người ta cô lập người nghèo như hòn đảo hoang giữa xã hội văn minh. Người giàu có quyền phủ lên đầu, lên danh dự, lên cả cuộc đời người nghèo bằng những đồng tiền, bằng quyền lực, bằng những thứ xấu xa nhất. Thậm chí họ còn có quyền trên cả sinh mạng của người nghèo. Người nghèo nào cũng cố ngoi lên, tìm đường để thoát ra khỏi cái nghèo. Vậy, tại sao Chúa lại chọn cái nghèo và sống nghèo trọn cả cuộc đời?
Bên ngoài gió rít từng cơn, gió ùa vào phòng, cái lạnh hoà quyện theo gió bao phủ lấy tôi. Dù đang mặc áo ấm nhưng tôi vẫn co rút người vì lạnh và nỗi xót xa cho cái nghèo như lớn lên thêm. Nhìn Chúa Hài Nhi lặng lẽ bên bầy chiên bò để tìm chút hơi ấm, tôi thì thầm: "Còn con, Chúa biết con nghèo, con nghèo nhưng Chúa còn nghèo hơn con." Vâng! Lạy Chúa Hài Nhi, con nghèo lắm! Vì nghèo, con đã từng bị những người thân yêu của mình chối bỏ, chòm xóm khinh khi, bạn bè xa lánh. Vì cái nghèo con đã phải vào đời khi còn là một thiếu nhi bị người bắt nạt, hiếp đáp, hất hủi… Con đã nếm biết bao đói khổ, tủi nhục khi mái tóc chưa chấm ngang vai! Con đã còng lưng làm thuê cho những người nhà giàu, nhưng vẫn bị nhà giàu chê bai, mắng chưởi. Khi cầm được chén cơm trên tay, con biết đó là của ăn Chúa ban để con được no lòng với công sức, với những giọt mồ hôi con đã đổ ra. Nhưng con lại bị những người giàu chê cười, nhạo báng. Có những lần con đứng lặng lẽ, thèm thuồng trước nhưng miếng ăn dư thừa của người giàu vất bỏ bên đường. Chúa thấy không, người nghèo chịu biết bao thiệt thòi. Con đã khóc thương nhiều cho số phận của người nghèo. Và Chúa biết rồi đó! Có mấy ai thương xót người nghèo, nhìn đến người nghèo? Chỉ có Chúa nhìn thấy cảnh nghèo hèn của con. Chỉ có Chúa thấu suốt những nỗi đau của con. Chỉ có Chúa mới thật sự yêu người nghèo. Và vì yêu người nghèo nên Chúa đã từ bỏ Thiên Cung, bỏ luôn Ngôi Vị Vua Trời, hạ mình xuống làm người nghèo hơn con. Chịu sinh ra ở ngoài đồng, sống ở ngoài đường và chết trên đỉnh đồi hoang vu hiu hắt. Chúa chấp nhận hết mọi thiệt thòi vì con, cho con hết buồn tủi. Để gần gủi với con, để hoà nhập vào kiếp sống lầm than của con, an ủi con, xoa dịu nỗi đau và chữa lành vết thương lòng cho con bằng cách chấp nhận cuộc sống nghèo hơn con. Bây giờ con mới biết tại sao Chúa tình nguyện, cam lòng làm người nghèo hèn, khờ dại…
Con không buồn và sẽ không khóc cho thân phận nghèo hèn của mình nữa. Vì bên con, trong con đã có người nghèo hơn con, luôn yêu thương tôn trọng con, đồng hành bên con. Người ấy là Chúa. Chúa của con, Chúa của người nghèo, Chúa của bình an và yêu thương. Con sẽ nói với mọi người rằng Thiên Chúa là người nghèo. Thiên Chúa ở trong người nghèo. Ai không thưong xót người nghèo là làm cho Chúa buồn. Ai có miếng ăn mà không biết chia sẻ là làm cho Chúa nổi giận. Ai xúc phạm đến người nghèo, là xúc phạm đến Chúa. Hỡi những ai nghèo hèn, hãy vui mừng vì Chúa đang ở trong người ấy. Lạy Chúa Hài Nhi, con cảm tạ Người…
Bảy
Cơn Cám Dỗ Cuối Cùng
Ai trong chúng ta là Kitô hữu đều thường nghe nói: "Trước cơn hấp hối, mọi người đều rất cần sự giúp đỡ để dọn mình chết lành." Nhưng có mấy ai biết cơn hấp hối ấy khiếp hãi đến độ nào? Thánh Augustinô, vị Tiến Sĩ Hội Thánh từng suy gẫm: "Trong cơn hấp hối, Chúa sẽ cho chúng ta thấy lại những hành vi đặc biệt của cuộc sống mình." (nói theo thời hiện đại như xem DVD vậy) và khi ấy chúng ta quyết định ngã về phía ánh sáng hay bóng tối.
Trước tiên Ngài cho thấy những việc tốt chúng ta thường làm với Chúa và với đồng loại. Không chỉ một mình mà có nhiều người cùng thấy những việc rất kín chúng ta làm nữa. Cũng không chỉ thấy những việc tốt mình làm mà còn cả những thành quả sau đó mới tuyệt vời. Như nếu ta bố thí ít tiền cho ai đó, đồng tiền ấy được đem trả nợ, lấy lại danh dự, tiếp tục sống tốt chuyên chăm làm ăn, gia đình khá dần lên, con cái học hành thành đạt, có con tu làm linh mục…
Kế đến được thấy những việc xấu chúng ta thường làm như lấy cắp quả trứng gà chẳng hạn (rất vụn vặt phải không quí anh chị?) nhưng hậu quả tiếp theo mới đáng sợ! Vì nếu ta không lấy thì sẽ nở gà con, gà lớn đẻ bầy, bầy lớn bán đi sẽ có bê con, bê lớn bán chăm lo gia đình. Quả trứng mất, gia đình suy xụp, con cái bị bệnh không tiền chữa trị, cháu bé chết, gia đình tan tác lưu lạc tha hương, đạo hạnh bê trễ, sinh tâm trộm cắp, tù đày, già yếu, chết xuống luyện ngục… ấy là chúng ta đã giết bé, giết linh hồn cả gia đình người ấy, khiếp đảm không? Ai ngờ được điều đó?
Sau đó Chúa cho chúng ta thấy những việc xấu mà những người khác làm cho chúng ta. Câu ác ý bịa đặt của chị Sầu Riêng trong xóm nói chúng ta là kẻ dai nợ chẳng hạn. Hôm sau con ta bị sốt, chạy vạy khắp nơi không ai cho mượn tiền, cơn sốt bại liệt làm con mình què quặt khổ sở một đời. Khi ấy ta sẽ đối xử với chị ra sao? Cơn giận báo thù nổi lên, đay nghiến nguyền rủa chị ấy thì làm sao chúng ta có thể đi về phía ánh sáng được?
Để giờ sau hết chúng ta có thể thanh thản bình an yên nghỉ trong vòng tay của Cha trên trời chắc chắn chính việc tập luyện tính nết ngay khi sống trên cõi đời ô trọc này không vô ích. Gương Chúa Giêsu tỏ rõ: một đời cứu chữa bao bệnh tật, phân phát bao cá và bánh, trắc ẩn trước mọi hoàn cảnh khổ tủi của con người. Nhận lại bao phỉ báng lợi dụng phản phúc của ngay cả người anh em thân tín Giuđa. Sỉ nhục cô đơn trước những người đã no nê trong hoang mạc nhờ lòng trắc ẩn Ngài "Họ đói rồi, anh em hãy cho họ ăn" bằng năm chiếc bánh và ba con cá nhỏ. Chúa Giêsu không oán giận. Trước tiên Ngài luôn tìm hiểu ý Chúa. Ngài ra nơi thanh vắng cầu nguyện. Cầu nguyện là tâm sự, là phú dâng mọi tủi buồn, là chúc tụng tạ ơn… Nên trong hấp hối Ngài không quên: Lạy Cha, Con phó thác linh hồn trong tay Cha". Thử nghĩ, ta là nhỏ nhoi không ra gì mà con cái ta dù đứa cứng đầu cãi lời lâm nạn kêu cầu, ta còn không bỏ mặc, phương chi Thiên Chúa cao vượt muôn trùng thì tình thương phải vĩ đại biết bao nhiêu? Phó thác cho Ngài chính thật là bảo chứng vững chắc vô cùng. Và trước giây lịm tắt, Chúa Giêsu cũng không quên: "Lạy Cha, xin tha cho chúng vì họ không biết việc mình làm". Sự tha thứ rất quen thuộc mỗi lần Ngài chữa cho ai "Tội anh đã được tha”. Vâng, nếu trong suốt thời gian sống của Ngài không tha thứ, thứ tha thường xuyên thì thử hỏi, trước sự bạo ngược vô ơn của đám dân đã làm biết bao khốn nạn cho, ngay cả tên tội đồ kề bên thập tự giá trái cũng khinh khi quí anh chị em có dễ thứ tha? Trước sự sợ hãi âu lo trong cơn hấp hối quí anh chị em dễ dàng xin tha cho chị Sầu Riêng?
Chút chia sẻ, chúng ta mới thấy phận người chúng mình thật mỏng dòn yếu kém! Mới thấy chuyến ra đi cuối đời vào cõi vĩnh hằng hãi kinh làm sao. Một khoảng cách như sợi tóc đã chứng mình hạnh phúc hoặc khốn cùng tùy vào chính quyết định trong thái độ ứng xử của mình có sẵn đó. Đến đây xin ghi câu chuyện nhỏ chúng ta suy nghĩ:
Thanh niên hỏi: "Tại sao quỷ sợ người đến thế?” Viện phụ Isidore trả lời rằng: "Từ khi đi tu đến nay, tôi luôn chiến đấu vất vả để cơn giận không lên đến miệng tôi."
Quí anh chị thân thương, không biết con số cơ man nào cho biết có bao nhiêu linh hồn đang chịu khốn đốn ở chốn luyện ngục vì khoảnh khắc ấy. Mùa lễ hội tháng 11 năm nay, con số bao nhiêu linh hồn được cứu khỏi nhờ vào chính anh chị em mình? Có rất nhiều cách để chúng ta có thể cứu giúp họ thật nhẹ nhàng. Riêng tôi thích nhất, thấy dễ nhất là tham dự thánh lễ hàng ngày để cầu nguyện và nhường hết cho họ. Cộng với việc lần chuỗi suy niệm Vui-Sáng-Thương-Mừng hàng ngày cũng cầu Mẹ thương giúp và nhường hết cho họ. Nhờ vậy mà cuộc sống chính tôi nghèo không thấy khổ, buồn không thấy bực, bệnh không bị tật, tủi không bị nhục… không phải nhờ Các đẳng cầu bàu cho là gì? Tôi cũng hèn kém, có công đức chi để được Chúa ưu ái; có tài năng chi để tránh khỏi những tai ương? Xin cùng hiệp tâm trong tháng 11 này là thường xuyên làm hai việc đã được đề nghị ở trên. Ấy chính là sống thăng tiến và thực tiễn vậy; và mai sau, khi sum họp với Chúa, Mẹ, cùng các linh hồn, chúng ta sẽ được tận hưởng biết bao niềm vui tăng tiến.
Phaolô Hiểu (Họ Đầu Sấu)
Xác Ngày Sau Sống Lại
Về cuối năm, thử suy nghĩ phần cuối của Kinh Tin Kính để tự kiểm nghiệm niềm tin của mình được tới đâu nhé!
Xét thấy "xác sống lại" luôn làm trí suy khó hiểu. Linh hồn bất tử nên linh hồn nhận sự thưởng phạt là lẽ đương nhiên; nhưng xác là bụi tro sẽ trở về tro bụi thì làm sao mà sống lại, sống lại như thế nào?
1. Ngày xưa khi Maisen "thấy" Chúa, "hỏi" Chúa là ai, Chúa đáp: “Ta là Giavê", tiếng Do Thái xưa được dịch là Đấng Hiện Hữu, Chúa của kẻ sống (Xh 3,15).
2. Trong thời rao giảng của Đức Giêsu, Người có làm cho kẻ chết sống lại, nhưng là sống lại | |