Mọi thư từ liên lạc, xin gửi về PSTTVNUSA@YAHOO.COM. Copyright © 2002 WWW.PSTTVNUSA.NET. All rights reserved.
 

NỘI DUNG HÀNG THÁNG (10-2007)

 

 

 

 

 


 

 

MỪNG KÍNH THÁNH TỔ PHỤ

PHANXICÔ ASSISI

 

Trong Số Này:
TÂM SỰ HẰNG THÁNG
 

Yêu Như Cha Thánh Đã Yêu

HỌC HỎI LỜI CHÚA
 

Lòng Tin Và Thái Độ Sẵn Sàng Phục Vụ

LINH ĐẠO PHAN SINH
  Sống Linh Đạo Phan Sinh Tại Thế
GIÁO LƯ TÓM LƯỢC
  Bài 46: Các Con Đầu Lòng
LỜI KINH MỖI THÁNG
  Thập Giá Chúa Kitô
HÔN NHÂN GIA Đ̀NH
  Bài 12: Gia Đình; Cung Thánh Của Sự Sống
NHỮNG BÀI ĐỌC THÊM
   
CẦU NGUYỆN CHO NHAU
   
THÔNG BÁO TIN TỨC
   

 
 

Yêu Như Cha Thánh Đã Yêu

Thưa quí anh chị,

Thiên Chúa đã ban cho con người tình yêu và dạy cho con người biết thương yêu. Vì thế, ngay từ bé, những Kitô hữu đã học bài học đầu đời là kính Chúa yêu người; yêu người như yêu mình, yêu nhau như Chúa yêu; và để cho mỗi người tự chọn cách yêu thương và thể hiện tình yêu của riêng mình.

Người thì chọn con đường tận hiến, dâng cả cuộc đời cho Chúa. Người thì biểu lộ tình yêu bằng sự hy sinh cho những người thân trong mái ấm gia đình. Người thì sống âm thầm lặng giữa đời, bên cạnh những người cô độc, bệnh hoạn, tật nguyền. Người thì chọn linh đạo Phan Sinh vì muốn làm người Kitô hữu Phan Sinh, muốn bắt chước cách sống của Thánh Phụ Phanxicô: vui tươi, hy sinh, quên mình, là sứ giả hoà bình, là khí cụ bình an của Thiên Chúa, là mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người…

Ngày xưa, khi chọn Chúa Kitô làm ‘người yêu’, Cha Thánh đã khao khát được đồng hình, đồng dạng với Chúa Kitô. Ngài dốc lòng thể hiện tình yêu của mình bằng cách từ bỏ tất cả những gì thuộc về trần gian như: bản thân, gia đình, tiền tài, danh vọng… và chỉ say mê vác thập giá theo Đấng mà mình đã chọn.

Khởi đầu đường tình là hoán cải, hành lý mang theo là niềm tin tuyệt đối vào ‘người yêu’. Trái tim thì chất đầy đức ái. Nền tảng của tình yêu là lắng nghe, là thao thức kiếm tìm, là thực hành Lời của Thiên Chúa qua cách sống ‘tình huynh đệ, nghĩa mọn hèn’. Nơi nào Cha Thánh ghé đến thì Tin Mừng được gieo rắc, yêu thương ngự trị, niềm vui lan toả, khổ đau biến mất, oán thù tiêu diệt, bình an chan hoà. Nơi nào Cha Thánh tìm đến, thì nước Chúa lan rộng theo mỗi bước chân của ngài, -vì cả đời ngài chỉ biết phụng sự Chúa trong mọi người, và sống trọn vẹn trong vai trò của một ‘sứ giả hoà bình’. Năm Dấu Thánh mà Thiên Chúa đã ân ban cho ngài khi còn sống đã nói lên tình yêu tuyệt đối của ngài đối với Thiên Chúa; và là dấu chứng của một tình yêu vĩ đại, cao cả mà ‘người yêu’ của ngài đã đáp đền cho ngài.

Nhân ngày giỗ Cha Thánh, bên cạnh tâm tình mừng kính còn là cơ hội để nhìn lại mình, nhìn lại con đường tại thế mà mình đã đi qua… Phải chăng, tôi vẫn cứ là tôi, vẫn với con người cũ rích của mình, vẫn sống cho mình, vẫn với con tim khép kín không một lần tưởng nghĩ tới tạo vật. Yêu Cha Thánh nhưng chẳng yêu anh em. Học biết giáo huấn của Cha Thánh nhưng vẫn không muốn thực hành. Muốn làm sứ giả hoà bình nhưng trái tim không một lần cởi mở. Muốn hy sinh nhưng lại sợ thiệt thòi. Muốn đến với tha nhân nhưng vẫn chùn chân vì nhiều toan tính. Muốn phục vụ cho đời nhưng lòng mãi hơn thua. Không muốn nhìn đến người bên cạnh đang đói lã. Không muốn nghe lời trần tình đầy nước mắt của những người đang lâm cảnh thương đau. Không muốn nhìn thấy sự hụt hẫn cô độc đang giết dần tâm hồn của những người cô độc. Chẳng động lòng trước những tấm thân còm cỏi, mái tóc bạc phơ lang thang giữa đời. Vẫn vô tâm trước ánh mắt thèm khát một vòng tay yêu thương của những em bé lang thang trên vĩa hè, hay tiếng rên than của các bệnh nhân hay kẻ tật nguyền. Không muốn nở nụ cười với người mình không ưa thích. Không muốn cúi chào những người tài giỏi hơn mình. Không bắt tay với người bất đồng ý kiến. Và hình như chưa một lần biết nguyện cầu cho người mà mình không ưa thích…

Lạy Cha Thánh Phanxicô. Chúng con cám ơn Cha đã chọn và yêu chúng con; dù chúng con bất xứng. Trước khi bước vào nếp sống Phan Sinh, chúng con đã tự nhủ rằng: "Hãy cố gắng để trở nên một người Phan Sinh đúng nghĩa." Thì giờ đây, xin Cha hãy đồng hành với chúng con, nhắc nhở chúng con bài học đầu đời mà chúng con đã học là: "Yêu Chúa, Yêu Người chính là giới răn của Thiên Chúa và cũng là linh đạo của ngài truyền lại cho chúng con". Xin ngài dẫn dắt chúng con bước đi cho trọn con đường mà ngài đã khai mở để chúng con sớm thành những sứ giả hòa bình như lòng ước nguyện.

â BBT

Trở về mục lục >>

 

Lòng Tin Và Thái Độ Sẵn Sàng Phục Vụ

(Luca 17,5-10 - CN XXVII TN - C)


17:5 Các Tông Đồ thưa với Chúa Giê-su rằng: "Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con". 17:6 Chúa đáp: "Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này: "Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc", nó cũng sẽ vâng lời anh em. 17:7 "Ai trong anh em có người đầy tớ đi cày hay đi chăn chiên, mà khi nó ở ngoài đồng về, lại bảo nó: "Mau vào ăn cơm đi", 17:8 chứ không bảo: "Hãy dọn cơm cho ta ăn, thắt lưng hầu bàn cho ta ăn uống xong đã, rồi anh hãy ăn uống sau!"? 17:9 Chẳng lẽ ông chủ lại biết ơn đầy tớ vì nó đã làm theo lệnh truyền sao? 17:10 Đối với anh em cũng vậy: khi đã làm tất cả những gì theo lệnh phải làm, thì hãy nói: chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi".

1.- Ngữ Cảnh

Đức Giêsu tiếp tục giáo huấn về đời môn đệ. Hôm nay, qua lời Người nói về cách tin và sức mạnh của lòng tin mà Người chờ đợi nơi những ai đi theo Người, ta thấy được một phương diện khác của đời môn đệ (17,5-6). Trước đó, Người đã dạy họ về sự tha thứ vô giới hạn (17,3-4). Đây là một bổn phận khó khăn, và các tông đồ hiểu là các ông có thể thất bại nếu không có kiên nhẫn và sức mạnh của tình yêu. Đồng thời các ông cũng nhận thấy rằng đức tin của các ông vào Thiên Chúa quá yếu kém. Tuy nhiên, các ông không buông rơi cuộc chiến đấu, các ông không tìm cách giảm thiểu nhiệm vụ hay làm cho các gánh nặng ra nhẹ đi, nhưng các ông xin Đức Giêsu ban cho một đức tin lớn hơn.

Sau đó, trong những giáo huấn cuối cùng, Đức Giêsu nói về tính cách không đáng kể của việc phục vụ của các môn đệ. Khi đặt lời Người nói vào đây, trong bài tường thuật về cuộc hành trình lên Giêrusalem, tác giả Lc nêu bật tương quan giữa việc phục vụ và tư cách của Kitô hữu.

2.- Bố cục

Bản văn có thể chia thành hai phần:

1) Đức tin (17,5-6);

2) Dụ ngôn Người tôi tớ (17,7-10).

3.- Vài điểm chú giải

- xin thêm lòng tin (5): Câu này có thể hiểu là: xin thêm đức tin vào niềm tín thác mà chúng con đã có, hoặc thêm tin tưởng vào những ân huệ khác mà chúng con đã lãnh nhận. Dựa theo văn cảnh, có thể ưu tiên hiểu theo nghĩa đầu.

- Hạt cải (6): Tiếng Hy-lạp là kokkos sinapeôs, tiếng pháp là graine de moutarde, tiếng anh là mustard seed. Cây sinapi (ta tạm dịch là "cây cải") là một loại cây thông dụng bên Paléttina, có thể cao tới ba hoặc bốn thước, dạng mộc với các cành tỏa rộng. Hạt của nó không phải là nhỏ nhất trong các loại hạt, nhưng nhỏ nhất trong các loại hạt được người ta gieo trồng, được dùng làm mù-tạc và được tục ngữ Do-thái dùng mà chỉ những gì nhỏ nhất.

- cây dâu (6): Từ Hy-lạp sykaminos (1 V 10,27; 1 Sb 27,28… LXX) để dịch từ Híp-ri shiqmâh; thế mà shiqmâh là "cây sung" (Hl sykomorea, "sycamore"). Vậy hẳn sykaminos ở đây cũng là sykomorea ở Lc 19,4: tác giả Lc dùng không phân biệt hai từ này. Dù sao, tác giả muốn nêu ra hình ảnh một cây khá to.

- đầy tớ (7): Tiếng Hy-lạp là doulos (pháp: esclave [serviteur ]; anh: slave [servant ]): người nô lệ hoàn toàn lệ thuộc người chủ và đón nhận mọi sự từ người chủ như những ân huệ (x. Tv 123,2). Dụ ngôn này không có ý nói về cách xử sự của Thiên Chúa đối với con người, nhưng cho thấy vị trí của con người trước nhan Thiên Chúa.

- lại bảo nó…? (7): Câu hỏi này chờ đợi câu trả lời là "không".

- Chẳng lẽ ông chủ lại biết ơn…? (9): Câu hỏi này chờ đợi câu trả lời là "không".

- vô dụng (10): Từ Hy-lạp là achreios có nghĩa chữ là "vô ích, vô dụng" (inutile), nhưng ở đây, nghĩa thích hợp hơn, đó là "không sinh lợi lộc" (unprofitable), bởi vì chỉ làm đúng bổn phận. Bản dịch đại kết (TOB, tiếng pháp) dịch là quelconque (= bon à rien), Bản NAB dịch là unprofitable, Bản New International Version dịch là unworthy.

4.- Ý nghĩa của bản văn

* Đức tin (5-6

Chúng ta không biết động lực nào đã thúc đẩy các tông đồ xin Đức Giêsu thêm lòng tin cho các ông. Rất có thể đó là những khó khăn trong cuộc sống của những người đi theo Đức Giêsu, như ta hé thấy ở Lc 17,1-4. Đức Giêsu đã trả lời các tông đồ không phải bằng cách cho một định nghĩa về đức tin mà bằng cách ca ngợi sức mạnh của lòng tin, với những hình ảnh có vẻ phi lý; Người nhấn mạnh hơn nữa tầm quan trọng của đức tin. Nếu người ta có một lòng tin tưởng chân chính và thực hữu nơi Thiên Chúa, thì sẽ xảy ra điều không sao làm được theo các tiêu chuẩn loài người. Để diễn tả điều này, Đức Giêsu dùng các hình ảnh là "chuyển núi dời non" (x. Mt 17,20) hoặc "nhổ bật rễ cây dâu mà trồng xuống biển". Người muốn nói rằng lòng tin, dù nhỏ bé, luôn luôn là hiệp thông với Thiên Chúa, tức là thông dự vào quyền lực của Ngài, mà đối với quyền lực Thiên Chúa thì không có gì là giới hạn cả. Cho dù Thiên Chúa có đặt người môn đệ trước những nhiệm vụ và đòi hỏi nhìn bề ngoài thì thấy không thể làm được, Ngài vẫn có thể giúp họ có khả năng thực hiện được. Cho dù Ngài hứa một điều loài người thấy là không thể làm được, Ngài vẫn có thể làm được: trong dạng triệt để nhất, điều này xảy ra với việc kẻ chết sống lại. Chính vì thế Đức Giêsu đã nói với những kẻ được Người giúp đỡ: “Lòng tin của con đã cứu con" (7,50; 8,48; 17,19; 18,42).

* Dụ ngôn Người tôi tớ (7-10)

Dụ ngôn được kể trong các câu 7-10 có thể coi như một xác định lập trường đối lập lại với giáo lư của người Pharisêu về việc ban thưởng cho các việc lành (x. Lc 18,18: "tôi phải làm gì?"; Lc 18,11-12: người Pharisêu lên đền thờ cầu nguyện). Nền tảng của tương quan của chúng ta với Thiên Chúa hệ tại sự kiện Ngài là Chúa của chúng ta, nên chúng ta phải quan tâm đến và thi hành ý muốn của Ngài. Chúng ta không phải là những chủ nhân tự do và độc lập, vì Thiên Chúa luôn luôn có điều gì đó để nói với chúng ta. Tuy nhiên, trước khi yêu cầu chúng ta điều gì, Ngài đã ban cho chúng ta rất nhiều ân huệ rồi: sự sống, các khả năng... Chúng ta mắc nợ Thiên Chúa về cuộc sống, nên từ nơi Ngài, phát xuất các bổn phận của chúng ta. Ngài xác định cho chúng ta đâu là con đường phải theo và đâu là mục tiêu. Chúng ta chịu trách nhiệm trước nhan Ngài và chúng ta sẽ phải trả lời với Ngài. Đồng thời, chúng ta cũng phải biết rằng Ngài không yêu cầu chúng ta điều vì võ đoán và phi lý. Chúng ta phải tôn trọng Ngài và nhìn nhận Ngài là Đấng tạo hóa và Chúa của chúng ta. Đối với người anh em, chúng ta phải kính trọng và gán cho họ phẩm giá của chính chúng ta. Như vậy, chúng ta sẽ phải hành động như những người quản lư trung thành, có trách nhiệm. Khi làm mọi việc, chúng ta phải ý thức rằng mình chỉ làm các việc bổn phận mà thôi. Tuyệt đối không bao giờ được tưởng rằng mình đã ban một ân huệ cho Thiên Chúa khi tuân giữ các giới răn của Ngài và chu toàn các bổn phận của chúng ta.

Dụ ngôn này cũng được các nhà chú giải hiểu là được ngỏ riêng với các thủ lãnh trong Hội Thánh: Các ngài đừng dừng lại nghỉ ngơi vì cho rằng mình đã làm đủ rồi. Đức Giêsu gợi lại hoàn cảnh xã hội thời đó, có chủ nhân và nô lệ với tương quan được xác định rõ ràng. Nô lệ luôn luôn phải đưa mắt nhìn về phía chủ mà đón nhận mọi mệnh lệnh. Khi thi hành các mệnh lệnh, nô lệ chỉ làm "việc bổn phận" mà thôi. Tất cả thì giờ, tài nguyên, sức lực của con người phải được tận dụng mà phục vụ Thiên Chúa. Rồi khi đã chu toàn công việc, con người không được khoe khoang hoặc đòi hỏi những quyền lợi hoặc phần thưởng đặc biệt. Tác giả muốn khẳng định rằng nơi người tín hữu, mọi sự đều là ơn Chúa, lòng tin cũng là một ơn Chúa. Tất cả những gì con người nhận được đều không hề tỷ lệ với những gì họ đã làm. Mọi sự đều là hồng ân phát xuất từ lòng nhân lành và từ bi của Thiên Chúa, chứ không do một khoản hợp đồng giao kèo nào cả.

+ Kết Luận

Đức tin là niềm tín nhiệm không lay chuyển rằng Thiên Chúa có quyền năng vượt mọi mức độ loài người; Ngài đầy tình yêu, Ngài không quên chúng ta, Ngài hướng dẫn chúng ta đến chỗ thành toàn. Với cái nhìn đức tin, chúng ta hiểu mình chỉ là những tôi tớ, lại là tôi tớ "vô dụng" vì chỉ biết làm những việc phải làm. Hiểu như thế chẳng hề làm chúng ta nản chí, bởi vì chúng ta biết rằng mọi sự là của Thiên Chúa, là do Ngài. Được làm việc cho Ngài đã là một vinh dự rồi, thì sao lại còn chờ đợi có phần thưởng? Và như thế, cuộc sống mai sau cũng là một hồng ân.

5.- Gợi Ý Suy Niệm

1. Đứng trước các trách nhiệm cũng như các khó khăn của cuộc đời, chúng ta noi gương các tông đồ, không tránh né, không tìm cách giảm thiểu, nhưng xin Chúa Giêsu ban thêm đức tin. Chúng ta xin Người giúp kết hợp sâu xa hơn với Thiên Chúa. Chỉ duy Thiên Chúa mới có thế giúp đỡ chúng ta làm những việc mà người đời nghĩ rằng sức con người không sao làm nổi.

2. Nhờ đức tin, người tín hữu mở lòng ra đón lấy sự giúp đỡ của Đức Giêsu và như thế họ được chính quyền năng của Người đến hỗ trợ. Cho dù đức tin của họ nhỏ bé, cho dù nó chỉ như một hạt cải, nếu nó thực sự là đức tin đặt nơi Ngài, thì chính Thiên Chúa sẽ làm cho họ tiến tới. Điều cần thiết là họ không khép lòng lại với Ngài, ít ra họ giơ bàn tay về phía Ngài. Thiên Chúa sẽ không để họ phải té ngã. Ngài sẽ nắm chắc bàn tay của họ và dẫn đưa họ tới đích.

3. Không chỉ khuyên chúng ta tin, Chúa Giêsu còn cầu nguyện cho niềm tin của chúng ta, như Người đã từng nói với Phêrô: "Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất lòng tin" (Lc 22,32). Bằng cách đó, Đức Giêsu đưa lời thỉnh cầu của các môn đệ là được thêm lòng tin đến chỗ thành toàn viên mãn. Chính Người ngỏ lời với Chúa Cha để gửi gắm các môn đệ. Chúng ta được mời gọi cầu nguyện cho mình, cho nhau, đồng thời chúng ta cậy dựa vào lời chuyển cầu của Chúa Giêsu.

4. Khi đọc Dụ ngôn Người tôi tớ, chúng ta không nên đi lạc sang đề tài "chủ nô" của triết học Tây phương, cũng đừng chạnh lòng về mặt luân lý mà cho rằng Thiên Chúa chỉ coi chúng ta như những nô lệ! Trong Tin Mừng Luca, không thiếu những đoạn văn nói về những tương quan và thái độ của Thiên Chúa đối với con người với nội dung hoàn toàn khác (x. 11,5; 15,3-7; 15,11-32;...). Ở đây, tác giả chỉ nhắc lại một hoàn cảnh quen thuộc với các thính giả để rút ra những bài học thần học. Đó là: người tín hữu, người môn đệ hoặc người tông đồ phải có thái độ khiêm tốn, mà không nô lệ, ở trước nhan Ngài, nhất là đối với những đề nghị của Ngài.

5. Bởi vì Chúa Giêsu nhấn mạnh rằng người môn đệ chỉ là một "tôi tớ" và là tôi tớ "vô dụng", chúng ta hiểu rằng: chu toàn các nhiệm vụ được giao phó không nhất thiết bảo đảm cho phần rỗi của mình; khi đã làm tất cả những việc được giao rồi, người môn đệ vẫn ư thức rằng cuộc sống đang chờ mình ở bên kia thế giới cũng là một ân huệ. Như thế, quả thật, không có chỗ nào dành cho sự vênh vang, tự hào tự mãn cả.

6. Đôi khi chúng ta có thể nghĩ rằng nếu chúng ta cầu nguyện, nếu chúng ta ra sức bước theo nẻo chính đường ngay, thì Thiên Chúa phải biết ơn chúng ta. Quả thật, Thiên Chúa vui mừng về những cố gắng của chúng ta, nhưng không phải vì thế mà chúng ta có thể tự hào rằng chúng ta đã làm cho Ngài vui thích. Thiên Chúa không hề lệ thuộc vào bất cứ điều gì chúng ta làm cả. Ngài không cần lời cầu nguyện của chúng ta, Ngài cũng không cần nỗ lực của chúng ta để sống với người khác. Chính chúng ta mới cần sống cho tương hợp với ư nghĩa của đời sống chúng ta, để trở thành những con người trung thực. Tuy nhiên, chúng ta cũng biết rằng Thiên Chúa không bao giờ thua chúng ta về sự tốt lành và quảng đại. Là Đức Chúa, Ngài sẽ cho các tôi tớ trung thành ngồi vào bàn ăn và phục vụ họ (12,37).

â Lm. F.X. Vũ Phan Long, ofm

 

Trở về mục lục >>

 

Sống Linh Đạo Phan Sinh Tại Thế

3.- Điều 23tt

Trong mấy bài trước, chúng tôi chia sẻ với quý anh chị về ba thời kỳ huấn luyện trong huynh đệ đoàn. (Tìm Hiểu, Khởi Huấn, và Thường Huấn). Luật Dòng điều 23 này còn nói tiếp đến giá trị của lời khấn như sau: “Lời tuyên khấn có giá trị ràng buộc vĩnh viễn." Mới nghe thấy chi tiết này của điều Luật, nhiều anh chị em ở thời kỳ huấn luyện khởi đầu (chuyên tập) rất lo lắng và phân vân. Chúng tôi đã phải bỏ ra rất nhiều thời gian để ổn cố tinh thần của một số tập viên, vì họ sợ hãi, không dám dấn thân. Để giúp những người hay lo sợ như thế, ta hãy phân tích vài điểm dưới đây:

1)- Giá trị ràng buộc: Người Phan Sinh Tại Thế nên phân biệt Tuyên Khấn, Tuyên Thệ, Tuyên Hứa. Chúng tôi không có ý giải nghĩa từng từ ngữ, nhưng chỉ muốn nói là trong Dòng Phan Sinh Tại Thế, chúng ta có sự Tuyên Khấn. Lỗi lời thề có xảy ra thì cũng ít khi gây ra sự bất an vì là không có tội. Lỗi lời hứa thì là chuyện thường tình. Nhưng lỗi Lời Khấn thì có tội. Rất may, người Phan Sinh Tại Thế có lỗi lời khấn, thì giáo hội vẫn khoan dung tha cho cái tội gọi là Tội-Lỗi-Lời-Khấn. (Chỉ còn lại bản chất của tội Lỗi-Điều-Răn mà thôi)

Lời khấn của người Phan Sinh Tại Thế là lời khấn công khai, được giáo hội công nhận. Tổng Hiến Chương, điều 42.2 có đoạn viết như sau: "Việc dấn thân tháp nhập ứng sinh vào Dòng Phan Sinh Tại Thế tự bản chất là vĩnh viễn, nhưng trước đó cũng có thể dấn thân có thời hạn từng năm một và không được quá ba năm.”

Chúng ta nhìn từ hai góc độ: Lời tuyên khấn "tự bản chất là vĩnh viễn". Nếu có một ứng sinh nào nghĩ rằng cứ khấn tạm đi một năm cho xong, sau sẽ hay (!) thì không nên, vì như thế chẳng khác gì thử thách Chúa. "Cầm cày mà còn quay nhìn trở lại" (!) cho nên dầu khấn tạm một năm, thì cũng phải có ý định tìm về căn nguyên của Lời khấn "tự bản chất là vĩnh viễn", có nghĩa là đã quyết theo, thì quyết theo đến cùng, hoán cải trọn đời. Cũng vì bản chất vĩnh viễn của lời tuyên khấn, cho nên một khi đã khấn vĩnh viễn, thì trong mọi trường hợp, nó vẫn có giá trị suốt đời, kể cả khi mắc ngăn trở không thể sinh hoạt với huynh đệ đoàn hoặc cả toàn Dòng.

"Có thể dấn thân có thời hạn..." Khác với trường hợp trên, nếu vì một lý do nào đó mà ứng sinh muốn ơn gọi chín mùi hơn, hoặc Hội Đồng xét duyệt muốn dành thời gian nhiều hơn cho ứng sinh, thì ứng sinh đó có thể khấn tạm một năm. Lúc đó huynh đệ đoàn cố gắng giúp đỡ cho người khấn tạm ấy để có thể bảo tồn ơn gọi. Thời hạn để khấn tạm không được quá ba năm, vì thế, trong thời hạn ba năm ấy, huynh đệ đoàn cũng như khấn sinh (tạm) ấy phải nỗ lực vượt qua mọi khó khăn để tiếp tục dấn thân vĩnh viễn.

2). Trong một vài trường hợp hiếm hoi, nếu một người Phan Sinh Tại Thế (đã khấn trọn) không thể sinh hoạt với đoàn được nữa, thì Luật dạy như sau: "Những anh chị em gặp khó khăn đặc biệt có thể bàn giải các vấn đề của mình với Hội Đồng huynh đệ đoàn địa phương qua đối thoại huynh đệ" Thường những ca như thế này rất hiếm, nhưng cũng là lý do cho chúng ta phải suy nghĩ. Đã có lần anh chị em không thế sinh hoạt với huynh đệ đoàn, chỉ vì cả hai bên vụng về trong cách đối xử, thiếu tinh thần huynh đệ, hoặc chưa tôn trọng cá tính của nhau, gây nên hiểu lầm. Vì vậy, Tổng Hiến Chương đã đề cập rất chi tiết đến việc "Thuyên chuyển" (điều 55) “Những biện pháp tạm thời” (điều 56, 57), “Biện pháp cuối cùng" (điều 58, 59, 60). Chúng ta sẽ có dịp trở lại vấn đề này một ngày gần đây, khi bàn đến các nhiệm vụ của Hội Đồng. Ở đây chúng ta ghi nhận một điều là luật Dòng cũng như Tổng Hiến Chương đã tôn trọng và đề cao vừa là tinh thần Phan Sinh, vừa là tính nhân vị.

Về điều này, chúng tôi có những đề nghị cá nhân: Là người Phan Sinh Tại Thế, bất kỳ ở cấp bậc nào -là lãnh đạo, là phục vụ, là thành viên- đều đặt nặng tình người, tình anh em trên luật lệ. Xin đừng ai chỉ chú trọng đến những từ ngữ “xiết cổ” như là "dân chủ", "quyền hạn", "nguyên tắc hành chính", rồi trút hết trách nhiệm cho "đối phương”, và không nghĩ đến “tình của ta" đối với anh em. Chúa đã nói: "Ngày Sabat được làm ra vì con người, chứ không phải con người vì ngày Sabat" (Mac 2,27). Đành rằng mọi chuyện cứ phải theo Luật và Hiến chương mà xử, nhưng tiên vàn phải nghiên về Luật Tình Yêu. Chúng tôi xin mượn lời của bài thánh ca "Nếu Không Có Tình Yêu" (nhạc sĩ Cao Huy Hoàng) để nói lên nguyên tắc sống trong cộng đoàn: "Một người không biết yêu ai, là người không biết yêu mình. Một người không biết cho ai, là người nghèo trắng đôi tay... Một người không lắng nghe ai, là người đánh mất đôi tai; Một người hơn thua từng ngày, là người ham sống trong đoạ đày."

Chỉ có người biết Yêu, và Cho, người ấy mới thật là người".

â Phêrô Nguyễn Đức Tiến; sfo

 

Trở về mục lục >>
 

Bài 46: Các Con Đầu Lòng

(Xh 13,1-2. 11-16)

Đêm cứu độ cho dân It-ra-en lại là một đêm chết chóc cho Ai-cập. Trước kia Pha-ra-ô đã có ý giết chết chẳng những là các con đầu lòng, mà còn là tất cả các trẻ nam của dân It-ra-en (Xh 1,16) Quyết định tàn bạo của ông đã quay lại chống ông. Bây giờ chính các con đầu lòng của Ai cập trở thành nạn nhân do sự cứng lòng của ông. Pha-ra-ô và dân tộc Ai cập đã không chịu nhìn nhận quyền bính của Gia-vê, Thiên-Chúa của dân It-ra-en, thì đã bị trừng phạt: các con đầu lòng của Ai-cập đã bị chết, còn các con đầu lòng của It-ra-en lại được cứu thoát. Biến cố này đã tạo dịp thuận lợi cho dân It-ra-en ra đi an toàn. Vì thế người It-ra-en đã xem đó như một "hình phạt" cho dân Ai-cập và là một ân huệ cho họ. Từ nay, trong dân It-ra-en, mọi con đầu lòng của loài người và của súc vật đều thuộc về Thiên-Chúa và phải dâng cho Người. Tuy nhiên các con đầu lòng của loài người thì được "chuộc lại" (Xh 13,13; Lc 2,23). Dân It-ra-en sẽ không bao giờ được phép sát tế các con đầu lòng của mình làm của lễ theo kiểu các dân ngoại vì chúng đã thuộc về Gia-vê, và Gia-vê tôn trọng sự sống của chúng.

Như vậy phải chăng Thiên Chúa không thương yêu những người Ai-câp? Tại sao Người đã cứu thoát những người It-ra-en với giá máu của những người Ai-cập? Để trả lời câu hỏi này chúng ta phải nhìn lịch sử cứu độ từ phía sau. Trong thư gửi cho Ti-mô-thê thánh Phao-lô đã viết: "Thiên-Chúa, Đấng cứu độ, muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý" (1Tm 2,4). Thánh Tông đồ còn giải thích rõ ràng hơn ở chỗ khác: "Đức Ki-tô đã liên kết đôi bên, dân Do-Thái và dân ngoại, thành một. Người đã hy sinh thân mình để phá đổ bức tường ngăn cách là sự thù ghét" (Ep.2,14). Để đạt tới mục đích đó, Thiên-Chúa phải thực hiện dần dần kế hoạch của Người. Vì thế ở thời điểm xuất hành, phúc cứu độ dành cho dân It-ra-en còn có tính cách bất toàn và tạm thời. Nó còn là hình bóng cho phúc cứu độ hoàn hảo và vĩnh viễn mà ông Mô-sê mới tức là Đức Ki-tô sẽ thực hiện và trao tặng cho tất cả mọi người.

â Lm. Norbert Nguyễn Văn Khanh, ofm


Trở về mục lục >>
 

Thập Giá Chúa Kitô

Lạy Chúa, Chúa đã xuống thế làm người. Chúa đã đi qua những con đường gian nan nhất, đau thương nhất để mang bình an và hạnh phúc vĩnh cữu đến cho chúng con. Nhưng chúng con đã đành tâm chối từ tình yêu Chúa.

Chúa đã thấy hết những tấm lòng, những trái tim, những tâm hồn của chúng con: Có những trái tim khép cửa khi Chúa muốn viếng thăm, có những tâm hồn đã lạnh băng mà vẫn không đón nhận Lời Hằng Sống nồng ấm của Chúa; Tất cả đều chối từ và xua đuổi Chúa… làm cho con đường của Chúa càng thêm gập ghềnh, gian nan, đau khổ… Nhưng Chúa vẫn không dừng chân, không lùi bước. Chúa vẫn bước, bước mãi… Để nhờ vào tình yêu áy mà chúng con được sống.

Lạy Chúa, chúng con thờ lạy Tình Yêu Chúa, chúng con cảm tạ, chúc tụng, ngợi khen tình yêu Chúa đến muôn đời. Amen.

 Maria

Trở về mục lục >>
 

 

Bài 12: Gia Đình; Cung Thánh Của Sự Sống

Kinh Thánh: Ga 10,11-15

10:11 Tôi chính là Mục Tử nhân lành, Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. 10:12 Người làm thuê vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn, 10:13 vì anh ta là kẻ làm thuê và không biết gì đến chiên. 10:14 Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi và chiên của tôi biết tôi. 10:15 như Chúa Cha biết tôi và tôi biết Chúa Cha, và tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.

Suy Tư: Nhiệm vụ cơ bản của gia đình là phục vụ sự sống, là thể hiện trong lịch sử lời chúc lành nguyên thủy của Đấng Sáng Tạo -là chuyển trao từ người này sang người kia hình ảnh thần thiêng nhờ sự sinh sản.

Gia Đình và Sự Sống: Một cặp không thể tách lìa. Gia đình có một trách nhiệm dứt khoát; trách nhiệm này phát xuất từ chính bản chất của nó là một cộng đoàn sự sống và tình yêu, được xây dựng trên hôn nhân, và từ sứ vụ của nó là giữ gìn, tỏ lộ và thông ban tình yêu. Đây là vấn đề Tình yêu của chính Thiên Chúa, mà cha mẹ là những người cộng tác, và do đó là người diễn xuất khi chuyển giao sự sống và giáo dục của chúng theo kế hoạch của Chúa Cha. Đó là một tình yêu đã trở nên vị tha, đón nhận và quà tặng. Trong gia đình mỗi thành viên được đón nhận, tôn trọng và kính trọng chỉ bởi vì người ấy là một nhân vị; và nếu bất cứ thành viên nào của gia đình càng thiếu thốn, sự chăm sóc mà người ấy nhận được lại càng mãnh liệt và ân cần.

Gia đình có một vài trò đặc biệt cần chu toàn suốt cuộc sống của các thành viên, từ lúc sinh ra cho tới khi chết đi. Nó là cung thánh đích thực của sự sống. -quà tặng của Thiên Chúa, có thể được tiếp nhận cách thích đáng và được bảo vệ chống lại nhiều tấn công mà gia đình gặp phải, và có thể phát triển phù hợp với những đòi hỏi của một tăng trưởng nhân bản đích thực. Vì thế vai trò của gia đình trong việc xây dựng một văn hoá của sự sống là quyết định và không thể thay thế được.

Như một Giáo hội tại gia, gia đình được mời gọi loan báo, cử hành và phục vụ Tin Mừng của sự sống. Đó là một trách nhiệm liên quan trước tiên đến đôi vợ chồng, vì họ được mời gọi trở nên những người ban phát sự sống, trên nền tảng của một ý thức càng ngày càng lớn hơn về ý nghĩa của sự sinh sản như một biến cố duy nhất mạc khải rõ ràng rằng sự sống con người là một quà tặng được nhận lãnh để rồi sau đó trao ban như một quà tặng. Khi sinh ra một sự sống mới, cha mẹ nhận ra rằng đứa con, kết quả của quà tặng hỗ tương của họ là tình yêu, đến lượt mình, lại là một quà tặng cho vợ chồng, một quà tặng phát xuất từ họ.

Dạy Cho Con Cái Biết Kính Trọng Sự Sống: Nhất là chính qua việc giáo dục con cái mà gia đình chu toàn sứ vụ loan báo Tin Mừng của sự sống. Bằng lời nói và gương sáng, qua các tương quan và chọn lựa mỗi ngày, và qua những hành động và dấu chỉ cụ thể, cha mẹ dẫn dắt con cái đến sự tự do đích thực, được thể hiện qua việc chân thành hiến tặng bản thân, và họ vun trồng trong tâm hồn chúng lòng kính trọng đối với kẻ khác, một ư thức về công bình, thân ái cởi mở, thao đổi, quảng đại phục vụ, liên đới và tất cả các giá trị khác giúp dân chúng sống sự sống như một quà tặng.

Dù gặp phải khó khăn trong việc giáo dục, khó khăn thường rất lớn vào ngày hôm nay, cha mẹ phải tin tưởng và dũng cảm đào luyện con cái theo những giá trị cốt yếu của đời sống con người. Con cái phải lớn lên trong một thái độ đúng đắn là sự tự do đối với của cải vật chất, khi tuân theo một lối sống đơn giản và mộc mạc và hoàn toàn xác tín là con người thì quí giá hơn cái mà nó là, hay cái mà nó có.

Khi dạy dỗ con cái cha mẹ Kitô hữu phải quan tâm đến đức tin của con cái và giúp chúng chu toàn ơn gọi mà Thiên Chúa đã ban cho chúng. Sứ vụ của cha mẹ trong tư cách những nhà huấn luyện cũng bao gồm việc dạy dỗ và trao ban cho con cái một gương sáng về ý nghĩa đích thực của đau khổ chung quanh họ, và hơn thế nữa nếu họ thành công trong việc cổ võ thái độ gần gũi, trợ giúp và chia sẻ hướng về những thành viên của gia đình đang bị bệnh hoặc già cả.

Trao Đổi:

1. Làm thế nào để truyền đạt ư nghĩa và giá trị của sự sống cho con cái?

2. Đâu là những lúc tốt nhất để giáo dục con cái biết đón nhận sự sống vừa được thụ thai và kính trọng sự sống ấy cho đến lúc kết thúc?

(Trích tài liệu của Hội Đồng Giáo Hoàng về Gia Đình)

â Lm. Irênê Nguyễn Thanh Minh, ofm

 

Trở về mục lục >>

 

GÓP NHẶT ĐÓ ĐÂY

Sống Làm Sao?

- Khi sống và làm việc với những anh chị khác tôi phải sống làm sao?

- Chung chung thì bạn phải yêu người như yêu mình vậy. Nói cách khác là hãy luôn hiệp nhất và yêu thương. Và với người dưới bạn phải khôn ngoan và thánh thiện. Còn với người trên bạn phải hiền lành và khiêm nhượng trong lòng.

â PCS

THƯ CHO ÁO NÂU

Tia Sáng Và Chuôi Đèn

Áo Nâu, Anh thân yêu

Tình yêu em dành cho Anh là cả một thiên tình sử suốt cuộc đời em. Em đã nếm hạnh phúc từ những đau khổ của chính tình yêu ấy gây nên. Hơn nữa, qua những hiểm nguy phương hại đến tình yêu, em đã phải cố gắng học cách xây dựng, học biết qui luật để bảo tồn, đề phòng đổ vỡ như mình đề phòng thiên tai hạn hán... chống lại các dông bão do chính bản thân mình gây nên, do chính "con người" mình gây ra.

Như một cây gì ta đã trồng, sau khi kết nụ là phải có hoa, sau hoa phải sinh quả, trong quả phải có hạt, để khởi sự một chu trình mới -chu trình tiến hoá. Tình yêu cũng thế, nó phải tiếp nối chu trình phục vụ vì phục vụ là hoa quả của tình yêu.

Về vấn đề thời gian, tình yêu chỉ đẹp khi nó đứng đúng vị trí trong vĩnh cửu; dù có trải qua bao nhiêu giai đoạn cam go thử thách, tình yêu vẫn phải trường tồn. Vì thế em phải biết trân trọng giữ gìn, thực thi những gì Anh dạy bảo, mới mong phát triển được hiệu quả của tình yêu đối với tha nhân.

Anh đừng sánh tình yêu của em với mặt trời vì bản thân mặt trời sẽ lặn khuất khi bóng chiều đổ xuống; đừng ví tình yêu như làn gió mát, bởi khi gặp bức tường vật cản, gió sẽ đổi hướng ngay. Em muốn tình yêu là ánh sáng mặt trời, vì khi đã tắt lịm tại nơi này, thì lại chiếu rọi nơi khác. Em chỉ muốn trong em là tình yêu thuần khiết không pha bụi thời gian, gắn liền trong Anh, cùng thương cùng ghét, cùng vui cùng buồn. Tình yêu sẽ mang lại cho em niềm vui gắn bó yêu đời và phục vụ mọi người. Tình yêu luôn thăng tiến, vui mừng từ những kỷ niệm qua, và phấn khởi bước tới sự trưởng thành ở phía trước.

Em hiểu rằng phía sau cái bóng đèn là chuôi đèn. Chuôi đèn đâu có phát sáng, nhưng chính chuôi đèn lại thật sự cần thiết vì nó đỡ cả bóng đèn, nơi phát sinh ánh sáng. Vì thế, những cá tính của anh em mình, mà mình nghĩ là rất xấu, thì có thể lại là điều rất cần thiết cho những cái tốt của anh em. Hơn thế, tích cực hơn, những cá tính của anh em mình lại thật sự cần thiết để mình được tôi luyện. Nếu trong cộng đoàn, trong huynh đệ đoàn không có những anh chị em có cá tính, thì chẳng khác gì một lẳng hoa chỉ toàn là hoa! Cái cá tính của anh chị em mình thật quí. Dùng được hay không là do mình thôi Anh nhỉ. Nếu mỗi ngày qua, chúng ta biết sống vì nhau, biết chấp nhận cá tính của nhau, biết yêu thương chia sẻ, biết thứ tha và hy sinh thì những ngày trong cuộc sống huynh đệ của ta là một chuỗi ngày hội, ẩn chứa những điều tốt đẹp đang chờ ta phía trước. Em luôn tin vào ánh sáng của một tia nắng mới sẽ bắt đầu sau những khổ đau. Em chào Anh và phó thác vào Anh.

â Agnès Kim Gương

VẦN THƠ ĐƠN SƠ

Mẹ Và Mầu Nhiêm Mân Côi

Gió tháng mười thoảng qua

Rung nhẹ bao cành lá

Hoa Mai Khôi chớm nở

Con dệt vội vần thơ

Dâng kính Mẹ Thiên Đình

Với cả lòng thành kính

Thơ con tuy vụng dại

Nhưng lại rất thành tâm.

Những sắc hoa âm thầm

Như đời Mẹ khi xưa

Này nụ hoa sắc Vui

Nhắc con Mẹ Khiêm Tốn

Nhắc con Mẹ Yêu Người

Dạy con biết xin vâng

Mẹ ơi sắc tím Thương

Chúa xưa giữa pháp trường

Chết cho con được sống

Cho con phúc Thiên Đường

Và này năm sự Mừng

Chúa cho con được sống

Tặng ban Chúa Thánh Linh

Mẹ dắt lên Thiên Đình

Này mầu nhiệm sự Sáng

Chúa vui với người vui

Chúa loan báo tin Mừng

Tặng ban Mình Máu Thánh

Những vòng hoa đượm sắc

Thơm ngát hương ân tình

Kết bằng lòng thảo kính

Dâng lên Mẹ Mai Khôi

Lạy Nữ Vương Quyền Phép

Xin nhận những vòng hoa

Xin Mẹ hãy thương tha

Đời con bao lầm lỗi

Xin thành tâm thống hối

Xin cứu con thoát khỏi

Lửa hoả ngục đời đời...

â MK

NHỮNG BÀI ĐỌC THÊM

Tiểu Sử Của Vị Thánh Nghèo Thành Assisi

Thánh Phanxixô Assisi còn được gọi bằng những tên khác như: Phanxicô Khó Khăn, Phanxicô Khó Nghèo, Phanxicô Năm Dấu, và có người gọi là Thánh Phan-Sinh do phiên âm từ chữ San Francesco.  

1. Giai Đoạn Niên Thiếu

- Phanxicô chào đời năm 1182 tại thành phố Assisi bên nước Ý (Italia).

- Cha của Phanxicô là ông Bênađônê, một thương gia giàu có chuyên xuất nhập cảng hàng vải vóc tơ lụa. Mẹ của Phanxicô là bà Pica, quê ở Provence nước Pháp, là một phụ nữ hiền từ và đạo đức.

- Phanxicô đã lãnh nhận bí tích Rửa tội tại nhà thờ Thánh Ruphinô với tên thánh là Gioan Baotixita. Nhưng sau khi trở về từ nước Pháp, ông Bênađônê đổi tên cho con trai thành Phanxicô (tiếng Ý là Francesco, có nghĩa là "chú Tây con") để ghi nhớ chuyến đi buôn bên Pháp (Francia).

- Bẩm sinh Phanxicô có tính cao thượng, trong sáng, tế nhị, lại thích thơ nhạc và có khiếu thẩm mỹ. Cậu được học giáo lư cũng như văn hóa ngay tại họ đạo với các linh mục. Vì có khiếu về thương mại, nên mới 14 tuổi, Phanxicô đã được gia nhập vào Hiệp hội thương gia Assisi và được cha giao cho công việc trông coi cửa hàng của gia đình.

- Phanxicô rất được các bạn trẻ yêu mến. Họ đã gọi cậu là "Ông Hoàng của Giới trẻ".

- Khi đến tuổi trưởng thành, chàng mơ làm hiệp sĩ, nên đã sắm áo giáp, vũ khí và ngựa chiến để tòng quân.

- Nhưng ngay lần giao chiến đầu tiên giữa Assisi và Pêrugia năm 1202, Phanxicô đã bị bắt làm tù binh. Mặc dù ở trong tù, suốt ngày chàng vẫn ca hát vui vẻ và luôn nâng đỡ tinh thần các bạn tù.

2. Giai Đoạn Hoán Cải

- Phanxicô được phóng thích năm 1203 vì bị bệnh nặng.

- Chàng bị bệnh kéo dài suốt năm 1204.

- Cuối năm 1204 hay vào mùa xuân 1205, được tin tướng Gauthier de Brienne chiêu mộ binh lính để chống người Hồi giáo, Phanxicô xin gia nhập vào đoàn quân ấy.

- Trong đêm trước ngày lên đường, chàng chiêm bao thấy mình đang ở trong một lâu đài thật nguy nga tráng lệ, đầy vũ khí có hình Thánh Giá, lại có cả một thiếu nữ thật kiều diễm, rồi chàng nghe tiếng nói: "Tất cả là của ngươi nếu ngươi phục vụ dưới ngọn cờ Thánh Giá". Chàng rất vui mừng, tin tưởng sẽ trở thành hiệp sỹ.

- Một hành vi quảng đại: trên đường đi, gặp một hiệp sỹ chính danh với bộ áo giáp nghèo nàn, Phanxicô đã đổi bộ áo sang trọng của mình cho người hiệp sĩ ấy.

- Nhưng đêm hôm đó, trong quán trọ ở Spôlêtô, cách Assisi khoảng 40 cây số, Phanxicô lại có giấc mộng thứ hai, trong đó có mẩu đối thoại như sau:

"Phanxicô, con chờ mong ân huệ nơi ai? Nơi người chủ hay nơi người tôi tớ?"

"Dĩ nhiên là con mong chờ nơi người chủ".

"Vậy tại sao con bỏ người làm chủ để đi phục vụ người tôi tớ?"

"Lạy Chúa! Vậy con phải làm gì bây giờ?"

"Hãy trở về Assisi rồi con sẽ rõ"

- Sáng hôm sau, Phanxicô quay trở về Assisi. Mặc cho mọi người ngạc nhiên và đàm tiếu chàng bắt đầu xa lánh bạn bè, thích tìm nơi thanh vắng để suy tư, cầu nguyện và chờ đợi.

- Một hôm, trên đường đi, Phanxicô gặp một người phong cùi. Theo phản ứng tự nhiên, chàng sợ hãi muốn tránh. Nhưng chàng đã tự trấn tĩnh và đến ôm hôn người cùi ấy. Kể từ ngày ấy, chàng thích gần gũi, chăm sóc những con người xấu số mà xã hội bấy giờ hất hủi.

- Phanxicô thường lấy của cải mình có để chia cho những người hành khất. Vào một dịp đi hành hương Rôma, chàng đã đổi áo cho một người hành khất để suốt ngày ngồi xin bố thí.

- Vào mùa thu hoăc cuối năm 1205, tại nhà nguyện Thánh Ðamianô, đang khi cầu nguyện, Phanxicô nghe tiếng nói từ cây Thánh Giá: "Con hãy xây lại nhà Ta đang đổ nát". Phanxicô tức tốc về nhà lấy vải vóc tơ lụa đem bán lấy tiền giao cho cha sở để sửa nhà thờ. Nhưng cha sở không nhận, Phanxicô quẳng túi tiền vào một góc cửa sổ, và đi xin vật liệu để tự tay sửa nhà thờ.

- Khi trở về, ông Bênađônê nổi giận vì biết rằng Phanxicô đã bán vải và ngựa để có tiền sửa nhà thờ, ông đã tìm đến cha sở để đòi lại. Rồi, vì không thể thuyết phục Phanxicô trở về, ông đã kiện Phanxicô với Ðức giám mục thành Assisi.

- Vào tháng giêng hoặc tháng hai năm 1206, được gọi ra tòa của Ðức giám mục, Phanxicô đã từ khước quyền thừa kế và trả luôn bộ y phục đang mặc cho ông Bênađônê, và tuyên bố: "Xưa nay, tôi vẫn gọi ông Bênađônê là cha. Nhưng bây giờ, tôi có thể nói: Lạy Cha chúng con ở trên trời"

- Suốt mùa hè năm 1206 đến tháng hai năm 1208, Phanxicô đã sửa nhà nguyện Thánh Ðamianô, rồi nhà thờ Thánh Phêrô và nhà thờ Ðức Bà Nữ Vương Các Thiên Thần (Portiuncula).

- Ngày 24.02.1208 tại nhà thờ Portiuncula, Phanxicô nghe đoạn Phúc Âm Thánh Matthêu (Mt 10: 7-14): "Dọc dường hãy rao giảng. Ðừng sắm vàng bạc, hay tiền đồng để giắt lưng. Ði đường đừng mang bao bị, đừng mặc hai áo, đừng đi giày hay cầm gậy.". Chàng đã reo lên: "Chính đây là điều tôi mong ước, tìm kiếm và nóng lòng thực hiện".

3. Giai Đoạn Hoạt Động

Nhờ nếp sống và lời rao giảng, Phanxicô đã thu hút mọi thành phần trong xã hội. Từ những thương gia giàu có, những nhà trí thức, hay những thiếu nữ đài các, cho đến những thường dân trong xã hội, từ những kẻ độc thân, cho đến người đã lập gia đình, ai ai cũng say mê lý tưởng sống nghèo của Phanxicô. Và vì vậy, Phanxicô trở thành vị sáng lập Dòng mà chính ngài đã không dự tính trước.

Thành Lập Dòng I:

- Ông Bênađô Quintavalô là một phú thương, sau khi bán hết của cải để chia cho người nghèo đã xin đi theo Phanxicô. Một tuần sau đó, ông Phêrô Cattani là một luật gia và một thanh niên khác tên là Egiđiô đã xin gia nhập nhóm. Vào giai đoạn này, các anh em tạm trú ngụ tại Portiuncula. Mỗi ngày anh em đi rao giảng, và làm thuê để sinh sống. Anh em dứt khoát không nhận tiền bạc.

- Năm 1210 khi số anh em đủ 12 người, Phanxicô đưa anh em đi Rôma xin Ðức Giáo Hoàng Innocentiô III phê chuẩn luật sống. Ðức Giáo Hoàng đã phê chuẩn và giao cho anh em nhiệm vụ rao giảng về sự thống hối. Khi trở về, anh em đã trú ngụ tại một cái chòi ở Rivô-Tortô.

- Khi một người dân muốn giành cái chòi ấy cho con lừa của ông ta, Phanxicô đã xin viện phụ dòng Biển đức ở Subasiô cho sử dụng nhà thờ Portiuncula. Kể từ đây, nhà thờ Ðức Bà Các Thiên Thần (Portiuncula) trở thành nhà thờ mẹ của Hội Dòng.

- Thế là Dòng I, cũng gọi là Dòng Anh Em Hèn Mọn, đã ra đời.

Thành Lập Dòng II:

- Ðêm Chúa Nhật Lễ Lá năm 1212, tại Nhà thờ Ðức Bà các Thiên Thần, Phanxicô đã đón nhận Clara và trao ban áo dòng. Sau đó, ngài gửi Clara đến tạm trú tại Ðan Viện Nữ Tu Biển Ðức. Ít lâu sau, Anê, em gái của Clara, cũng đến xin gia nhập. Từ đó, hai chị em cư ngụ tại nhà nguyện thánh Ðamianô và phát triển thành Dòng II. Ðây là một dòng kín chuyên sống đời chiêm niệm.

Thành Lập Dòng III:

- Năm 1216 tại Canara và Pốtgibonsi, một thị trấn ở giữa Firenxê và Siêna, cặp vợ chồng giàu có là ông Lukêsiô và bà Buônađôna đã trở thành những người Dòng III đầu tiên. Thời bấy giờ Dòng III có tên là "Dòng Những Người Qui Thiện" hay dòng "Những Người Ðền Tội".

- Năm 1221 do lời khuyên của Ðức Hồng y Hugôlinô, Phanxicô đã viết bản Luật tiên khởi gọi là "Bản Ghi Nhớ Dự Phóng Ðời Sống" cho Dòng III. Bản Luật này đã được Ðức Giáo Hoàng Hônôriô III chuẩn y.

- Năm 1289, Ðức Giáo Hoàng Nicôla IV lại ban sắc chỉ để phê chuẩn bản Luật 1221 với một vài sửa chữa.

- Năm 1883, Ðức Lêô XIII đã cho soạn thảo một bản Luật khác.

- Và vào năm 1978, Ðức Phaolô VI đã phê chuẩn bản Luật mới do ba nhánh Dòng I và Dòng Ba Tại Viện hợp tác soạn thảo. 

4. Các Biến Cố Khác

- Phanxicô đã xin Ðức giáo hoàng Hônôriô IV ban Ơn Toàn Xá cho những ai thành tâm kính viếng nhà nguyện Portiuncula. Và Ơn Toàn Xá này ban một năm một lần vào ngày kỷ niệm cung hiến nguyện đường, tức là ngày 2 tháng 8 mỗi năm.

- Năm 1223, trong một hang đá tại Greccio, Phanxicô có sáng kiến tái diễn biến cố Giáng Sinh.

- Năm 1224, trên đỉnh núi La Vécna, trong thời gian ăn chay để mừng lễ thánh Micaen, có lẽ vào ngày 14 hoặc 15 tháng 9, Phanxicô nhận được một thị kiến về Thiên thần sốt mến chịu đóng đinh và nhận các dấu thánh của Chúa Giêsu.

- Tháng 4-5 năm 1225, Phanxicô trú ngụ tại nhà nguyện Thánh Ðamianô để chữa bệnh, nhưng bệnh không thuyên giảm. Một đêm kia, Chúa đã hứa ban cho ngài sự sống đời đời. Sáng hôm sau, ngài đã sáng tác "Bài Ca Tạo Vật".

- Tháng 6 năm 1225, ngài đã thêm vào Bài Ca Tạo Vật một tiểu khúc nói về sự tha thứ, nhờ đó đã giao hòa được Ðức giám mục với ông thị trưởng thành Assisi.

- Tháng 4 năm 1226, anh em đưa ngài đến Siêna để tìm cách chữa bệnh cho ngài. Tại đây ngài đã đọc cho anh em chép một Di chúc ngắn gọi là Di chúc Siêna. Sau đó có lẽ ngài đã về Coóctôna, và tại đây ngài đã soạn Di chúc chính thức. Cảm thấy cái chết đã đến gần, ngài thêm vào Bài Ca tạo vật một tiểu khúc cuối cùng nói về cái chết, mà ngài gọi là Chị Chết.

- Ðêm thứ bảy, 3.10.1226, ngài đã trút hơi thở cuối cùng tại nhà thờ Nữ Vương Các Thiên Thần. Và ngày 4.10, ngài được an táng tại nhà thờ Thánh Gioócgiô.

- Ngài được Ðức giáo hoàng Grêgôriô IXphong thánh vào ngày 16.07.1228.

- Ngày 25.05.1230, dân thành Assisi đã di chuyển cách trọng thể di hài của Thánh Phanxicô về Vương Cung Thánh Ðường đã được xây cất để tôn kính ngài.

5. Kết Luận

Thánh Phanxicô đã qua đời từ thế kỷ 13, nhưng tinh thần của ngài vẫn tồn tại cho tới ngày nay, và những đặc điểm phong phú của tinh thần Phan sinh vẫn tiếp tục gây ảnh hưởng trong giáo hội Công Giáo, trong các tôn giáo khác, cũng như trong các dân tộc trên toàn thế giới.

Quả thật, Phanxicô là một Kitô hữu đích thật. 

Nhân loại rất hãnh diện vì sự hiện diện của một người như Phanxicô!

Giáo Hội rất vui mừng khi phong thánh cho một người như Phanxicô!

Hội Dòng rất tự hào vì có một vị Thánh Tổ Phụ như Phanxicô!

Về Nguồn… 3/10

Đêm nay, các anh Hèn Mọn suy niệm Giờ Lâm Chung của Cha Thánh theo lối diễn nguyện. Hình ảnh, đời sống, việc làm của Cha lần lượt hiện ra thật sống động trước mắt tôi. Chấm dứt giờ diễn nguyện, mỗi người ra về trong thinh lặng…

Tôi ngồi lại một mình trong nhà thờ, trước ảnh tượng của Cha Thánh, nhìn Cha mà lòng dâng lên nhiều cảm xúc, nhiều ý nghĩ, và nhiều dấu hỏi. Tôi kính yêu và cảm phục Cha vô vàn. Những hình ảnh diễn nguyện khi nảy trở lại trong tâm trí tôi, như lời kêu gọi, nhắc nhở của Cha bảo tôi quay về nguồn.

Ngày ấy, Phanxicô là một thanh niên trẻ trung, đẹp trai, giàu có, hào phóng, được trần gian tặng ban danh hiệu "Ông Hoàng Tuổi Trẻ". Thế mà ông hoàng ấy lại ước mơ được trở thành một hiệp sĩ, và đã ra đi để thực hiện ước mơ của mình. Nhưng thánh ý Chúa thật huyền nhiệm. Từ một ông hoàng của tuổi trẻ, nay lại trở thành ông hoàng của đức Nghèo. Từ ước mơ làm một hiệp sĩ cho trần gian, Chúa đã cất nhắc Người làm hiệp sĩ cho Nước Chúa. Và để được là hiệp sĩ của Nước Chúa, Người đã từ bỏ tất cả mọi thứ hạnh phúc của trần gian, từ bỏ tuyệt đối những gì của riêng mình. Từ bỏ cái riêng để mở toang cánh cửa trái tim, giang rộng đôi tay đón lấy sản nghiệp chung mà Chúa đã ban, đó là những người nghèo khổ, bệnh hoạn, tật nguyền, cô đơn đã gặp trên đường đời. Người Hiệp Sĩ ấy đã chiến đấu một đời cho Danh Cha cả sáng. Cho biết bao người đau khổ được ủi an, kẻ khốn cùng được nâng dậy, người nghèo đói được no đầy, kẻ cô đơn được ủ ấp, sự ghen ghét phải ngã gục, hận thù phải lùi bước, tội lỗi bị diệt vong... để tha thứ lên ngôi, để tình yêu thương lan tràn theo mỗi bước chân của Người. Và phần thưởng cao quý mà Thiên Chúa đã ân ban cho Người Hiệp Sĩ của Ngài ngay trên trần gian là: Năm Dấu Thánh Chúa rạng ngời trên thân thể gầy còm bởi một đời hy sinh. Và Ba Đứa Con Thiêng Liêng của Người là: Anh Em Hèn Mọn, Chị Em Clara, và Phan Sinh Tại Thế vẫn tồn tại cho đến ngày hôm nay.

Tôi trở về với thực tại và tự hỏi: "Cha thì như vậy, còn tôi thì sao? Cha là một vĩ nhân trong Giáo Hội, còn tôi đã làm được gì cho Giáo Hội? Cha đã sống một đời hoán cải, từ bỏ bản thân, sống nghèo hèn, một đời phụng sự, một đời hiến dâng để được sống cùng, sống với, sống cho mọi người. Còn tôi, bao nhiêu năm qua, tôi đã sống như thế nào? Từ gia đình cho đến bản thân, từ trong giáo hội cho đến bên ngoài xã hội tôi có chu toàn? Tôi đã đối xử như thế nào với những người chung quanh? Là người Tại Thế, nhưng tôi có là muối, là men giữa lòng đời không? Có ý thức vai trò của một sứ giả hoà bình không? Có biết yêu thương để người khác được yêu thương không? Có biết dùng những khả năng mà Chúa ân ban để hết tâm phục vụ cho đời, hay cố tình phá hoại tình người? Tôi nhìn lên ảnh tượng Cha và trả lời không chút do dự nhưng quá đổi ngại ngần. "Thưa Cha, con chưa làm được gì và vẫn không muốn làm gì!" Từ trong sâu thẳm của tâm hồn tôi như có tiếng vang của Cha: "Tại sao vậy?" Tại tôi không biết yêu, không ấp ủ cho mình một khối tình yêu thương. Linh đạo Phan Sinh tôi hiểu. Huấn ngôn của Cha tôi biết, bổn phận của người Phan Sinh tôi tường. Thế nhưng, tôi chỉ biết sống cho mình và làm theo ý riêng mình. Tôi tự chọn và khoác lên cuộc đời mình Chiếc Áo Nâu, mà lại quên đi lời khấn hứa sẽ trung thành tuân giữ Lời Chúa trước vị đại diện giáo hội, trước mặt các huynh đệ Phan Sinh và cả cộng đoàn Dân Chúa. Tôi chọn Phan Sinh làm gia đình, nhưng lại không thể hiện tình huynh đệ. Tôi gọi các anh chị em trong huynh đệ đoàn là anh chị, nhưng không hề tập sống mọn hèn để phục vụ cho nhau...

Buổi diễn nguyện hôm nay dạy tôi, nhắc nhở tôi là trong tất cả mọi việc chúng ta làm, tình thương phải đứng hàng đầu. Trên hết mọi sự, tâm trí tôi phải hướng về Thiên Chúa chứ không vì một cá nhân, không vì một lợi ích riêng nào. Nhìn vào gương của Thánh Phụ: Bỏ đi những oán thù đang hằn sâu trong lòng, xoá tan đi những ganh ghét đang vấy bẩn tâm hồn ta, hãy mở cửa con tim để lắng nghe tiếng than của nhau. Hãy giang đôi tay để ôm vào lòng những nỗi đau của nhau và hãy xây dựng đời nhau bằng tình thương yêu. Mọi nơi, mọi lúc, hãy biết chu toàn bổn phận của mình. Nếu giúp đỡ ai, phải giúp tận tâm, khi chia sẻ cơm áo cho người, phải chia sẻ với tấm lòng kính trọng và thinh lặng. Đến với nhau, hãy đến bằng những chân tình sâu thẳm từ trái tim. Hãy nhìn nhau bằng ánh mắt hiền hoà, hãy cho nhau niềm vui và hy vọng…

Cha là nguồn cội của những người có chung Chiếc Áo Màu Nâu Sòng; Xin giúp chúng con biết quay về nguồn để cùng suy niệm cội nguồn của mình và nhìn lại mình hầu giúp chúng con luôn giữ vững cội nguồn của mình…

â T

Tôi Sống Linh Đạo Phan Sinh Như Thế Nào?

Là người Phan Sinh Tại Thế, thì ai cũng hiểu linh đạo Phan Sinh Tại Thế là gì. Và khi nói đến việc thực hành thì người Phan Sinh Tại Thế nào cũng biết việc bổn phận của mình là phải làm gì với bản thân, gia đình, giáo hội và xã hội. Thế nhưng, hiểu biết và thực hành là hai việc khác nhau.

Có những người đã một đời khoác áo Nâu mà vẫn cứ hơn thua, cắn đắn, chỉ trích, cấu xé huynh đệ mình trong từng lời nói, trong mỗi buổi họp. Có người mới vừa khấn trọng thể ngày hôm qua, thì hôm nay đã kết bè để gây chia rẽ trong huynh đệ đoàn. Cứ mãi cố tình "ném đá giấu tay" để huynh đệ mình phải hứng chịu những hòn đá oan nghiệt mà vẫn không một chút áy náy. Có người luôn tự hào mình là người Phan Sinh, luôn miệng nói rất yêu Phan Sinh; nhưng cứ tìm đủ mọi cách để xúc phạm đến nhân phẩm của những người Phan Sinh khác. Cố tình hạ nhục anh em mình trong mọi lúc, xét đoán, kết tội anh em mình trong mỗi việc làm. Thậm chí, dùng mọi thủ đoạn để loại trừ anh em mình ra khỏi cộng đoàn chỉ vì ganh tỵ. Có người đang mang những trọng trách lại bình thản lừa gạt người khác, dẫn đến gây gổ, kiện tụng ra tới chính quyền… và sau đó vẫn y như cũ.

Chúng ta vào Phan Sinh để làm gì? Việc đầu tiên phải làm của người Phan Sinh Tại Thế là gì? Thưa: vào Phan Sinh là để hoán cải. Việc đầu tiên người Phan Sinh phải làm là chọn Tin Mừng làm chuẩn vì Chúa đã phán: "Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng." (Mc 1,15). Vâng! Để trở thành người Phan Sinh Giữa Đời "chính hiệu" Chúng ta phải hoán cải. Lời Chúa là một mệnh lệnh. Linh đạo của Cha Thánh là con đường trợ giúp chúng ta, những con người yếu đuối, đầy tội lỗi sớm biết ăn năn, sám hối. Nếu người Phan Sinh không biết hoán cải, không chịu nhìn lại chính mình thì cuộc sống sẽ ra sao? Người ngoài nhìn vào gia đình Phan Sinh của chúng ta sẽ nghĩ gì khi chúng ta vẫn chứng nào tật nấy? Huynh đệ đoàn sẽ ra sao khi bè phái cứ tồn tại, sự bất công mãi lập đi lập lại cho anh em mình như một điệp khúc? Bổn phận của người Phan Sinh Tại Thế phải là Muối, là Men giữa lòng dân tộc. Phải Nêu Cao Công Lý và làm cho Xã Hội Hoàn Hảo. Nhưng chính chúng ta không sống công bình thì làm sao Bảo Vệ Công Lý? Trong gia đình không biết tôn trọng nhau, không có yêu thương thì làm sao tình thương lan toả? Chúng ta cứ mãi nuôi oán thù, ghen ghét thì làm sao trở thành Một Sứ Giả Hoà Bình. Không có tâm tình hoà bình thì không thể có Tình Huynh đệ Chân Thành. Một cộng đoàn không có tình huynh đệ chân thành sẽ không bao giờ t&#