|
Trong Số Này:
|
|
|
Nhớ Người
Đã Khuất
Thưa quí anh chị,
Có thể gọi ngày 1 tháng 11 hằng năm là "Ngày Tết Các Đẳng" vì ngày ấy Giáo Hội Tại Thế mừng kính Giáo Hội Khải Hoàn, cùng các ngài hướng về Giáo Hội Đau Khổ với tâm tình trìu mến yêu thương, cùng hợp lòng chung ý cậy nhờ Nữ Vương Các Thánh Nam Nữ xin Chúa cho những anh chị đang đau khổ sớm được sum họp với Cha trên trời.
Tháng 11, giáo hội đặc biết nhớ đến những người đã được Chúa gọi về để tỏ lòng hiếu kính, tri ân, yêu thương các tiền nhân, thân nhân, ân nhân đã qua đời, và là cơ hội để nhìn lại cuộc đời mình, thân phận mình.
Khi vào nghĩa trang hay nhà "an nghỉ" để kính viếng những người qua đời, chúng ta gặp lại những người yếu đuối như chúng ta. Những người đã từng gặp gỡ, đồng hành, ngồi bên nhau, bắt tay, trao nhau nụ cười; đã từng giận hờn, hơn thua, trách móc… Tuy vậy, các ngài đã kết thúc cuộc sống tạm bợ và đang cảm thấy bất lực trước sự thanh tẩy lỗi lầm của mình, đang cúi đầu thú nhận trước Thiên Chúa Chí Nhân, đang chịu sự đau đớn khốn cùng của ngọn lửa lòng thiêu đốt tâm hồn, và chỉ biết trông chờ vào những lời cầu thay nguyện giúp của người khác.
Chúng ta nghĩ gì khi những linh hồn lìa đời không còn người thân nơi dương thế cầu thay hay nhớ tới? Chúng ta nghĩ gì khi mình ra đi với gói hành trang chỉ toàn là những trọng tội hằn sâu trong linh hồn như bất hoà, mâu thuẫn, ghen ghét, hơn thua, mê mãi bạc tiền, phí phạm thời gian vào những đam mê vô bổ chóng qua?
Xin nhớ đến những người đang đau khổ ở một nơi chốn nào đó, xin nhớ đến những người đang rên rỉ, than khóc vì bất lực trước nỗi đau của họ. Xin nhớ đến người đang mõi mòn trông đợi nơi chúng ta những lời cầu thay nguyện giúp, những hy sinh, những Thánh Lễ để cứu giúp họ.
Một ngày nào đó đến phiên chúng ta giã từ chốn cát bụi này, chính các ngài, là những người đã ra khỏi chốn tối tăm đau khổ ấy sẽ yêu thương, cảm thông và cầu nguyện cho chúng ta gấp trăm ngàn lần những gì chúng ta đã làm cho các ngài. Và lúc ấy, các ngài đang kề cận bên Nhan Chúa, lời cầu của các ngài sẽ vô vàn hiệu nghiệm hầu cho những ngày tháng đau khổ của chúng ta sẽ được Chúa khoan dung thu ngắn lại.
Thật vậy, những gì chúng ta làm nơi trần gian này với lòng yêu mến thì sẽ không vô bổ, nhưng sẽ được đền bù cách xứng đáng.
BBT
|

Trở về mục lục >>
|
|
|
|
Gặp Gỡ Ơn Cứu Độ
(Luca 19,1-10 - CN XXXI TN - C)
19:1 Sau khi vào Giê-ri-khô, Đức Giê-su đi ngang qua thành phố ấy. 19:2 Và kìa, có một người tên là Da-kêu; ông đứng đầu những người thu thuế, và là người giàu có. 19:3 Ông ta tìm cách để xem cho biết Đức Giê-su là ai, nhưng không được, vì dân chúng thì đông, mà ông ta lại lùn. 19:4 Ông liền chạy tới phía trước, leo lên một cây sung để xem Đức Giê-su, vì Người sắp đi qua đó. 19:5 Khi Đức Giê-su tới chỗ ấy, thì Người nhìn lên và nói với ông: "Này ông Da-kêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!" 19:6 Ông vội vàng tụt xuống, và mừng rỡ đón rước Người. 19:7 Thấy vậy, mọi người xầm xì với nhau: "Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ!" 19:8 Còn ông Da-kêu thì đứng mà thưa với Chúa rằng: "Thưa Ngài, này đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã cưỡng đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn". 19:9 Đức Giê-su nói về ông ta rằng: "Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Áp-ra-ham i. 19:10 Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất".
1.- Ngữ cảnh
Phần thứ tư (phần cuối của hành trình lên Giêrusalem) được tác giả Luca trình bày trong phân đoạn 18,15–19,28: phần này tương ứng với bài tường thuật về hành trình của các Tin Mừng Nhất Lãm. Nhưng trong khối chất liệu này, ông thêm vào câu truyện cuộc gặp gỡ của Đức Giêsu với ông thủ lãnh người thu thế ở Giêrikhô. Ông thấy khối người bị đẩy ra bên lề xã hội Paléttina này cũng là "cái đã mất" mà Đức Giêsu đến để cứu.
2.- Bố cục
Bản văn có thể chia thành năm đơn vị:
1) Ghi chú về chuyến đi của Đức Giêsu (19,1);
2) Giới thiệu Dakêu trong quan hệ với Đức Giêsu (19,2-4);
3) Đức Giêsu chủ động gặp Dakêu (19,5-7):
- Đề nghị của Đức Giêsu (cc. 5-6),
- Phản ứng của dân chúng (phản đối Đức Giêsu) (c. 7);
4) Dakêu chủ động hoán cải (19,8-9):
- Đề nghị của Dakêu (c. 8),
- Phản ứng của Đức Giêsu (trả lời cho dân chúng) (c. 9);
5) Ghi chú về sứ mạng của Đức Giêsu (việc Ngài "đến”) (c. 10).
3.- Vài điểm chú giải
- Giêrikhô (1): Giêrikhô là chặng cuối trước khi "lên" thành Giêrusalem. Thành này nằm kề ranh giới miền Pêrê, dọc theo một tuyến đường giao thông quan trọng, là một điểm chiến lược mà đế quốc Rôma quan tâm trong việc cai trị Giuđê. Tại đây người ta dễ gặp các nhân viên của đế quốc hoăc các sĩ quan, binh lính Rôma.
-
Dakêu (2): Tiếng Híp-ri là zakkai, có nghĩa là "trong sạch và vô tội" (x. Ét-ra 2,9; Nơ-khê-mia 7,14).
- người thu thuế (2): x. 3,12. Tên gọi này dịch từ tiếng Hy-lạp telônês (do từ telos có nghĩa là "thuế"); La-tinh: publicanus (*); pháp: collecteur d’impôts, Anh: tax collector. Nền hành chánh Rôma qui định nhiều loại thuế: thuế thổ trạch, thuế động sản, thuế gián thu, đặc biệt đánh trên việc nhập cảng muối. Những "người thu thuế" thường được giao cho nhiệm vụ thu khoản thuế cuối cùng này. Vì thế họ thường có mặt tại các trạm quan thuế (Caphácnaum: Mc 2,14; Giêrikhô: Lc 19,2). Vì do nghề nghiệp, họ phải tiếp xúc thường xuyên với mọi hạng người, kể cả người ngoại giáo, nên họ bị coi là những người ô uế. Qui định mức thuế là quyền của chính quyền, nhưng thường được người thu thuế áp dụng cách võ đoán, nên họ bị dân chúng khinh bỉ, và danh từ "người thu thuế" tương đương với “hạng tội lỗi” công khai (x. Mt 9,10-11; Mc 2,16; Lc 5,30; 7,34; 15,1; 19,2-7), hạng ngoại đạo (x. Mt 18,17; 21,31), và hạng trộm cướp (x. Lc 3,2t). Một người Do-thái đạo đức tuân giữ lề luật thì chẳng có gì phải giao dịch với người thu thuế. Dakêu "đứng đầu những người thu thuế” (architelônês), tức là ông phụ trách cả vùng. Như thế, Dakêu càng ở bên lề cộng đồng Do-thái hơn nữa.
- tìm cách để xem cho biết... (3): Dakêu là người giàu có và có địa vị cao, nhưng trong lòng ông vẫn không cảm thấy thỏa mãn. Hai động từ “tìm" (Hl: zêtein; A: search, look for) và "xem" (Hl: idein; A: see) cho dù không có tầm mức quan trọng như trong TM Gioan, vẫn cho thấy là Dakêu không chỉ tò mò muốn "xem cho biết" (như kiểu nói của chúng ta). Đây là một "cuộc điều tra mang tính Kitô học” của một người tội lỗi công khai đối lại với thái độ lãnh đạm và thù nghịch của giới lãnh đạo dân Chúa.
- cây sung (4), tiếng Hy-lạp là sykomorea (P: sycomore, A: sycamore-fig tree). Đây là loại cây có thân thấp, các cành ngang cứng chắc.
- phải ở lại (5): Câu này dịch sát là "hôm nay điều cần thiết đối với tôi là ở lại nhà ông". Động từ Hy-lạp dei diễn tả một điều nằm trong chương trình, ý muốn của Thiên Chúa, nằm trong sứ mạng của Đức Giêsu (x. 2,49; 4,43; 12,12; 13,33; 15,32; 22,37; 24,44).
- mừng rỡ (6): do động từ Hy-lạp chairein (A: rejoice). Lc là Tin Mừng về niềm vui (Dacaria: 1,14; Đức Maria: 1,28; bà con Gioan Tẩy giả: 1,58; Đức Giêsu chào đời: 2,10; Đức Giêsu: 10,20; đám đông: 13,17...). Đây là niềm vui do Đấng Mêsia mang đến.
- nhà người tội lỗi (7): Luật luân lý cấm vào nhà kẻ tội lỗi.
- phân nửa tài sản của tôi (8): Mức bồi thường này vượt qua mức Luật đòi hỏi (x. Xh 21,37; Ds 5,5-7; Lv 5,21-24: trả lại món tài sản đã lấy cộng với 1/5 giá trị món đó).
- Đức Giêsu nói về ông (9), có nghĩa là Đức Giêsu nói với những người khác. Tập tục Đông phương cho phép người ta tự do ra vào nhà một người và vây quanh bàn ăn của những khách được mời (x. 7,37).
- Hôm nay (9, cả c. 5; Hl: sêmeron, x. 2,11; 4,21; 13,32.33; 23,43): Đây là từ ngữ quan trọng của TM Lc, có nghĩa là: Sau một thời gian dài chờ đợi và hy vọng, lịch sử cứu độ đã tới đỉnh cao hoàn tất. Tất cả những gì các ngôn sứ nói đã thành sự trong các hành động và các lời nói của Đức Giêsu (x. 4,18.19; 5,26).
4.- Ý nghĩa của bản văn
* Ghi chú về chuyến đi của Đức Giêsu (1)
Đến Giêrikhô, chuyến đi của Đức Giêsu lên Giêrusalem đã đến chặng cuối cùng. Tại đây người ta bắt đầu chuyến đi lên: từ thung lũng sông Giođan, người ta băng qua sa mạc Giuđa để đến Giêrusalem. Toàn thể cuộc hành trình của Đức Giêsu sau này được Phêrô mô tả: "Đi tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó” (Cv 10,38). Điều này đặc biệt đúng cho những điểm cuối cùng: mỗi chặng lại trở thành một chặng để trợ giúp và cứu chữa. Gặp anh mù ngồi bên vệ đường tin tưởng kêu cầu: "Lạy ông Giêsu, Con vua Đavít, xin thương xót tôi!”, Đức Giêsu đã cho anh xem thấy, ban khả năng ca tụng Thiên Chúa và đi theo Người (18,38). Gặp Dakêu ngồi trên một cây sung bên lề đường để nhìn xem Người, Đức Giêsu cho ông cơ hội tiếp đón Người về nhà và hoán cải, tức nhận được ơn cứu độ. Dù hoàn cảnh hai người rất khác nhau, cả hai đã được Thiên Chúa trợ giúp nhờ trung gian Đức Giêsu.
* Giới thiệu Dakêu trong quan hệ với Đức Giêsu (2-4)
Dakêu là một người giàu có. Nhưng trong tư cách là thủ lãnh của những người thu thuế, ông thuộc về hạng người bị xã hội Do-thái khinh bỉ. Do nghề nghiệp, vì họ phải thường xuyên liên hệ với mọi hạng người, kể cả ngoại giáo, họ bị nhiễm uế. Và bởi vì xã hội thường gán cho người thu thuế tính tham lam và những lối cư xử không công bình (x. 3,12t), Dakêu bị ghét bỏ và khinh bỉ. Một người Do-thái tuân giữ Lề Luật nghiêm túc thì không có gì phải liên hệ với người thu thuế cả. Do đó, Dakêu đứng ở bên lề cộng đồng. Ông là người giàu có và có địa vị cao, nhưng ông không được những người có thế giá trong xã hội trân trọng.
Ông hết sức ao ước được gặp Đức Giêsu. Ước muốn này có thể phần lớn được nhen lên do tính tò mò. Dù sao ước muốn này đã thúc đẩy ông tìm mọi cách để thấy được Đức Giêsu. Tuy nhiên, dân chúng đi theo Đức Giêsu thì quá đông mà vóc người ông thì thấp bé. Nhưng Dakêu có óc sáng tạo: ông chạy đi trước và leo lên một cây sung. Chạy và trèo lên cây là những chuyện chỉ hợp với các trẻ em, chứ không phù hợp với tư cách một người giàu có; nhưng Dakêu chấp nhận trở thành lố bịch để được thấy Đức Giêsu, điều này cho thấy ông ao ước thấy Người đến đâu!
* Đức Giêsu chủ động gặp Dakêu (5-7)
Trong khi mọi người khác không màng tới Dakêu đang ở trong thế rất khôi hài, Đức Giêsu đã bày tỏ sự quan tâm đến ông bằng những cử chỉ và thái độ rất đơn giản, rất “người”: “đi tới chỗ ấy”, “nhìn lên", "nói với ông". Người còn cho hiểu đấy không chỉ là một cuộc thăm viếng xã giao, mà là một cuộc gặp gỡ nằm trong ý muốn của Thiên Chúa ("hôm nay tôi phải ở lại nhà ông"), nằm trong sứ mạng của Người. Cái "ngày hôm nay" mà Đức Giêsu nhắc tới không chỉ là một chi tiết chỉ thời gian, mà là một chặng trong hành trình ban ơn cứu độ mà Người đã khai mạc tại Nadarét (x. 4,18-22). Trong cuộc hành trình này, Người quan tâm ưu tiên tới những người nghèo, và cả những người tội lỗi.
Nỗi băn khoăn, căng thẳng của Dakêu biến thành niềm vui: không chỉ là sự thỏa mãn, sự thoải mái về thể lý, mà là việc tham dự vào hạnh phúc do Đấng Cứu thế mang đến. Nhờ gặp gỡ Đức Giêsu, ông được giải thoát khỏi các lầm lỗi, hoang mang, và lòng được chan hòa bình an và niềm vui. Đi ngược lại mọi chỉ trích, và một cách rõ ràng, Đức Giêsu cho mọi người thấy rằng không ai bị loại khỏi ơn cứu độ Người ban. Người cũng cho thấy Người từ chối mọi kiểu đánh giá tổng quát về một hạng người.
* Dakêu chủ động hoán cải (8-9)
Bữa tiệc tại nhà Dakêu là một cử hành thống hối, đưa tới một sự hiệp thông huynh đệ. Qua bữa tiệc, Dakêu hiểu là ông được kêu gọi đi vào hiệp thông với Thiên Chúa. Bởi vì Đức Giêsu đã chấp nhận con người thật của ông, bởi vì ông được mời gọi sống như thế, Dakêu chẳng phải tránh né gì nữa, trái lại ông vui mừng đón tiếp Người về nhà và bày tỏ quyết định đổi mới cuộc đời. Ông đã trả lời thắc mắc: "Thế thì ai có thể được cứu?” (18,26) khi Đức Giêsu nhận định: “Những người có của thì khó vào Nước Thiên Chúa biết bao" (18,24). Dakêu giàu có đã nhận được ơn cứu độ nhờ trung gian Đức Giêsu (19,9), bởi vì ông không chỉ bằng lòng với việc trông thấy Đức Giêsu, mà còn hành động theo ư muốn của Người nữa. Trong ngày hôm ấy, Dakêu đã cảm nghiệm một sự biến đổi lạ thường. Đó chính là điều được Đức Giêsu diễn tả trong câu tuyên bố: "Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu ông Abraham". Khi tuyên bố như thế, Đức Giêsu đã bác bỏ nhận định của mọi người: “Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ!". Phán đoán của đám đông là một phê phán quá cứng rắn. Qua lối cư xử của Người, Đức Giêsu loại bỏ sự cứng rắn đó và cho thấy rằng thái độ của Thiên Chúa hoàn toàn khác với thái độ của đám đông.
* Ghi chú về sứ mạng của Đức Giêsu (việc Ngài "đến”) (10)
Những lời Đức Giêsu kết luận (c. 10) có thể khuyến khích mỗi người bởi vì "Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất". Người không đến để kết án hoặc loại trừ. Lại chính những kẻ bị lạc, những kẻ sai lầm mà Người đã muốn tìm và cứu chữa; chính là những kẻ đang đi vào ngõ cụt mà Người muốn dẫn ra.
+ Kết luận
Bản văn với câu kết luận (c. 10) không những tóm tắt giai thoại về Dakêu, mà còn làm nổi rõ hơn nữa cứu-độ-học của toàn thể cuộc hành trình của Đức Giêsu lên Giêrusalem cũng như của TM Lc: trong tư cách là Con Người, Đức Giêsu đã đến để tìm và cứu những gì đã mất, và như thế là gợi ý tới câu Ed 34,16 trong đó Đức Chúa tự mô tả mình như là Người mục tử: "Con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về; con nào bị thương, Ta sẽ băng bó; con nào bệnh tật, Ta sẽ làm cho mạnh; con nào béo mập, con nào khoẻ mạnh, Ta sẽ canh chừng. Ta sẽ theo lẽ chính trực mà chăn dắt chúng”.
Khi đọc bản văn này, ta cũng nhận ra những ý nhắc lại các đoạn khác trong TM III: những yếu tố thuộc lời rao giảng của Gioan Tẩy Giả (3,10-14); dụ ngôn người Pharisêu và người thu thuế (18,9-14); người thủ lãnh giàu có (18,18-23); anh mù (18,35-43). Dakêu được giới thiệu như là một người giàu gương mẫu đã hiểu sứ điệp cũng như mối quan tâm của Đức Giêsu đối với người nghèo, nên đã biết lấy những quyết định tương xứng. Bản văn cũng cho thấy có những điểm gặp gỡ với giai thoại anh mù: Dakêu đã thực hiện những bước không thông thường để nhìn thấy Đức Giêsu khi Người đi ngang qua. Hai bản văn cuối cùng này trực tiếp đưa độc giả đi theo Đức Giêsu vào Giêrusalem trong tư cách là "Con vua Đavít” để thực hiện chương trình cứu lấy những gì đã mất.
5.- Gợi ý suy niệm
1. Dakêu đã bị xã hội đẩy ra bên lề và khép lại với chính ông. Nhưng ông đã không chịu ở lại trong vòng tròn khép kín mà xã hội đã nhốt ông vào, đó là thế giới của tiền bạc và những quan hệ không lương thiện; ông tìm cách "thấy" Đức Giêsu, và thế là ông được cứu. Khép kín vào chính mình, con người không bao giờ thoát khỏi tội lỗi của mình, trái lại, cần mở ra với Đức Giêsu. Trong đời sống thiêng liêng, chúng ta hiểu: Đức Giêsu chờ đợi chúng ta đến với Người, nhưng Người cũng chờ đợi chúng ta sẵn sàng đón tiếp Người vào nhà.
2. Trong bất cứ cộng đoàn nào, bao giờ cũng có những người sợ đến gần những “người thu thuế”, những “kẻ tội lỗi”, những người không có danh thơm tiếng tốt... Bạn thử hình dung xem mình đang nghĩ về người khác thế nào? Đức Giêsu không làm như thế. Người đã nắm lấy bàn tay Dakêu rụt rè đưa ra về phía Người. Người lấy sáng kiến và đặt Dakêu trên một nẻo đường mới.
3. Tất cả những thái độ và lời nói rất "người" (sự quan tâm, cử chỉ thân ái, lời nói dịu dàng...) có thể đưa người khác đến những biến đổi rất “thánh”. Môn đệ Đức Giêsu phải sống thế nào để bằng sự hiện diện và lối sống của mình, ngày "hôm nay" của Thiên Chúa xuất hiện cho anh chị em mình. Hôm nay Đức Giêsu vẫn đang ban ơn cứu độ qua Lời Người, các bí tích, qua Giáo Hội. Nếu bạn là thừa tác viên Lời Chúa hoặc bí tích, bạn đã có ý thức về cung cách cử hành thế nào để Đức Giêsu đến được với anh chị em của bạn?
4. Tấm gương của người môn đệ chính là thầy Giêsu: Người đã không ngại bị đánh giá tiêu cực để khỏi phản bội sứ mạng cứu thế. Người môn đệ của Người sẽ có những lúc phải chọn lựa như thế. Tuy nhiên, ngay trong đời thường, qua các sinh hoạt nghề nghiệp, thăm viếng, có khi nào bạn nghĩ là bạn sinh hoạt, thăm viếng theo ư muốn của Thiên Chúa?
(*) Ngày xưa, các cố Tây dịch là "người púp-li-ca-nô" do lấy từ chữ La-tinh publicanus (do chữ publicus có nghĩa là "tiền của công").
Lm. F.X. Vũ Phan Long, ofm
|
|

Trở về mục lục >>
|
|
|
|
Tình Huynh Đệ Hiệp Thông
Luật Dòng Phan Sinh Tại Thế: Điều 24
Về điều Luật này, Tổng Hiến Chương có ghi: "Ý nghĩa của việc đồng trách nhiệm nơi các thành viên đòi anh chị em phải đích thân hiện diện, phải làm chứng tá, phải cầu nguyện và sống tích cực theo khả năng của mỗi người và theo sự dấn thân linh hoạt huynh đệ đoàn"....
Điều luật 24 này còn buộc hội đồng huynh đệ đoàn "phải xử dụng những phương thế thích hợp nhất để phát triển đời sống Phan Sinh và đời sống Hội Thánh, và để sống liên kết với huynh đệ đoàn nhiều hơn"...
Thế thì những phương thế nào phải được dùng? Tổng Hiến Chương điều 53.1 nói như sau: “Huynh đệ đoàn phải tạo cơ hội cho các thành viên gặp gỡ và cộng tác với nhau qua những buổi họp, càng nhiều càng tốt tuỳ theo hoàn cảnh và tạo điều kiện để tất cả anh chị em tham dự”. Ngoài ra Tổng Hiến Chương trù liệu cho các thành viên trong huynh đệ đoàn tham dự các buổi Lễ Tế Tạ Ơn, riêng cho Phan Sinh Tại Thế hoặc (trường hợp không thể) chung với cộng đồng hội thánh địa phương. Tổng Hiến Chương cũng trù liệu cho trường hợp những "anh chị em vì lý do sức khoẻ, gia đình công việc, hay ở xa mà bị ngăn trở không tham gia tích cực vào đời sống huynh đệ đoàn được". Không những thế, Tổng Hiến Chương 53.5 cũng muốn tạo "sự liên kết với huynh đệ đoàn dành cho những ai tuy không thuộc về Dòng Phan Sinh Tại Thế, nhưng muốn chia sẻ đời sống và các sinh hoạt của Dòng."
Còn nhiều điều nữa, để “Hiệp” và "Thông", nhưng ta hãy dừng lại để đặt một câu hỏi: Những phương thế nào là thích hợp nhất để thực hiện Hiệp thông?
- Trước hết và trên hết là sự hiệp thông hỗ tương cốt thiết trong đại gia đình Phan Sinh, tức là anh chị em "ruột thịt" con cái Cha Thánh yêu thương và giúp đỡ nhau. Việc tiêu biểu nhất vẫn là Dòng I đào tạo và cử các tu sĩ đảm nhận trợ úy cho Phan Sinh Tại Thế và Giới Trẻ Phan Sinh. Dòng I (như ở VN) cũng giúp đỡ tài chánh vật chất để phát triển ơn gọi cả chiều sâu lẫn số lượng. Phát biểu trong đợt Đại Hội VII Giới Trẻ Phan Sinh hồi tháng 6.2007, cha Giám Tỉnh Phi Khanh đã nói: "Chúng tôi không chỉ yêu cầu mà còn đòi buộc các tu sĩ Dòng I khi vĩnh khấn, phải có đủ năng lực để làm trợ úy cho Phan Sinh Tại Thế và Giới Trẻ Phan Sinh." Ngài còn nói: "Chúng tôi kỳ vọng vào Phan Sinh Tại Thế và Giới Trẻ Phan Sinh."
- Những anh chị Phan Sinh Tại Thế Việt Nam ở Hoa kỳ có trang nhà trên internet là www.psttvnusa.net là nơi cung cấp cho các anh chị em Phan Sinh Tại Thế toàn cầu nhiều thông tin để anh chị em thăm viếng và tìm hiểu nhau. Thiết nghĩ đây là một món quà mà khoa học hiện đại tặng cho chúng ta. Gần đây, Ban Biên Tập lại có sáng kiến hình thành nhóm vsfo tạo điều kiện cho những ai có thể hoà mạng internet để thường xuyên gặp gỡ, lien lạc với nhau, nhận những thông tin và tài liệu miễn phí để nâng cao kiến thức cho anh chị em.
- Ở cấp Quốc gia Việt Nam, Ban Thường Vụ cũng có nhiều cách để gắn kết thường xuyên giữa Phan Sinh Tại Thế với nhau qua những lần tổ chức gặp gỡ, huấn luyện... 11 huynh đệ đoàn Miền cử đại biểu về họp tu nghị 3 năm 1 lần, đó chưa phải hết; thường xuyên đã có các đợt huấn luyện chung cho toàn huynh đệ đoàn quốc gia, có khi lại tổ chức "di động” ở một nơi khác không phải là tại trung tâm Dòng I, để anh chị em học viên có cơ hội giao lưu với nhau, và với các cơ sở khác của Dòng I, Dòng II, tìm hiểu văn hoá, tập quán của từng Miền. Không dừng lại ở nội vi Phan Sinh Tại Thế, Ban Thường Vụ quốc gia cũng có sáng kiến tổ chức những cuộc gặp gỡ giao lưu với Dòng II, với Giới Trẻ Phan Sinh và với các chị em Dòng Nữ Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ (FMM) nữa.
Ở cấp Miền, các nơi vẫn có truyền thống giao lưu giữa Miền này với Miền khác. Nội trong một Miền, thường tổ chức các buổi họp lưu động để mọi người có dịp đến với một vùng nào đó, nhất là nơi vùng sâu vùng xa; các đợt huấn luyện tập trung cấp Miền kêu gọi các huynh đệ đoàn cử người về học tập, tĩnh huấn; các nghi lễ khấn Dòng, tu nghị cấp đoàn được mời gọi các huynh đệ đoàn bạn cùng đến chia sẻ.
Ở các đoàn địa phương, Hội đồng có sáng kiến rất linh động. Có nhiều huynh đệ đoàn tổ chức các buổi chia sẻ Phúc âm hay đọc kinh tại tư gia một thành viên huynh đệ đoàn. Điều ấy thật có lợi cho cả gia định thành viên ấy. Đã có trường hợp cả nhà sốt sắng lên nhờ những buổi chia sẻ và gặp gỡ như thế.
Quay trở về với Tổng Hiến Chương: "Huynh đệ đoàn phải tạo cơ hội cho các thành viên gặp gỡ và cộng tác với nhau, qua những buổi họp càng nhiều càng tốt, tuỳ theo hoàn cảnh." Tại điểm này, chúng tôi được biết mỗi huynh đệ đoàn có mỗi hoàn cảnh khác nhau, tỉ như các huynh đệ đoàn bên Mỹ thì thường là họp hàng tháng kéo dài đến 3 giờ đồng hồ, hoặc hơn. (tư liệu trên trang nhà psttvnusa.net). Còn ở nội địa Việt Nam, các buổi họp huynh đệ đoàn địa phương diễn ra nhanh và nhặt hơn, có khi là hàng tuần (Huynh đệ đoàn Elizabet Thanh Hải, Phan Thiết, Têrêxa Tân Lập, hoặc hai lần mỗi tháng. Tuy cũng có những huynh đệ đoàn cả hai ba tháng chưa hội họp được một lần cho nghiêm túc. Có thể là do hoàn cảnh khó khăn về an ninh, cũng có thể do thiếu điều kiện đi lại hoặc thiếu nhân sự điều hành. Ở đây, chúng ta cũng nên nhắc tới một qui định khác của Tổng Hiến Chương: “Việc tham dự các buổi họp của huynh đệ đoàn địa phương là một điều kiện tuyệt đối cần thiết để ứng sinh được khai tâm về sự cầu nguyện cộng đồng và về đời sống của huynh đệ đoàn" (Tổng Hiến Chương 40.3) Đây nói về thời kỳ Huấn Luyện, tuy nhiên cũng có thể hiểu chung cho mọi người Phan Sinh Tại Thế. (còn tiếp)
Phêrô Nguyễn Đức Tiến; sfo
|
|

Trở về mục lục >>
 |
|
Bài 47: Cuộc Vượt Qua Biển Sậy
(Xh 13,17-14,31)
Con cái It-ra-en rời Ai-cập và lên đường. Gia-vê dẫn đưa họ đi, ban ngày nhờ một cột mây, ban đêm một cột lửa. Nhưng cuộc giao tranh vẫn còn tiếp tục. Pha-ra-ô vẫn giữ lòng chai đá. Cũng như các lần trước, ông hối tiếc vì đã để cho dân It-ra-en ra đi, một dân tộc nô lệ rất ích lợi cho ông. Vì thế ông cho một đạo quân với các chiến xa hùng mạnh đuổi theo. Khi thấy chúng tiến tới, dân It-ra-en bắt đầu thoá mạ và nguyền rủa ông Mô-sê. Một dân tộc được cứu thoát chưa phải là một dân tộc đã hoán cải. Tận đáy lòng họ vẫn còn là một dân nô lệ. Họ thích làm nô lệ để được an toàn hơn là được tự do mà phải gặp nguy hiểm. Họ nói với ông Mô-sê: "Bên Ai-cập không có đủ mồ chôn hay sao, mà ông lại đưa chúng tôi vào chết trong sa mạc? Chúng tôi đã bảo: Cứ để mặc chúng tôi làm nô lệ Ai-cập! Thà làm nô lệ Ai-cập còn hơn chết trong sa mạc!" (Xh 14:11-13). Sự nổi loạn và cứng lòng tin này sẽ còn lặp đi lặp lại nhiều lần trong lịch sử dân It-ra-en. Ông Mô-sê chỉ biết trả lời cho họ: "Đừng sợ! Đức Chúa sẽ chiến đấu cho anh em. Anh em chỉ có việc ngồi yên" (Xh 14,13-14). Câu nói này cho thấy phúc cứu độ hoàn toàn lệ thuộc vào Thiên-Chúa toàn năng. Người có thể biểu dương quyền năng của Người trong những hoàn cảnh tuyệt vọng đối với con người. Và phép lạ đã xảy ra.
Dân It-ra-en đã vượt qua Biển Sậy an toàn. Khi Pha-ra-ô và các chiến xa của ông đuổi theo, chạy vào Biển Sậy, thì bị sa lầy. Vài giờ sau chúng bị nhận chìm do nước thuỷ triều dâng lên. Biển Sậy, mặc dầu về sau thường được gọi là Biển Đỏ, là vùng đất sình lầy của hồ Tim-sa, nằm ở phía Bắc kênh đào Xu-ê (Suez) hiện thời, nơi có nhiều cây sậy mọc lên. Trong một vài trường hợp đặc biệt, khi nước thuỷ triều xuống và gió đông bắc thổi mạnh, thì vùng đất trở nên khô ráo trong vài giờ: người ta có thể đi bộ qua hồ khô chân. Ban sáng, khi gió bắc thổi xuống phía nam, nước thuỷ triều dâng lên rất nhanh và hồ Tim-sa lại đầy nước. Cũng như trong 9 tai ương trên kia, ở đây phép lạ là ở chỗ Thiên-Chúa đã phối hợp các hiện tượng tự nhiên với nhau để tạo điều kiện cho Dân Người thoát khỏi sự truy đuổi của Ai-cập.
Lm. Norbert Nguyễn Văn Khanh, ofm
|
|
|

Trở về mục lục >>
|
|
|
|
|
Gia
Đình; Nhìn Từ Linh Đạo Phan Sinh Tại Thế
Hạnh phúc của các gia đình công giáo không chỉ dừng lại ở sự vui tươi hoà đồng trong gia đình, (tuy là điều rất cần thiết), cũng không dừng lại ở việc đủ ăn đủ mặc, hay ở những thành công trong lãnh vực kinh tế, xã giao, địa vị, mà còn đi xa hơn nữa: Gia đình là Hội Thánh nhỏ của Chúa, biết đón nhận và loan báo Tin Mừng, là chứng nhân giao ước giữa Chúa với loài người. (x. Ir. Nguyễn Thanh Minh, Hôn nhân và Gia đình, đăng trong các bài trước đây).
ª
Đối với người Phan Sinh Tại Thế, gia đình được gắn liền với một điều luật mà khi đã tuyên khấn mọi người phải tuân giữ nghiêm túc: Điều 17 - Gia đình quyết chăm lo. Trước hết xin phép nêu lên đây một vài sự kiện tiêu biểu của các vị thánh Bổn Mạng của Dòng:
1. Thánh Tổ Phụ Phanxicô với gia đình: Ông Béc-na-đô-nê, thân phụ Ngài muốn con mình nối nghiệp và làm rạng rỡ gia phong như một vĩ nhân, như là đại hiệp sĩ, đại thương gia. Nhưng Phanxicô lại nghe theo tiếng Chúa để sống với một gia đình khác lớn hơn rộng mở trước mắt. Tuy tiếng gọi theo Chúa đã lấn át tiếng gọi gia đình, nhưng Thánh Phanxicô luôn bảo vệ giá trị của sự liên kết hôn nhân. Khi có nhiều người có gia đình đến với Ngài, tiêu biểu là ông bà Lu-kê-xi-ô xin theo ngài "đi tu”, ngài bảo họ chờ ngài vạch ra một đường lối khác để vừa sống đời đền tội mà vẫn bảo toàn được nguyên tắc "không thể phân ly" của gia đình. Từ đó có Dòng Ba, nay là dòng Phan Sinh Tại Thế được hình thành.
2. Thánh Nữ Clara với Gia Đình: Cả hai chị em Clara và Annê đã trốn khỏi gia đình để theo ơn gọi riêng của mình. Các Ngài cũng như Phanxicô, đặt việc vâng theo tiếng gọi của Chúa lên trên bổn phận trong gia đình.
3. Thánh Nữ Elizabeth Hunggari: Được đón về nhà chồng từ khi mới lên 4 tuổi. Sau đó, khi vị hôn phu qua đời rất sớm, ngài phải vâng lời và chấp nhận người em kế của vị hôn phu là Luy làm chồng. Cũng từ lúc đó hạnh phúc của ngài bị chen vào nhiều nổi bất hạnh: Nào là chồng bị sát hại khi đứa con thứ 3 mới chào đời được một tuần; nào là ngài bị bạc đãi, tiếm quyền, tước đoạt tài sản... Nhưng Elizabeth vẫn chấp nhận thánh ý Chúa, trung thành với cách sống Dòng Ba mà Ngài gia nhập từ năm 17 tuổi. Ngài đã làm rất nhiều việc từ thiện như đón nhận và nuôi dưỡng những người bất hạnh bệnh tật, ngài xây dựng nhiều công trình bác ái, tiêu biểu nhất là Bệnh Viện Phanxicô Assisi. Để sống linh đạo hôn nhân, ngài luôn sống phó thác, đón nhận mọi mất mát như là ý Chúa, ngài đã gắn kết đời mình với việc bổn phận, với các con, nuôi dưỡng các con nên người và nên thánh, gắn kết đời mình với các việc từ thiện, biến thân mình làm khí cụ của Chúa.
ª
Người Phan Sinh Tại Thế với gia đình: "...hãy coi gia đình mình như môi trường đầu tiên để sống sự dấn thân Kitô giáo và ơn gọi Phan Sinh. (HC 24.1). Luật điều 17 đòi buộc người Phan Sinh Tại Thế "...sống tinh thần Phan Sinh là tinh thần hoà thuận, trung tín, và tôn trọng sự sống, tìm cách làm cho tinh thần ấy trở thành dấu chứng của một thế giới được đổi mới trong Đức Kitô”. Muốn thể hiện tinh thần Luật 17 này, người Phan Sinh Tại Thế có rất nhiều điều phải làm, nhưng chung qui vẫn là làm gương sáng, giúp đỡ hướng dẫn và đóng vai trò người dẫn dắt cho con cái biết tôn trọng sự thật, công bằng, bác ái, kính yêu ông bà tổ tiên, họ hàng thân tộc, biết giúp đỡ những người bị xã hội ruống bỏ, cô đơn, nghèo khổ, bệnh tật, già yếu... Ngày nay, nền đạo đức căn bản bị “xâm lăng”, sự sống con người bị coi nhẹ, lòng chung thuỷ hôn nhân bị tấn công, các gia đình Phan Sinh Tại Thế hơn ai hết phải hết lòng bảo vệ.
Tóm lại, người Phan Sinh Tại Thế coi gia đình như là một Hội Thánh Tại Gia để “truyền giáo” cách sống đạo hầu cho mọi thành viên luôn cố gắng loại trừ mọi điều gian ác và chỉ làm điều thiện, biến gia đình thành ngôi đền thờ nhỏ để mọi thành viên luôn hướng lòng về Chúa.
Bé T.
|
|

Trở về mục lục >>
 |
|
|
GÓP NHẶT ĐÓ ĐÂY
Khi Người Ấy Phạm Lỗi
- "Người ấy" đã làm nhiều điều sai trái quá, tôi phải làm sao?
- Bạn muốn phản ứng theo cách yêu hay ghét "người ấy"?
- Hai cách khác nhau thế nào?
- Cách Yêu là hiện diện, lắng nghe, cảm thông, nâng đỡ, tha thứ... và cách ghét là tránh né, làm ngơ, giận hờn, loại bỏ, trách móc…
- Làm sao để có thể phản ứng theo cách yêu cho dễ và đúng?
- Có lẽ phải thực hiện từng bước cho bằng được:
1. Ý thức mình là người tội lỗi.
2. Nhìn thấy Chúa ở nơi "người ấy".
3. Tìm gặp "người ấy" để… Yêu; vì chính tình yêu sẽ tinh luyện những gì được gọi là bất toàn, bất hão, bất nghĩa, bất trung, bất hiếu, bất như ý… "tình yêu tinh luyện tình yêu".
- Xin nói rõ hơn.
- Nếu bạn muốn "sửa sai" một người nào đó bằng hình phạt, bạn sẽ tốn nhiều công sức, mất những niềm vui, và chưa chắc sẽ được như ư. Nhưng nếu bạn muốn một người nào đó “tự sửa sai” bằng chính tình yêu của bạn thì bạn sẽ là người được yêu ngay khi "người ấy" đang từng bước “sửa sai chính họ”. Nào có ai được yêu mà không thích nhỉ!
Phan Antôn
THƯ CHO ÁO NÂU
Thử Thách
Áo Nâu, Anh thân yêu
Nhớ có lần Anh dạy em: Nếu không có trái tim nhân ái thì sự giàu có chẳng sinh ích lợi gì cho đời sống tâm linh, có khi còn là trở ngại cho sự thăng tiến nữa; Việc phục vụ ở nơi môi miệng chỉ là giả dối nếu không đưa vào thực hành. Cũng thế, chỉ nói yêu mà không sống cho người mình yêu thì chỉ là giả hình.
Có nhiều cách để thể hiện tình yêu: Có thể chỉ là một ánh mắt, một nụ cười, có khi chỉ một lời nói ngọt ngào an ủi trao cho người sầu khổ. Nhưng nếu có một chút "vô tâm" trong những kiểu an ủi ấy thì cũng không có tác dụng và không bền lâu được.
Tích cực hơn, nếu cùng sống với cái sầu cái khổ, cùng chia sẻ cái tủi cái nhục, cùng xót xa cái bất hạnh của người, thì chắc chắn lời nói ủi an sẽ có cung điệu khác hơn, người nghe sẽ cảm thấu tình nghĩa sâu xa hơn, và họ sẽ cảm thấy được hạnh phúc hơn.
Trong phục vụ, mọi việc đều có thể là những thử thách, và không có thử thách nào giống thử thách nào, vì thế em phải học yêu thương, học phục vụ, học cống hiến, học thứ tha Anh ạ. Chỉ có một điểm giống nhau trong mọi trường hợp là em phải cố tìm những niềm vui cho người khác bằng sự hy sinh chính mình. Mỗi lần cho đi, mình phải cảm thấy "mất mát" một cái gì đó thì nó mới thấm vào tâm tư phải không Anh? Còn nếu cứ trao ban phục vụ theo thói quen, có khi lại là tai hoạ cho người nhận, vì nhiều lúc đối tượng đáng ra được yêu thương lại trở thành kẻ "bị" thương hại.
Em nhận một cú điện thoại "khủng khiếp" làm cho tai điếc miệng câm luôn, tay chân run rẩy, trí óc quay cuồng. Giận quá, em tức thời cúp điện thoại ngay. Nhưng bình tỉnh lại thấy mình chưa đủ trưởng thành để "vác thánh giá" khi nhớ lại hình ảnh Cha Thánh cầu xin anh em lăng nhục mình, để thử thách chính mình về đức khiêm nhường; Còn em? Em nghĩ mình quá ấu trĩ, chưa nhạy bén, chưa sẵn sàng vượt qua mọi thử thách. Em nhớ câu nói của anh Phụ Trách Huấn Luyện: Có khi Chúa Thánh Thần lại huấn luyện chúng ta bằng những phương tiện như thế.
Anh ạ, làm thế nào đây Anh? Làm sao để gặp lại người nặc danh đã gọi điện thoại lăng nhục em? Em muốn tìm gặp họ để nói rằng: “Vâng, cám ơn chị, xin chị cầu nguyện để chúng ta hiểu nhau hơn.”
Thưa anh, thử thách này lạ quá, em chưa tiếp cận bao giờ. Nhưng qua thử thách này, tình yêu của em dành cho Anh càng vững vàng hơn, em sẽ cố gắng vượt qua để yêu Anh mãi.
Cám ơn Anh, vì Anh đã chỉ cho em con đường bóng mát xanh tươi, dạy cho em tính chân tình, giản dị. Cám ơn hình dáng của Anh đã chiếm ngự cách sâu thẳm và vĩnh cửu trong suy nghĩ và ước mơ của em. Xin Anh luôn dìu dắt và đồng hành cùng em Anh nhé.
Agnès Kim Gương
VẦN THƠ ĐƠN SƠ
Xin Cho Cho Con Hỏi
Lạy Thiên Chúa, xin Người cho con hỏi; Tại vì sao Chúa lại dựng nên con? Dù biết con mang thân phận mỏng giòn, Đầy tội lỗi nhưng vẫn yêu và chọn?
Con lại hỏi, tại sao Chúa chấp nhận. Một kiếp người đầy đau khổ nhục vinh? Để cho con được hạnh phúc an bình; Làm như thế, Chúa được gì đâu nhỉ?
Con lại hỏi, có được gì không nhỉ? Khi đời này, lại chọn Chúa là Cha
Yêu anh em, bốn hướng như một nhà. Sao cứ phải yêu người như yêu Chúa?
Chúa trìu mến, cất lên lời âu yếm: "Dựng nên con, vì bởi quá yêu con! Dẫu thân Ta bị xơ xác hao mòn. Dẫu thập giá treo đời Ta vạn thuở.
Ta yêu con, yêu trong từng hơi thở. Bởi vậy con, cũng hãy giống như Ta. Yêu anh em, yêu tha thiết mặn mà. Mặc ai đó, đảo điên bao càn gở.
Ngày nào đó, nữa đời con dang dở. Chào trần gian, để về bến Thương Yêu. Linh hồn con, dù xơ xác tiêu điều. Ta nâng đỡ, hồn con ta che chở.
Ta vẫn thế, yêu con hoài muôn thuở. Dẫu đời con, tội chồng lấp hồn thơ. Ta đưa con đi thanh tẩy tội nhơ. Luyện Hình đó, vì yêu Ta ban tặng."
Thế mới biết, tình Cha là vô tận. Vượt không gian, vượt xa cả thời gian. Ai chọn Cha, sẽ mãi mãi thanh nhàn. Và hạnh phúc đến muôn đời muôn kiếp.
MK
Hỡi Linh Hồn Tôi
Hỡi linh hồn tôi ơi. Xuyến xao gì không nhỉ?
Khi Giáo Hội kêu mời: Kính nhớ người ra đi!
Hỡi linh hồn tôi ơi.
Nghĩ suy gì không nhỉ
Khi tận chốn u sầu,
Bao người luôn ngước trông?
Vì được phúc Hiệp Thông . Hãy dâng lời van vỉ
Xin giữ mãi trong lòng. Lời: "Cậy vì danh Cha..."
MK
NHỮNG BÀI ĐỌC THÊM
Lời Kinh Đọc Trước Thánh Giá
Của thánh Phanxicô Assisi, nước Ý
Khách lữ hành trần gian trên đường tìm gặp Thiên Chúa cần đọc mỗi ngày để cầu nguyện cho mình và cho những ai nhờ mình cầu nguyện.

Lạy Thiên Chúa tối cao và vinh hiển,
xin chiếu rọi ánh sáng
vào cõi lòng t ăm tối của con,
xin ban cho con
đức tin ngay chính,
đức cậy vững bền,
và
đức mến hoàn hảo.
Lạy Chúa,
xin ban cho con sáng suốt và khôn ngoan
để con hiểu biết và mau mắn thi hành
ý thánh thiện,
đích thực của Chúa.
Amen.
Trên đây là lời kinh chứa đựng rất nhiều ư nghĩa mà Thánh Phanxicô đọc trước tượng thánh giá trong nhà thờ Thánh Đamianô, tại Assisi nước Ư.
Tượng thánh giá San Đamianô, từ buổi đầu của phong trào đền tội, đã trở nên một biểu tượng đặc biệt đối với gia đình Phan Sinh; và theo truyền thuyết, chính từ thánh giá này, Thánh Phanxicô đã nghe tiếng Chúa truyền lệnh cho Người: "Hãy xây dựng lại nhà Ta đang sụp đổ.”
Sau những lần ra quân thất bại, bị bắt làm tù binh, bị bệnh làm sức khoẻ suy yếu, mộng công danh, hiệp sĩ hình như đã trở nên xa vời, Phanxicô đang ở trong một tâm trạng hoang mang tăm tối, không biết phải làm gì, không biết tương lai đời mình sẽ ra sao. Phanxicô luôn hướng mắt nhìn lên trời cao, cầu khẩn Chúa ban ơn soi sáng. Một cơ may đã đưa Phanxicô đến cầu nguyện trong một ngôi nhà nguyện đổ nát hoang vắng, nhà nguyện kính thánh Đamianô. Nơi đây, Thánh đã gặp thấy tượng Chúa chịu đóng đinh đặc biệt này. Trong khi cầu nguyện và chăm chú ngắm nhìn tượng thánh giá, Thánh nhận được một ánh sáng soi rọi vào tâm trí cho Thánh thấy người đang đứng trước hai trạng huống đối nghịch nhau: trước mặt Phanxicô là một Thiên Chúa cao cả, quyền uy, vinh quang rạng ngời, và đối diện là một con người nhỏ bé hèn mọn đang sống trong một tâm trạng hoang mang tăm tối. Nét mặt của Đấng bị đóng đinh trông dửng dưng, an nhiên bình thản, không một chút gì là đau khổ mỏi mệt hay kiệt sức, khác với hình tượng thánh giá thường thấy ở những nơi khác. Tượng thánh giá đặc biệt này đã hé mở cho Phanxicô thấy Đấng bị đóng đinh đang ở trong tư thế một Vị Anh Hùng thắng trận, đã đánh bại Tử Thần, kẻ thù số một của nhân loại. Người là Thiên Chúa hiển vinh đang chiếu tỏa ánh sáng rạng ngời vào mọi cảnh đời đen tối trên khắp mặt địa cầu. Con người nhỏ bé hèn mọn đó mới thốt lên lời kinh trên, như một lời ca tụng Đức Chúa hiển vinh, và đồng thời Thánh cũng khấn xin cho mình được ơn soi sáng cùng những ơn tối cần thiết khác để làm hành trang trong cuộc hành trình đức tin. Người nhẫm trong trí và đọc đi đọc lại lời kinh này nhiều lần trong đời, và sau đó đã truyền lại cho anh em trong gia đình thiêng liêng của Ngài, như một di sản quý báu bất hủ.
Tôi đã đọc, suy nghĩ và tìm hiểu ý nghĩa của lời kinh này; dưới đây xin đuợc góp ư chia sẻ vài suy nghĩ của tôi, dựa theo sự gợi ý của linh mục tu sĩ Dòng Phan Sinh Thađêô Matura, OFM.
* Lạy Thiên Chúa tối cao và vinh hiển.
Thiên Chúa tối cao: Thiên Chúa quá cao vời, không ai có thể vươn tới được. Người là Đấng tạo thành trời đất với biển khơi, sông lạch, núi đồi cùng muông thú. Người là Đấng tạo dựng muôn loài muôn vật cùng với vũ trụ trăng sao. Người nắm giữ vận mạng của mọi sinh linh, và có quyền năng tuyệt đối trên muôn loài. Thiên Chúa vi đại. Thiên Chúa hùng mạnh.
Thiên Chúa vinh hiển: Thiên Chúa là ánh sáng, và là Đấng tạo thành ánh sáng. Thiên Chúa chói ngời rực rỡ; ánh sáng mặt trời còn kém xa, vì mặt trời, trăng sao là tạo vật của Chúa, do Chúa tạo dựng. Nếu mắt ta không thể nhìn thẳng vào mặt trời được, vì ánh sáng chói loà của mặt trời sẽ làm cho mắt chúng ta trở thành đêm tối, thì Ánh sáng của Thiên Chúa còn chói chang rạng ngời biết mấy? Mọi quân vương hiển hách trần gian, những anh hùng bách chiến bách thắng đều phải khiếp đảm rụng rời, hồn tan phách lạc, khi đối diện với Thiên Chúa tối cao, vinh hiển rạng ngời, vì nhận ra sự thật mình chỉ là hạt bụi tí ti, không có một chút trọng lượng hay giá trị nào.
Thiên Chúa tối cao và vinh hiển đáng được mọi lời tôn vinh, chúc tụng, tạ ơn, đáng được mọi người trần thế thờ lạy đến muôn thuở muôn đời.
* Xin chiếu rọi ánh sáng vào cõi lòng tăm tối của con
Nhưng Thiên Chúa tối cao và vinh hiển đó lại tỏ bày cho loài người bé mọn nhận biết và xưng tụng Ngài với một danh hiệu rất thân thương là "Cha nhân từ hay thương xót". Vì thế, con người hèn mọn đó mới dám mở miệng van xin cầu khẩn, xin chiếu rọi ánh sáng rực rỡ của Ngài vào cõi lòng tăm tối của con. Thật vậy, cõi lòng của con đang bị nhiều bức màng đen u tối bao phủ, cho nên tăm tối lắm, không hiểu biết gì về chính bản thân mình, về tương lai ngày mai sẽ ra sao, về phẩm giá, về ơn gọi của mình. Con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa cao sang, là họa ảnh của Con Thiên Chúa làm người, và như thế con người là một tạo vật cao giá nhứt của Thiên Chúa, được Thiên Chúa dưỡng dục thương yêu, nâng niu ấp ủ. Thật vậy, con người là một tạo vật vừa cao sang nhưng đồng thời lại vừa nghèo mạt, không có gì cả, và không là gì cả, trước mặt Thiên Chúa. Vì tối tăm nên con người cũng ngu muội không biết sự thật rằng mình nghèo nàn, trần trụi, bị giới hạn về mọi mặt, phải tùy thuộc và phải luôn bám chặt vào Chúa là nguồn mạch sự sống an vui hạnh phúc của mình. Hơn nữa, cũng vì tối tăm ngu muội nên con người, dù bề ngoài trông có vẻ sang trọng, lương thiện đạo đức, nhưng đã để cho con tim của mình bị ác xấu sự dữ và tội lỗi lôi cuốn chiếm ngự, nên dễ bị kích động, ra tay hành động hại người, hủy diệt mạng sống kẻ khác để thỏa mãn đam mê thú tính; không hiểu rằng khi làm như thế thì đồng thời cũng tự hủy diệt sự sống của chính mình. Con người thật ngu muội mù tối không biết tí gì về tương lai cuộc đời, không biết chọn con đường nào để đi, phải sống cách nào, mặc dầu đã có rất nhiều lần nghe tiếng Chúa phát ra từ nơi sâu thẳm của lòng mình mời gọi, dạy phải bước đi trên con đường ngay chính thánh thiện, đừng về hùa với Ác thần ma quỷ, đừng để cho ác xấu, sự dữ lan tràn, huỷ hoại công trình của Thiên Chúa nhằm xây dựng hạnh phúc cho nhân loại.
Lạy Chúa, xin chiếu rọi ánh sáng vào cõi lòng tăm tối của con; để con không còn bước đi trong tối tăm lầm lạc.
* Xin ban cho con đức tin ngay chính.
Đức tin ngay chính là một ơn huệ cao quý đầu tiên, xin cho con mắt đức tin được mở ra để nhìn thấy sự hiện diện của Thiên Chúa độc nhất là Chúa Tể. Nhìn thấy Chúa hiện diện khắp nơi, trong đời sống, để luôn đặt mình sống trước mặt Chúa, và luôn kính sợ Chúa. Xin cho được nhận biết Đức Giêsu bị đóng đinh thập giá là Thiên Chúa Cứu Độ , là Đấng Em-ma-nu-en, là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta, là Thiên Chúa tối cao và vinh hiển. Người là Chủ của muôn loài muôn vật trong vũ trụ bao la này, là Chủ của thời gian và lịch sử. "Lạy Chúa, Chúa là ai và con là ai?"
Xin ơn đức tin ngay chính để có được một cái nhìn không ảo tưởng, biết gạn lọc, một cái nhìn không bị những cái bề ngoài lừa dối mình. Xin cho được nhận biết rõ và không mơ hồ về thân phận mỏng dòn trần trụi của mình, về ơn gọi và phẩm giá của mình cũng như của người khác. Thiên Chúa thì giàu sang, tất cả mọi sự đều là của Chúa, đều thuộc về Chúa, còn con người chỉ là hạt bụi nhỏ bé, không là gì cả, không có gì cả, không làm chủ bất cứ một cái gì, sinh ra trần truồng và trở về lòng đất cũng trần truồng.
Đức tin ngay chính giúp biết rõ con người đang sống trong một xã hội chưa hoàn hảo, và hạnh phúc của nhân loại còn bấp bênh xa vời, nhưng mọi sự đang biến chuyển đổi thay không ngừng dưới sự quan phòng đầy yêu thương của Cha trên trời.
Đức tin ngay chính cũng giúp hiểu biết về người khác, để có thể thông cảm, nhẫn nại, chịu đựng lẫn nhau và đối xử với nhau cách tế nhị hơn. Xin Đức tin ngay chính để sống đời ngay chính, và cộng tác với Chúa trong chương trình xây dựng một tương lai tươi sáng hạnh phúc hơn cho mọi người.
* Xin ban cho con đức cậy vững bền.
Xin cho được vững lòng trông cậy Chúa, tin tưởng Chúa đã có sẵn chương trình tốt đẹp cho mỗi người, Chúa sẽ dẫn đưa toàn thể nhân loại đến một tương lai tươi sáng hạnh phúc. Và một khi Thiên Chúa quyền năng đã để mắt trông nom và ra tay thì mọi việc đâu sẽ vào đấy, sẽ kết thúc hoàn mỹ. Thiên Chúa không để cho một thế lực hỏa ngục nào có thể tồn tại mãi mãi làm hỏng chương trình của Người được. Thiên Chúa không bao giờ thất bại trước bất cứ âm mưu thâm độc nào của con người. "Không có gì Thiên Chúa không làm được.”
* Xin ban cho con #9; đức mến hoàn hảo
Thông thường, khi nói đến đức mến chúng ta nghĩ ngay đến lời khuyên "mến Chúa, yêu người", chúng ta thường nghĩ đến tình cảm của mình dành cho Chúa và dành cho anh em. Sự thật mà nói, đức mến không phải chỉ là chút tình cảm dành cho Chúa, cho anh em, cho người lân cận, hay cho kẻ khó. "Thiên Chúa là tình yêu... Ai ở trong tình yêu thì ở trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở trong người ấy" (1 Yn 4: 8.16). Thiên Chúa là nguồn mạch tình yêu, là "tình yêu tuyệt hảo".
Xin ban cho đức mến hoàn hảo là xin Chúa đổ xuống lòng mình chính tình yêu của Chúa, là xin cho mình có được con tim của Chúa, để có thể yêu thương mọi tạo vật như Chúa.
Tình yêu của Thiên Chúa như là một khối lửa, rực sáng, chói loà, nóng bỏng, có khả năng sưởi ấm những tâm hồn giá lạnh tê cóng mất hết cảm giác, hoặc thiêu rụi mọi rác rưởi làm nhơ bẩn tâm hồn, làm tan chảy tất cả những gì là cứng rắn nhứt, và rèn luyện con người trở thành của lễ toàn thiêu dâng lên Thiên Chúa.
Xin ban cho đức mến hoàn hảo là xin ngọn lửa tình yêu của Chúa đến với mình, thiêu đốt rác rưởi trong lòng mình, cho mình được hội nhập vào khối lửa tình yêu nóng bỏng của Thiên Chúa, để chính mình cũng trở thành một ngọn đuốc toả sáng và sưởi ấm lòng mọi người, và bắt cháy lan sang tạo vật khác.
* Xin ban cho con sáng suốt và khôn ngoan,
để con hiểu biết và mau mắn thi hành
ý thánh thiện, đích thực của Chúa.
Ơn sáng suốt và khôn ngoan cần thiết để con người khỏi bị cái bề ngoài của mọi sự vật lừa dối mình. Một khi cõi lòng tăm tối của con người đã được Thiên Chúa chiếu rọi ánh sáng vào, thì con đường mình sẽ tiến bước hiện rõ trước mắt. Và một khi đã được ban cho ơn đức tin ngay chính, đức cậy vững bền, đức mến hoàn hảo rồi, thì khách lữ hành đã có đủ điều kiện và lòng tự tin để sẵn sàng lên đường dấn thân, đem hết khả năng phụng sự Chúa và phục vụ anh em với tình yêu thương, nhưng không quên kết hợp với Chúa từng phút từng giây bằng cầu nguyện để được thêm sáng suốt và khôn ngoan mà nhận biết rõ và ra sức thi hành lệnh truyền thánh thiện và đích thực của Chúa. Vì ngay cả việc tông đồ ta làm mà không cầu nguyện, không kết hợp với Chúa, không cầu xin Chúa soi sáng giúp đỡ, không có Chúa Thánh Thần phù trợ, ta cũng làm sai ; thả lưới cả đêm mà không bắt được con cá nào ! "Không có Thầy, anh em chẳng làm được việc gì."
Đối với thánh Phanxicô, thì "lệnh truyền đích thực" của Chúa chắc hẳn là lời Chúa nói từ cõi thâm sâu trong lòng của Thánh: "Hãy xây dựng lại nhà Ta đang sụp đổ” Còn đối với chúng ta ngày nay thì đâu là "lệnh truyền thánh và đích thực của Chúa?”
Chúa Giêsu dạy: "Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Israel, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình." (Mc 12: 29-31). Chúng ta nên đọc đi đọc lại, và đọc cho kỹ “lệnh truyền" ngắn gọn đó mỗi ngày.
Chúng ta được tạo dựng, được sinh ra do tình yêu và cho tình yêu. Chúng ta chỉ sống đúng nghĩa và trọn vẹn là con Thiên Chúa khi chúng ta để cho tình yêu ngự trị nơi mình và điều khiển cuộc đời mình.
Gioakim Nguyễn văn Du; pstt
theo gợi ý của tu sĩ linh mục Thadée Matura, ofm
Vài Nét Về Đại Hội Miền
Hôm thứ Bảy ngày 20-10-2007, Ban Phục Vụ miền Thánh Phanxicô đã tổ chức ngày Đại Hội Thường Niên tại Trung Tâm Công Giáo Đại Hàn tọa lạc tại 2040 W. Artesia, Torrance, California, qui tụ khoảng 300 tham dự viên đủ các sắc dân Mỹ, Mễ, Việt, Phi, Đại Hàn, Ấn Độ.
Ngoài những thủ tục như thường lệ, năm nay có 2 thuyết trình viên là Richard Prindle và Lucky Lynch được mời đến trình bày về vấn đề giao tế trong tinh thần tôn trọng những khác biệt trong môi trường đa văn hóa.
Hai thuyết trình viên đã giới thiệu một công thức giúp cho anh chị em dễ nhớ là chữ: "RESPECT = TÔN TRỌNG"
|
R = take
RESPONSIBILITY
for what you say and feel without blaming others |
|
E = use
EMPATHETIC listening. |
|
S = be
SENSITIVE to differences in communication styles. |
|
P =
PONDER what you hear and feel before you speak. |
|
E =
EXAMINE your own assumptions and perceptions. |
|
C = keep
CONFIDENCIALITY. |
|
T =
TRUST ambiguity because we are
NOT here to debate who is right or wrong. |
|
Xin tạm dịch như sau: |
|
R
= gánh
TRÁCH NHIỆM về lời nói, cảm nghĩ của mình chứ | | |