Trong Số Này:
|
TÂM SỰ HẰNG THÁNG |
| |
Đức Thanh Bần Khiêm Hạ |
|
KITÔ HỘC |
| |
LỜI CHÚA: Tôi Là Bánh Hằng Sống
GIÁO LÝ: Bài 69: Cái Chết Của Ông Môi-Sê
LỜI KINH: Xin Cho Con Biết Vâng Phục |
|
PHAN
SINH HỌC |
| |
Huấn Luyện Các Ủy Viên Trong Hội Đồng (tt)
Phan Sinh Và Sứ Vụ Truyền Giáo
Tại Sao Lại Là Cha? |
|
NHÂN BẢN
HỌC |
| |
Bài 24: Gương Giáo Hội Buổi Sơ Khai |
|
NHỮNG BÀI ĐỌC THÊM |
| |
Thư Áo Nâu: Hạnh Phúc Bắt Nguồn Từ Nội tâm
Bữa Cơm Trên Phiến Đá
Cô Bạn Của Thánh Phanxicô Assisi
Thanh Bần Khiêm Hạ
Tập Sống Thanh Bần Khiêm Hạ
Viết Cho Em
Con Đường Khiêm Hạ
Thanh Bần Theo "Đường Hy Vọng”
Khiêm Hạ Theo "Đường Hy Vọng” |
|
CÙNG CẦU NGUYỆN |
| |
Tâm Tình Tạ Ơn
Xin Ơn Chữa Lành Thể Xác
Xin Ơn Chữa Lành Tâm Hồn
Xin Cầu Nguyện Theo Ý Đặc Biệt
Xin Cầu Nguyện Cho Các Linh Hồn |
|
TIN NỘI BỘ |
| |
Hội Đồng Phục Vụ Quốc Gia Hoa Kỳ
Hội Đồng Trợ Úy Quốc Gia Hoa Kỳ
Hội Đồng Phục Vụ Miền
Hội Đồng Trợ Úy Miền
Huynh đệ đoàn Antôn, San Diego
Huynh đệ đoàn Agnes, Westminster
Huynh đệ đoàn Clara, Santa Ana
Chủ Đề Của Tháng 09-2009 |
|
|
|
Đức Thanh Bần Khiêm Hạ
"Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế (Pl 2, 6-7)".
Anh chị em hãy sống trong tinh thần các Mối Phúc: đó là tinh thần nghèo khó, hiền hòa, chấp nhận đau khổ, biết xót thương, sống trong sạch và yêu chuộng hòa bình, sẵn sàng chịu thiệt thòi vì Đạo Chúa.
"Những người trẻ hãy vâng phục các kỳ mục: anh em hãy lấy đức khiêm nhường mà đối xử với nhau, vì Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường. Vậy anh em hãy tự khiêm tự hạ dưới bàn tay uy quyền của Thiên Chúa, để Người cất nhắc anh em, khi đến thời Người đã định. Mọi âu lo, hãy trút cả cho Người, vì Người chăm sóc anh em (1Pr 5, 5-7)".
"Thầy bảo thật anh em: Ai không đón nhận Nước Thiên Chúa như một trẻ em, thì sẽ chẳng được vào" (Mc 10, 15).
Công đồng Vaticanô II trong Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân số 39 viết: "…tất cả mọi người trong Giáo Hội – hoặc thuộc hàng giáo phẩm hoặc được hàng giáo phẩm dìu dắt – đều được kêu gọi nên Thánh, như lời Thánh Tông Đồ dạy: "Vì Thiên Chúa muốn anh em được thánh hoá” (1.Tx 4,3 ; x. Ep 1,4). Sự thánh thiện này của Giáo Hội luôn được biểu lộ và phải được biểu lộ qua những hoa trái ân sủng mà Thánh Thần đã kết sinh nơi các tín hữu. Sự thánh thiện ấy được diễn tả dưới nhiều hình thức nơi tất cả những ai đang cố đạt tới đức ái trọn hảo trong bậc sống của mình trong khi xây dựng kẻ khác. Đặc biệt hơn, sự thánh thiện đó tỏ lộ trong việc thực hành các lời khuyên, quen gọi là lời khuyên của Phúc Âm. Nhờ Chúa Thánh Thần thúc đẩy, nhiều Kitô hữu thực hành các lời khuyên ấy với tư cách cá nhân hoặc trong những lối sống hay bậc sống đã được Giáo Hội công nhận; việc thực hành đó mang lại và phải mang lại cho thế giới một bằng chứng và một mẫu gương rạng ngời về sự thánh thiện của Giáo Hội."
"Tự nguyện sống khó nghèo để theo Chúa Kitô là dấu chứng cho việc theo Chúa Kitô rất được trọng vọng, nhất là ngày nay. Vì thế, các tu sĩ hãy miệt mài trau dồi và nếu cần, hãy biểu lộ sự khó nghèo ấy bằng những hình thức mới". (Sắc Lệnh Về Canh Tân Thích Nghi Đời Sống Dòng Tu số 13).
Điều 11 Luật Dòng PSTT: "Tin tưởng vào Chúa Cha, Đức Kitô đã chọn cho Người và Mẹ Người một đời sống nghèo khó và khiêm hạ (1), cho dẫu Người vẫn tôn trọng và quí mến mọi tạo vật; cũng vậy anh chị em Phan Sinh Tại Thế lúc lựa chọn cũng như lúc sử dụng của cải trần thế, hãy giữ cho tâm hồn mình được công chính khi phải đáp ứng các nhu cầu vật chất của mình; theo Phúc Âm, anh chị em ý thức mình là người quản lý của cải đã nhận được vì lợi ích của các con cái Thiên Chúa. "
"Như thế, trong tinh thần "Các Mối Phúc" anh chị em cố gắng thanh luyện lòng mình khỏi mọi khuynh hướng, mọi khát vọng chiếm hữu và thống trị, sống như "người lữ hành và khách lạ" trên đường về Nhà Cha (2). Tổng Hiến Chương giải thích Luật Dòng điều 11: Điều 15, §1. Anh chị em Phan Sinh Tại Thế sẽ cố gắng sống tinh thần Các Mối Phúc, nhất là tinh thần nghèo khó. Đức Nghèo Khó Phúc Âm biểu lộ sự phó thác vào Chúa Cha, dẫn tới sự tự do nội tâm, và cổ súy cho việc phân phối của cải cách công bằng hơn".
Khi thành lập Dòng Anh Em Hèn Mọn, thánh Phanxicô đã viết bản luật trong đó có hướng dẫn về đời sống anh em của Người là : sống vâng phục, khiết tịnh và không có của riêng và tuân giữ đạo lư cùng bước theo vết chân Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta (Luật không sắc du 1,1). Sau đây là lời của thánh nhân nói với anh em về Lời Khuyên Phúc Âm: "Có lắm người chuyên cần đọc kinh cầu nguyện và ăn chay phạt xác, nhưng khi có ai nói lời gì có vẻ xúc phạm đến họ, hay lấy mất vật gì của họ, thì họ liền nổi giận và mất hết bình tĩnh. Những người như thế không có tinh thần nghèo khó; bởi vì ai thật sự có tinh thần nghèo khó, thì ghét bỏ mình và yêu mến kẻ vả mặt mình (x. Mt 5,39) (Huấn ngôn 14, 2-4).
Anh chị em Phan sinh tại thế chúng ta không tuyên khấn như các tu sĩ, mà chỉ khấn suốt đời sống Phúc âm Đức Giêsu KiTô trong Dòng PSTT bằng cách tuân giữ Luật Dòng và Hiến Chương. Do đó lúc lựa chọn cũng như lúc sử dụng của cải trần thế, hãy giữ cho tâm hồn mình được công chính khi phải đáp ứng các nhu cầu vật chất của mình Ý thức mình là những người quản lý của cải đã nhận được vì lợi ích của các con cái Thiên Chúa . Sống như "người lữ hành và khách lạ" trên đường về Nhà Cha. Cố gắng sống tinh thần Các Mối Phúc, nhất là tinh thần nghèo khó. Hãy sống phó thác vào Chúa Cha và duy trì sự tự do nội tâm.
â
Jos Bạch, Sfo
(Tài liệu tham khảo: Tìm hiểu luật Dòng – Huấn luyện khởi đầu của PSTT Việt Nam)
|

Trở về mục lục >>
|
|
|
|
L ỜI CHÚA: Tôi Là Bánh Hằng Sống
(Gioan 6,24-35 – CN XVIII TN – B)
(24) Vậy khi dân chúng thấy Ðức Giêsu cũng như các môn đệ đều không có ở đó, thì họ xuống thuyền đi Caphácnaum tìm kiếm Người. (25) Khi đã gặp thấy Người ở bên kia Biển Hồ, họ nói: "Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy?" (26) Ðức Giêsu đáp: "Thật, tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê. (27) Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Ðấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận". (28) Họ liền hỏi Người: "Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn?" (29) Ðức Giêsu trả lời: "Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Ðấng Người đã sai đến". (30) Họ lại hỏi: "Vậy chính ông, ông làm được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy để tin ông? Ông sẽ làm gì đây? (31) Tổ tiên chúng tôi đã ăn manna trong sa mạc, như có lời chép: Người đã cho họ ăn bánh từ trời. (32) "Ðức Giêsu đáp: "Thật, tôi bảo thật các ông, không phải ông Môsê đã cho các ông ăn bánh bởi trời đâu, mà chính là Cha tôi cho các ông ăn bánh bởi trời, bánh đích thực, (33) vì bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian". (34) Họ liền nói: "Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy". (35) Ðức Giêsu bảo họ: "Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!"
1.- Ngữ cảnh
"Sách các Dấu lạ" của Tin Mừng Gioan là từ ch. 2 đến ch. 12. Phân đoạn về “Bánh trường sinh” (6,1-71) là đề tài thứ ba của bảy đề tài thuộc "Sách" này. Sau truyện Đức Giêsu hóa bánh ra nhiều (6,1-15) là diễn từ về Bánh ban sự sống, trong đó đề tài được xác định ở cc. 35 và 51: "Chính tôi là bánh…".
2.- Bố cục
Bản văn này có thể chia thành bốn phần:
1) Vấn nạn thứ nhất: đi tìm bánh (cc. 24-27);
2) Vấn nạn thứ hai: làm việc Thiên Chúa muốn (cc. 28-29);
3) Vấn nạn thứ ba: hỏi về dấu lạ Đức Giêsu làm (cc. 30-33);
4) Vấn nạn thứ tư: xin bánh ban sự sống (cc. 34-35).
3.- Vài điểm chú giải
- Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận (27): Có những nhà chú giải nghĩ rằng câu này nhắc đến phép rửa của Đức Giêsu. Nhưng có lẽ nghĩa đơn giản và rõ ràng hơn là: Con Người từ trời đến và các dấu lạ Người làm là những hành vi qua đó Thiên Chúa đảm bảo cho tính xác thực của sứ mạng của Người (3,33) cũng như đảm bảo rằng loài người có thể nhờ Người mà đạt được sự sống đời đời.
- chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn (28): Người Do thái nghĩ là họ có thể tự mình đạt được sự sống đời đời, với điều kiện là hoàn tất một số việc buộc. Số nhiều của "những việc Thiên Chúa muốn" có ý nhắm đến các điều khoản bó buộc trong nền luân lư của họ (Mt 19,16; 22,34-40).
-
việc Thiên Chúa muốn… là tin vào Đấng Người đã sai đến (29): Đây là đòi hỏi đơn giản nhất nhưng cũng căn bản nhất gồm tóm mọi qui định của Lề Luật: tin vào Đấng Thiên Chúa sai đến; trong các hành vi Đức Giêsu làm, nhìn thấy các công việc của Thiên Chúa thời cánh chung. Tác giả Gioan đã sửa lại một chút một công thức của ông Phaolô (Rm 3,28) và thống nhất tất cả lối sống Kitô hữu vào việc tin vào Đấng Thiên Chúa sai phái.
- tin (29.30): Các Tin Mừng Nhất Lãm và các Thư Phaolô thường dùng danh từ "đức tin (pistis)", Tin Mừng Gioan lại thường xuyên dùng động từ “[hành vi] tin" (pisteuô): công thức "tin vào" (pisteuô eis) được dùng 36 lần trong TM IV, 3 lần trong các Thư Gioan, và chỉ 8 lần trong phần còn lại của Tân Ước.
- Người đã cho họ ăn bánh bởi trời (31): Man-na được ban hằng ngày trong sa mạc được nhiều kinh sư coi như là việc diệu kỳ lớn lao nhất của thời Xuất hành (Xh 16,15; Ds 11,7; 21,5; Đnl 8,3; Kn 16,20). Ở đây, Gioan trích Tv 78,24.
-
bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống (33): Trong hy-ngữ, "bánh" (artos ) ở nam tính, nên có thể dịch câu này hai cách: "bánh Thiên Chúa ban là sự gì (cái gì) từ trời xuống" (xem Bản dịch Nguyễn Thế Thuấn); "bánh Thiên Chúa ban là Đấng từ trời xuống". Cách dịch thứ nhất thì xuôi tai hơn, nhưng cách dịch thứ hai thì tốt hơn, bởi vì Đức Giêsu đang muốn đưa người ta chuyển đi từ man-na và bánh sang bản thân Người.
-
Tôi là (egô eimi, 35): Tin Mừng Gioan nói đến công thức này nhiều lần. Trong tình trạng tuyệt đối, các công thức “Tôi là" (8,24.28.58; 13,19) được trực tiếp cảm hứng từ các công thức mà Thiên Chúa của Cựu Ước đã dùng để giúp người ta biết Ngài (Xh 3,14; Hs 1,9;…). Khi nói "Tôi là", Đức Giêsu khẳng định Người là điều mà chính Thiên Chúa đã mạc khải ra về chính Ngài cho dân Do-thái. Các khẳng định "Tôi là" giới thiệu Đức Giêsu như là giá trị sống vĩnh viễn. Ở đây, Người muốn nói rằng Người là thứ bánh vĩnh viễn, bánh cánh chung, bánh duy nhất còn quan trọng. Người chính là bánh đích thật ban sự sống viên mãn.
Trong diễn từ về Bánh ban sự sống ở Ga 6, có ba công thức "Tôi là" (cc. 35.48-50.51). cả ba câu đều có kèm theo một lời mời tin vào Đức Giêsu, mời đến với Người hoặc đến ăn thứ bánh thiên giới này là chính bản thân Người. Những câu này giống với các phần triển khai của sách Châm ngôn ch. 8–9 và sách Huấn ca ch. 24, trong đó sự Khôn ngoan thần linh tự giới thiệu mình và mời người ta lắng nghe mình, đến với mình, ăn mình (x. Cn 8,32; Hc 24,18). Trong Ga 6, động từ “đến với" được nhắc lại nhiều lần: cc. 35.37.44.65; x. cả c. 67.
4.- Ý nghĩa của bản văn
* Vấn nạn thứ nhất: đi tìm bánh (24-27)
Dường như Đức Giêsu không trả lời đúng câu hỏi của người Do-thái. Trong thực tế, câu trả lời của Người nhắm đến thái độ mà câu hỏi của họ đã tố giác. Họ đã thấy dấu lạ nhiều lần (6,2; 2,23-25) nhưng họ đã không quan tâm và đã không hiểu các dấu lạ ấy. Họ chỉ hoàn toàn quan tâm đến bánh, đến việc ăn no về vật chất thôi (c. 12); phép lạ đã không cung cấp cho họ ánh sáng về bản thân Đức Giêsu (12,9). Bởi vì bánh (cũng như rượu ở Cana và nước trong cuộc đối thoại với người phụ nữ Samari) tự nó không có giá trị; nó chỉ là một phương tiện để vén mở cho thấy mầu nhiệm bản thân Người.
* Vấn nạn thứ hai: làm việc Thiên Chúa muốn (28-29)
Người Do-thái hiểu sai ý nghĩa của động từ “làm việc". Họ lẫn lộn giữa các công việc của Thiên Chúa với các công việc họ làm nhằm tôn vinh Thiên Chúa. Câu hỏi này cho thấy họ không hiểu gì cả. Họ nghĩ rằng họ có thể đạt được sự sống đời đời bằng sức lực riêng, miễn là họ chu toàn một số điều khoản Luật buộc. Tức khắc Đức Giêsu đưa các điều khoản ấy về đòi hỏi đơn giản nhất nhưng cũng triệt để nhất: tin vào Đấng Thiên Chúa sai phái và nhìn thấy các hành vi Đức Giêsu làm là những công trình Thiên Chúa thực hiện vào thời cánh chung. Công việc duy nhất họ phải làm cũng là công việc duy nhất Đức Giêsu vẫn làm: chu toàn công việc của Chúa Cha.
Bằng cách dùng thường xuyên động từ “[hành vi] tin" thay vì danh từ "đúc tin” (trừu tượng), tác giả TM Gioan cho thấy rằng, thay vì đề cập đến đức tin trừu tượng, ngài nghĩ đến việc dấn thân người Kitô hữu phải thực hiện để trở thành môn đệ Đức Giêsu. Đây là một quyết định mang tất cả niềm tin tưởng đạt nơi Đức Giêsu.
* Vấn nạn thứ ba: hỏi về dấu lạ Đức Giêsu làm (30-33)
Người Do-thái hiểu là Đức Giêsu đang tự đặt mình trước mặt họ như là vì Sứ giả của Thiên Chúa. Nhưng vì cứ ham các bằng cớ nắm bắt được, họ hỏi tiếp: “Ông làm được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy để tin ông?” (c. 30). Ở đây, thay vì nói đến hành tin tưởng bắt họ dấn thân trọn vẹn (pisteuô eis), họ lại đặt vấn đề về uy tín của Đức Giêsu (pisteuô + tặng cách). Ít ra Người phải cho thấy Người ngang bằng Môsê là người đã nuôi dưỡng dân Do-thái suốt 40 năm (Xh 16,35).
Yêu cầu này không có câu trả lời, vì không thể có câu trả lời nào cả cho thứ yêu cầu như thế. Không có một dấu lạ nào có thể chứng minh rằng Đức Giêsu là sứ giả của Thiên Chúa. Các dấu lạ bên ngoài có thể dẫn đưa người ta đến tận ngưỡng cửa đức tin (Ga 15,24; x. 10,25; 12,37t), nhưng tự chúng không đủ. Trước tiên, bởi vì nếu bị liên kết với các lý do duy lý, đức tin sẽ không đi xa hơn lư trí; kế đó, bởi vì đức tin sẽ chịu ảnh hưởng các ấn tượng (x. 4,48). Tin Mừng Gioan, với truyện Tôma ở ch. 20, sẽ cho thấy rằng những dấu chỉ ấy không cần thiết cho hành vi tin (20,29).
Câu "Không phải ông Môsê đã cho các ông ăn bánh bởi trời đâu” (c. 32) có thể là một phủ nhạn về Môsê (không phải là Môsê, mà là Thiên Chúa) hoặc về bánh bởi trời (thứ bánh bởi trời ấy không phải là man-na). Trong thực tế, câu này là một phủ nhận về bánh: những gì Môsê đã ban cho tổ tiên các ông thì đúng là từ trời rơi xuống, nhưng không phải là bánh đích thực bởi trời. Bánh đích thực, bánh hoàn hảo, bây giờ Chúa Cha đang ban tặng, còn man-na chỉ là một tiền vì của thứ bánh ấy thôi. Đức Giêsu là bánh của Thiên Chúa, bởi vì Người không đến từ một trung gian nhân loại, nhưng đến trực tiếp từ Thiên Chúa, hình ảnh bị đẩy ra sau, nay tác giả nhấn mạnh trên các phẩm chất của bánh này của Thiên Chúa: từ trời xuống, ban sự sống vĩnh cửu.
* Vấn nạn thứ tư: xin bánh ban sự sống (34-35)
Như chúng ta vẫn thấy, người Do-thái lại hiểu lầm về ý nghĩa của những lời nói ấy của Đức Giêsu. Họ chẳng quan tâm gì đến bản thân Con Người. Họ cứ tiếp tục mơ một thứ bánh sẽ từ trời rơi xuống cho họ. Như bà Samari (4,15) và như họ đã làm trong những hoàn cảnh tương tự, họ xin Đức Giêsu cứ ban cho họ đều đặn và liên tục, thứ bánh không tốn tiền ấy. Nhưng điều mà Đức Giêsu ban, thì Người ban một lần cho mãi mãi. Nhất là Người không ban một điều gì, mà Người ban tặng chính mình. Người là thứ bánh vĩnh viễn, bánh cánh chung, bánh duy nhất còn quan trọng. Người chính là bánh đích thật ban sự sống viên mãn, trong khi man-na không giải thoát người ta khỏi sự chết (6,49). Mọi người được mời gọi đến với Người, vì giống như sự Khôn Ngoan trong sách Cn và Hc, Người có thể thỏa mãn mọi khát vọng tôn giáo của họ.
+ Kết luận
Bữa ăn lạ lùng sẽ phải được giải thích như là một dấu chỉ. Đấy là một sự kiện thực hữu, Đức Giêsu đã thực sự cho một đám đông ăn no; nhưng biến cố này tự nó không có ý nghĩa. Đức Giêsu không muốn chứng minh rằng người ta có thể nhận được bánh từ nơi Người mà không cần phải mệt nhọc và được nhận ê hề, Ngài không muốn thay thế các ông thợ làm bánh mì để rồi các ông này phải thất nghiệp mà bị đói. Bữa ăn lạ lùng nhắm đến một thực tại khác. Sự kiện Đức Giêsu có thể ban bánh và cho ăn no nê theo nghĩa trần thế phải cho thấy rằng bản thân Người chính là bánh ban sự sống và có thể ban sự sống vĩnh cửu, không bao giờ tàn lụi. Ở bên Người, chúng ta không được tìm kiếm bánh trần thế; trái lại, chúng ta phải nhìn nhận rằng Người có thể và muốn ban cho chúng ta một thứ vô cùng lớn lao hơn. Chúng ta cần phải để ư đến điều này và đón nhận quà tặng của Người.
5.- Gợi ý suy niệm
1. Nếu không có bánh, chúng ta sẽ chết. Cơm bánh có khả năng duy trị sự sống cho chúng ta nhưng đó là một khả năng giới hạn. Khi nói “Tôi là bánh ban sự sống", Đức Giêsu cho hiểu là tương quan giữa ản thân Người với loài người cùng một kiểu như tương quan giữa cơm bánh và chúng ta, nhưngsự sống Người ban là sự sống vĩnh cửu, chứ không chỉ là sự sống trần gian giới hạn. Người mạnh hơn cái chết, Người muốn đưa chúng ta đi sang bên kia cái chết. Nhưng chúng ta phải chạy đến với Người, phải tin vào Người.
2. Tôi tin vào Đức Giêsu khi tôi tự liên kết hoàn toàn với Người và để cho Người hoàn toàn quy định đời sống tôi. Đức tin có thể là như một dây liên kết mong manh và yếu kém; còn nếu một dây liên kết quan trọng, vững chắc và thiết yếu đối với cuộc sống, thì nó được diễn tả ra bằng một tình bạn chân thật hoặc một cuộc hôn nhân đích thực. Khi tin vào Đức Giêsu, dây liên kết ta có với Người sẽ có sức mạnh và có khả năng ban sự sống tối đa.
3. Chúng ta ngại để cho Thiên Chúa đi vào trong cuộc sống chúng ta và làm việc ở đó. Để biện minh cho việc chúng ta lùi lại trước đòi hỏi của Ngài, chúng ta vận dụng một chiến thuật khác để “câu giờ”, chúng ta đặt ra một điều kiện: “Ông đã làm dấu lạ nào?... Ông đã làm g?..." (c. 30). Chúng ta đã thấy hoạt động của Thiên Chúa trong đời sống chúng ta, nhưng chúng ta vẫn tìm cách từ chối tin vào Ngài. Thiên Chúa lại chỉ thích nói với con tim chúng ta bằng những dấu chỉ kín đáo hầu chúng ta vẫn còn tự do mà từ khước tiếng gọi của Ngài. Thiên Chúa muốn được yêu mến bởi những người con tự do, chứ không phải được tôn thờ bởi những tên nô lệ khiếp nhược.
â
Lm. F.X. Vũ Phan Long, ofm
GIÁO LÝ: Bài 69: Cái Chết Của Ông Môi-Sê
(Đnl. 34)
Chương cuối cùng của sách Đệ-nhị Luật kể lại cái chết của ông Mô-sê: Con cái It-ra-en đã thoát khỏi ách nô lệ Ai-cập, đã được sống trong Giao-ước với Thiên Chúa và đã đi tới ngưỡng cửa của Đất Hứa. Sau khi đã giao phó nhiệm vụ lại cho ông Giô-suê, ông Mô-sê thong thả trèo lên ngọn núi Nơ-vô, đối diện với thành Giê-ri-khô; Từ đỉnh núi cao ông đưa mắt nhìn tới vùng đất mà Thiên Chúa đã hứa ban từ nhiều thế kỷ trước cho các tổ phụ của dân It-ra-en, rồi ông nhắm mắt từ biệt cõi đời, thọ 120 tuổi, khi mắt vẫn chưa mờ và khí lực vẫn chưa giảm. Rồi đây con cái It-ra-en sẽ bước theo ông Giô-suê vượt qua sông Gio-đan tiến vào Đất Hứa, nhưng thân xác ông Mô-sê vẫn ở lại bên này sông.
Cái chết của ông Mô-sê mặc một sắc thái huyền bí, cá nhân ông đã không được vào Đất Hứa! Phải chăng vì ông phải chung số phận với những người của thế hệ ông đã từ khước tiến bước khi còn ở Ca-đê (Ds 14,20-23)? Một vài bản văn đưa ra lư do là ông không được vào Đất Hứa vì tội của dân ông (Đnl 1,37; 3,26-27; 4,21).Cũng có bản văn nêu ra tội riêng của ông, khi cho rằng ông cũng đã nghi ngờ trước khi làm phép lạ cho nước chảy từ một tảng đá ở Mê-ri-ba (Ds 20, 10-11 ; Đnl 32,48-52), ai có thể khẳng định là mình sạch hết mọi tội lỗi?
Bài trình thuật về cái chết của ông Mô-sê trong sách Đệ nhị Luật không nói gì đến tội của ông cả, trái lại bản văn ca ngợi sự tuân phục của ông, vai trò độc nhất của ông, sự cao cả của một con người đã được thưa chuyện diện đối diện với Thiên Chúa mà vẫn rất khiêm nhường (Ds 12,3). Cách trình bày này phù hợp với quan niệm tổng quát của Kinh thánh về ông Mô-sê, ông đã chết ngoài Đất Hứa, trước hết không phải vì ông đã phạm tội, nhưng vì sứ mạng của ông đã hoàn tất.
â
Lm. Norbert Nguyễn Văn Khanh, ofm
LỜI KINH: Xin Cho Con Biết Vâng Phục
Lạy Chúa, chúng con đang sống trong một xã hội không ngừng phát triển về vật chất, một thế giới mà đa số con người chỉ biết tham lam, toan tính, hơn thua, hưởng thụ, nhìn quanh chỉ thấy bạc tiền, vật chất dẫy đầy làm cho đạo đức tuột dần, cho tình người hấp hối, cho đức Thanh Bần Khiêm Hạ chỉ còn le lói trong lòng người.
Chúa ơi, con người được sống và tồn tại là nhờ vào các nhân đức chứ không phải là sự giàu sang phú quý. Nếu chúng con biết yêu đức Thanh Bần, chắc chắn chúng con sẽ biết chia sẻ mà không bao giờ tham lam, tính toán, mưu mô, dối gian lọc lừa…Và nếu chúng con biết chia sẻ, chúng con cũng sẽ biết cúi mình phục vụ cho nhau theo gương Thầy Giêsu chí thánh, Người Con Một dấu yêu của Ngài…
Lạy Chúa, con nài xin Chúa thương gieo hạt mầm Thanh Bần vào lòng con và cũng nhờ Ngài ban ơn giúp sức để hạt giống ấy được lớn lên trong lòng con. Giúp con biết bình thản trước mọi vật chất, mọi giàu sang, thanh sắc, uy quyền của trần gian, và sẵn lòng để sống cho nhau, và vì nhau và nhờ đó mà thế giới quanh con sẽ có những ngày bình an và thiện hảo. Amen.
â
Maria
|
|

Trở về mục lục >>
Huấn Luyện Các Ủy Viên Trong Hội
Đồng (tt)
2.- Ủy Viên Tu Thư Báo Chí:
Bên cạnh những phương tiện truyền bá thông thường của Dòng chúng ta như huấn luyện, học hỏi, giao lưu, trò chuyện với nhau... để nâng cao kiến thức cũng như tinh thần, chúng ta còn có một phương tiện rất phổ thông khác không kém phần hiệu quả và quan trọng, đó là việc đọc các sách vở tài liệu và nắm bắt các tin tức qua báo chí. Nói chung là truyền thông. Vì thế có uỷ viên tu thư và báo chí được cơ cấu vào Hội Đồng ở huynh đệ đoàn địa phương, và Ban Thường Vụ ở cấp Miền và cấp Quốc gia.
Sự cần thiết phải có người phụ trách tuyền thông: Hãy nghe Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, trong Tông thư "Sự phát triển nhanh chóng": "Giáo hội vui mừng sử dụng các phương tiện truyền thông để cung cấp những thông tin về chính mình và mở rộng các phương thế truyền giáo, dạy giáo lý và đào tạo, trong khi xem việc sử dụng chúng như lời đáp trả cho mệnh lệnh của Chúa: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo" (Mc 16,15)" (Tông thư đã dẫn gởi giới hữu trách truyền thông xã hội, 24.01.2005 số 7) Và ĐGH Biển Đức XVI: " (...) Tôi xin chia sẻ với họ một vài ý tưởng về tiềm năng phi thường của những công nghệ kỹ thuật mới khi chúng được sử dụng để tạo điều kiện cho sự hiểu biết và liên đới của con người. Những công nghệ kỹ thuật như thế là một ân huệ đích thực cho nhân loại (...)" (buổi tiếp kiến chung hằng tuần sáng thứ Tư 20 tháng 5 năm 2009)
Ngày nay, sách vở báo chí (bằng giấy và trên mạng internet) đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống mọi người; thiếu sách vở báo chí nuôi tinh thần, không khác gì thiếu cơm nuôi thể xác. Chúng ta lần lượt phân tích vai trò và nhiệm vụ của Uỷ viên này:
a- Vai trò: trách vụ này được bàu trong tu nghị của huynh đệ đoàn, là một thành viên của Hội Đồng huynh đệ đoàn địa phương, thành viên Ban Thường Vụ (Huynh đệ đoàn cấp cao hơn). Cũng như các thành viên khác, vị Uỷ viên này đồng trách nhiệm với Hội Đồng, trong lãnh vực thông tin và truyền bá đường hướng của Dòng.
b- Nhiệm vụ: Cùng với vị Phụ Trách Huấn Luyện, vị Uỷ viên Tu Thư Báo Chí cung cấp cho huynh đệ đoàn mọi phương tiện cần thiết cho việc tìm hiểu học hỏi, và để mọi thành viên huynh đệ đoàn đồng hành với anh chị em mọi nơi, mọi hoàn cảnh và mọi môi trường hoạt động. Tuy thế, có hai phần trong trách nhiệm, cần phân tích ra để dễ thực hiện hơn:
b1. Tu thư: Uỷ viên Tu Thư hay nói cho trọn câu Uỷ viên phụ trách tu thư. Làm công việc sưu tập và quản lý các sách vở tài liệu của Huynh đệ đoàn, phân phối các tài liệu, theo yêu cầu kế hoạch của Ban Thường Vụ và của vị Phụ Trách Huấn Luyện.
- Các nguồn cung ứng sách vở tài liệu: Có hai nguồn cung ứng chính: Các văn kiện thuộc về Dòng Phan Sinh thì Văn Phòng Phan Sinh Tại Thế là nơi uy tín nhất cung ứng cho chúng ta:
Ở trong nước Việt Nam, văn phòng đặt tại số 3 Mai Thị Lựu, điện thoại số 08 38235011.
Trang mạng của Dòng Phan Sinh Tại Thế (hiện nay đang bị lỗi ở mục Báo Huynh Đệ Phan Sinh, sẽ sửa chữa trong những ngày rất gần) cũng là nơi cung cấp tài liệu và tin tức cho chúng ta: http://pstt.ofmvn.org;
Dòng Anh Em Hèn Mọn Việt Nam có: http://ofmvn.conggiao.net/ http://ofmvn.org (http://ofmvietnam.org). Ở Hải ngoại có http://www.psttvnusa.net Quốc tế, có www.ciofs.org.
Nguồn thứ hai cung cấp tài liệu là từ Văn Phòng Toà Giám Mục hay các nhà bán sách đạo. (Xin cẩn thận trong việc chọn nhà sách!)
- Quản lý và phân phối: Cần phải có một tủ sách và hồ sơ quản lý chặt chẽ, tránh bị nhầm lẫn tính chất hợp pháp, (được chuẩn nhận) và tính thời gian, giá trị của sách vở, tài liệu tuỳ thời gian. Ví dụ - có một tập tài liệu đề là "Tài liệu thời kỳ chuyên tập" rồi lại có tài liệu đề là "Tài liệu thời kỳ huấn luyện khởi đầu”; - có tập “Di Cảo Thánh Phanxicô” có tập “Bút Tích Thánh Phanxicô” rồi mới đây nhất và giá trị nhất là tập "Tác Phẩm Thánh Phanxicô Assisi";- có các tài liệu huấn luyện, có các tài liệu tham khảo. Cũng có thể có những tài liệu của một cá nhân mạo danh Dòng. Vì thế người Tu Thư phải biết tài liệu nào là có giá trị hiện hành, tài liệu nào để tham khảo, tài liệu nào không được phép phổ biến. Hơn nữa, tủ sách của Huynh đệ đoàn cần sẵn sàng để cho anh chị em đến tìm đọc, tham khảo và học hỏi, cũng có thể cho anh chị em mượn về nhà trong thời gian nhất định nào đó; vì thế cần làm sổ sách rõ ràng chi tiết, để các sách vở tài liệu không bị thất thoát hoặc lầm lẫn "đồng/thau”. Trong việc nhân bản và phân phối, cần cẩn thận, để không đi ra ngoài quyết nghị của Hội Đồng và nhu cầu của Huynh đệ đoàn. Trong công việc này, A/c Phụ Trách Huấn Luyện là hỗ thủ rất tốt cho A/c tu thư. (còn tiếp)
â
Pet. Nguyễn Đức Tiến
Phan Sinh Và Sứ Vụ Truyền Giáo
Kể từ cuộc cách mạng Pháp năm 1789, ư thức về dân chủ và nhân quyền ngày càng lan rộng trong các tầng lớp dân chúng, dẫn đến phong trào đòi dân chủ, đòi tôn trọng nhân quyền ở khắp Âu châu và các lục địa. Thành quả lớn lao của các phong trào đòi dân chủ và nhân quyền là bản "Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền" đã được Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua và công bố vào ngày 10 tháng 12 năm 1948. Bản Tuyên ngôn long trọng mở đầu: "Điều 1: Mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi, có lý trí và lương tri, và phải đối xử với nhau trong tình bác ái."
Bản Tuyên ngôn kêu gọi mọi người phải tôn trọng nhân quyền, không phân biệt màu da, chủng tộc, nam hay nữ. Kỳ lạ thay, chính Thiên Chúa lại là "người" đầu tiên tôn trọng nhân quyền, dù Ngài là Chúa, là Đấng Tạo thành vũ trụ và con người." 15 Ðức Chúa là Thiên Chúa đem con người đặt vào vườn Ê-đen, để cày cấy và canh giữ đất đai. 16 Ðức Chúa là Thiên Chúa truyền lệnh cho con người rằng: "Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn; 17 nhưng trái của cây cho biết điều thiện điều ác, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết." (Sáng thế 2,15-17) Thiên Chúa dựng nên con người, cho con người thừa hưởng tài nguyên vũ trụ, cho con người có tự do, có trí thông minh và lương tr ... nghĩa là "khi không"(!) cho con người rất nhiều quyền lợi mà chỉ đòi hỏi con người không được phản bội Ngài. Lịch sử của con người là những cố gắng chinh phục thiên nhiên, vũ trụ và... chinh phục nhau; rất ít khi hoặc không bao giờ thấy bóng dáng của Thiên Chúa là Đấng toàn năng, toàn thiện đầy tình yêu thương.
Tổng Tu nghị lần thứ 187 của Dòng Nhất Phan Sinh vừa diễn ra tại Assisi tháng 06 năm 2009. Chủ đề của Tổng Tu nghị là "Sứ vụ truyền giáo". "Một lần nữa, cha Tổng Phục vụ José Rodriguez Carballo muốn nhấn mạnh tới yếu tính truyền giáo của Dòng Anh Em Hèn Mọn, bằng cách nhận định rằng: Sứ vụ truyền giáo phát sinh từ kinh nghiệm đức tin và đã được sống trong tư cách là những người anh em và "những kẻ hèn mọn "(nghĩa là trở nên người bé mọn giữa những kẻ bé mọn)".(Trích báo Chia sẻ tháng 07). Sứ vụ truyền giáo của Dòng Phan Sinh bắt nguồn từ lời kêu gọi của Đức Kitô qua một bức họa tại nhà nguyện Đamianô "Hãy đi sửa lại nhà Cha Ta đang đổ nát". Sứ vụ truyền giáo này được thể hiện qua nếp sống khó nghèo, hèn mọn. Nói theo ngôn ngữ thời đại, thánh Phanxicô đã chọn cho mình, cho anh em mình lối sống và truyền giảng Phúc âm như những người bình dân, tầm thường nhất. Thánh Phanxicô đã đứng hẳn về phía những người thấp cổ bé miệng, quần chúng lao động, về phía người nghèo. Hình ảnh Phanxicô ôm hôn một người phung cùi là hình ảnh đáng ghi nhớ. Hình ảnh Phanxicô ôm hôn người cùi không phải chỉ để chúng ta thương cảm, động lòng trắc ẩn, giúp đỡ những người cùi; nhưng sâu xa hơn, để chúng ta nhận thấy được chính thân phận của chúng ta tất cả đều là những con người bệnh hoạn, nhỏ bé, bất toàn bất lực trong cuộc đời và trước mặt Đấng Tối Cao. Hình ảnh Phanxicô ôm hôn người cùi cũng biểu lộ thái độ dứt khoát của thánh nhân: chấp nhận sống chung, đồng bàn, đồng hành với những người bị xã hội loại bỏ; đứng về phía những người nghèo, người lao động, những người bị xã hội bóc lột hoặc bỏ rơi... để giúp đỡ, bênh vực, đòi hỏi cho họ quyền được sống, được đối xử công bình, bác ái, xứng hợp với phẩm giá con người. Sứ điệp Truyền giáo của thánh Phanxicô và Dòng Phan Sinh là tìm biết, kính yêu, vâng phục Thiên Chúa và hòa giải con người với con người. Sứ điệp đó, trải qua 800 năm, đã được các anh chị em Phan sinh rao truyền một cách khiêm tốn, hòa bình và thân thiện khắp mọi nơi, cho mọi dân tộc. Trong diễn văn bế mạc Tu nghị, cha Tổng Phục vụ nhấn mạnh: "Chúng ta sống và loan báo Tin Mừng ở đâu? Thưa là nơi nào con người đang sống, đang chịu đau khổ, đang lao động và hy vọng, và tại vô số khu vực phi nhân. Chúng ta được kêu gọi chia sẻ niềm vui và nỗi buồn của những người nam nữ trong thời đại, nhất là niềm vui và nỗi buồn của những người nghèo đói và đau khổ nhất." (Trích báo Chia sẻ tháng 7).
Sứ vụ truyền giáo của Dòng Phan Sinh không khác nỗ lực tranh đấu cho nhân quyền của các nhà chính trị, các luật gia hay các nhà làm việc xã hội. Tất cả đều mong muốn giải phóng con người khỏi các tầng áp bức, mong cho mọi người đều được tự do bình đẳng; nhưng trong cách nghĩ, cách làm rất khác nhau. Những người vô thần hoặc không tin vào Chúa, chủ trương xây dựng xã hội nhân bản có trật tự, duy chỉ cho con người ở đây và bây giờ, không cần biết con người từ đâu tới và sẽ đi về đâu. Họ cũng sẽ thành công, nhưng là thành công trong giai đoạn hoặc từng phần. Chúng ta, những người tin vào Chúa, chúng ta làm việc xã hội trong chương trình sống và rao truyền Tin Mừng. Chúng ta xây dựng xã hội, tranh đấu cho nhân quyền vì con người là hình ảnh của Thiên Chúa, đã được Thiên Chúa tạo thành, thương yêu và cứu chuộc. Cứu cánh mà chúng ta hướng tới là một Trời mới Đất mới, là Địa đàng Eđen Chúa đã ban mà con người đã đánh mất: Địa đàng Eđen đầy tình người (hơn hẳn "nhân quyền" mà nhân loại đang cố công đòi hỏi), được ôm ấp bằng Tình thương bao la của Thiên Chúa.
Anh chị em Dòng Phan Sinh đang nỗ lực sát cánh với Gíáo hội với các tổ chức quốc tế nhằm mang lại Tự do, Hòa bình, Hạnh phúc, Nhân quyền cho công dân tất cả các quốc gia, cũng là công dân nước của Thiên Chúa. "Chúng ta là những Nhà truyền giáo tại trung tâm thế giới, trong tư cách là những anh em và những người hèn mọn, với tâm hồn quy hướng về Chúa...Chúng ta là và phải tiếp tục là anh em của mọi người. Với mọi người, đặc biệt với những người nghèo nhất" (Trích lời cha Tổng Phục vụ- Chia sẻ tháng 07).
â
Nguyễn Đình Nam
Tại Sao Lại Là Cha?
"Khí ấy, Chúa Giêsu lên tiếng nói rằng: "Lạy Cha là Chúa trời đất, Con xưng tụng Cha, vì Cha đã dấu không cho những người hiền triết và khôn ngoan biết những điều ấy, mà lại mạc khải cho những kẻ bé mọn." (Mt 11, 25) Đây là một câu trong bài Phúc âm Giáo hội dùng trong ngày lễ kính Cha Thánh Phanxicô, để nói lên lòng khiêm hạ, bé mọn của Cha Thánh.
Trong cuốn sách "Những cánh hoa đơn” của dịch giả Antôn Nguyễn Văn Phổ, Ofm kể rằng: "Dạo ấy Thánh Phanxicô và Thầy Massêô, hai Cha con cùng ở Nhà Dòng Póctiôcula. Massêô là một anh em thánh thiện, thông thái, lúc nói về Chúa thì thao thao bất tuyệt. Thánh Nhân mến anh lắm.
Một hôm Phanxicô cầu nguyện trong rừng sâu vừa ra, muốn thử đức khiêm hạ của Người xem đã cao đến độ nào, Massêô nửa đùa nửa thực hỏi:
- Tại sao Cha? Tại sao lại Cha? Ừ, mà tại sao lại Cha mới được chứ?
Thánh Nhân hỏi lại:
- Con hỏi mấy câu như thế, ý muốn nói gì? Cha không hiểu.
Massêô thưa:
- Thưa Cha, con muốn hỏi: Tại sao thiên hạ chỉ tìm đến Cha. Tại sao ai cũng muốn đem tâm sự bộc bạch với Cha, muốn nghe Cha nói, muốn làm theo lời Cha dạy, ai cũng thế. Mà hình dung Cha, nào có duyên dáng gì! Cha cũng không thông thiên đạt địa. Cha cũng không phải là con nhà vương tôn quí tộc. Thế thì vì lý do gì mà ai cũng giành nhau đến hầu chuyện Cha?
Nghe câu hỏi ấy, Phanxicô thỏa dạ lắm, Ngài trầm ngâm rất lâu, để hồn bay lên Chúa. Mãi lúc thần trí đã trở lại, Ngài mới quì gối xuống đất, tán tụng Chúa, rồi quay sang dịu dàng tha thiết, Ngài giải rõ cho Massêô hiểu:
- Tại sao Cha? Tại sao lại Cha? con muốn biết tại sao lại Cha! Tại sao mọi người tìm đến nói chuyện với Cha? Con ơi đó là do Chúa cao cả. Chúa có con mắt nhìn suốt vũ trụ. Chúa thấy rõ ai là thiện, ai là ác. Con mắt Chúa từ trời cao nhìn xuống đám người tội lỗi ở trần gian. Chúa thấy không ai bất tài bất lực, không ai hèn hạ và tỗi lội nặng nề như Cha. Để thực hiện những điều kỳ diệu như ư Ngài muốn, như Ngài thường làm, Ngài thấy ở trần gian không có loài nào kém cõi tầm thường hơn Cha, nên đã chọn Cha giao cho nhiệm vụ thực hiện. Chọn Cha để cho những ai giàu sang, nhưng ai có sức khỏe, những ai đẹp trai, những ai thông thái trí thức ở đời phải bẽ bàng hổ thẹn mà nhận định rõ rằng những gì là đức độ, những gì là hay, là tốt, là đẹp đều do Chúa ban, chứ không tự bản thân thọ sinh mà có. Như thế không ai dám tự hào trước mặt Ngài nữa. Ai muốn tự hào, hãy tự hào trong Chúa. Tất cả những gì là huy hoàng, là vinh dự, muôn đời là của Chúa.
Nghe câu trả lời khiêm hạ, nói lên với giọng tin tưởng, Massêô bẽ bàng và nhận rõ rằng Phanxicô đã dựa được lên đức khiêm nhường thật."
Còn chúng ta, những người theo chân Cha Thánh nghĩ gì, cầu xin điều gì?
Các bạn tiên khởi của Thánh Phanxicô ai cũng tìm hết cách làm cho mình nghèo nàn thiếu thốn của cải trần gian, nhưng lại cố gắng tập luyện cho được nhiều nhân đức. Anh em tin tưởng rằng nhân đức là phương tiện tích trữ của cải thiêng liêng thực sự trên trời.
Một hôm, đang lúc đàm đạo với nhau về Chúa, một người anh em đứng lên kể chuyện : "Có một người kia, ăn ở đẹp lòng Chúa, được Chúa ban cho rất nhiều ơn quí, giúp người ấy hoạt động thành công và chiêm ngưỡng Chúa. Tuy được nhiều ơn, nhưng người ấy rất mực khiêm nhường, luôn luôn nhận mình hèn hạ tội lỗi hơn hết mọi người. Chính đức khiêm nhường đã thánh hóa, bảo vệ và giúp người này tu dưỡng thêm được nhiều nhân đức khác cao đẹp. Chính vì nhân đức này mà Chúa ban thêm nhiều nhân đức khác. Chúa không để người ấy ngã phạm tội bao giờ nữa".
Nghe kể như thế, Massêô hiểu ngay đó là thứ của quí đời đời không mất. Tâm hồn anh rạo rực mong sao được đức khiêm nhường. Anh đứng lên giữa anh em, hứa rằng bao lâu còn sống ở trần gian, anh cố tập cho được nhân đức cao quí ấy, anh mới vui lòng.
Và từ hôm đó, anh ở luôn trong phòng, nhịn ăn nhịn ngủ, than thở kêu xin Chúa ban cho anh đức khiêm nhường. Anh tin tưởng rằng, không có đức ấy, thế nào anh cũng sa hỏa ngục. Theo anh, người khiêm nhường anh em vừa kể trên kia mới thiệt là người có phước.
Anh ước mong như thế một thời gian lâu. Một hôm, nhân đi trong rừng, anh thấy tâm hồn rạo rực, anh đi quanh quẩn, vừa đi vừa khóc, kêu xin Chúa. Chúa là Đấng thường hay lắng tai nghe lời những người khiêm nhường cầu xin, nên khi nghe Massêô xin, Chúa phán:
- Massêô! Massêô! Nghe tiếng gọi từ trên trời vọng xuống, Massêô linh cảm được ngay là tiếng Chúa gọi, vội vàng thưa:
- Lạy Chúa! Lạy Chúa! Con đây!
Chúa Kitô hỏi:
- Cha ban đức khiêm nhường cho con, nhưng con lấy gì đổi lại cho Cha!
Masséô thưa:
- Lạy Chúa! Con xin đổi hai con mắt của con.
Chúa phán:
- Nhưng Cha, Cha muốn rằng con vừa có đức khiêm nhường vừa có hai con mắt. Tiếng phán đến đây tắt hẳn. Massêô đứng lặng. Tâm hồn tràn ngập ánh sáng và ơn Chúa. Từ đó lòng anh vui vẻ. Mỗi lúc đọc kinh, miệng anh cứ chiêm chiếm, như tiếng chim bồ câu, nghe rất vui. Trông mặt anh hớn hở, ai cũng tin rằng lòng anh rất vui. Từ lúc được Chúa ban ơn, Massêô trở thành một tu sĩ rất mực khiêm nhường, nhận mình hèn hạ tội lỗi thua kém mọi người về mọi phương diện.
Một hôm anh Fallêrônê hỏi Massêô tại sao cứ giữ mãi cái thói quen chiêm chiếm vui vui nơi miệng ấy, không đổi đi.
Massêô đáp: “Khi đã tìm thấy hạnh phúc ở một chỗ nào rồi thì còn thay đổi làm chi."
â
Jos Bạch, sfo
NHÂN BẢN HỌC

Trở về mục lục >>
 |
|
Bài 24: Gương Giáo Hội Buổi Sơ Khai
Là một giáo hội nhỏ, gia đình anh chị em có hai đời sống cần được phối hợp cách hài hoà; Đó là đời sống vật chất và đời sống tôn giáo…
Nói về đời sống cộng đoàn các tín hữu ở Giêrusalem buổi sơ khai, tức là Giáo Hội của Chúa Kitô buổi ban đầu, sách Công Vụ các Tông Đồ đã viết: "Ngày ngày, họ đồng tâm nhất trí chuyên cần lui tới đền thờ, bẻ bánh ở nhà, cùng nhau chia sẻ của nuôi thân, lòng hân hoan, dạ đơn thành trong lời ngợi khen Thiên Chúa, trong sự mến phục của toàn dân (Cv 2, 46-47)...Và giữa họ không có ai phải túng thiếu, vì những ai làm chủ đất đai hay nhà cửa thì bán đi mà đem giá cả mà đặt dưới chân các Tông đồ, để phân phát cho mỗi người tuỳ theo nhu cầu” (Cv4,34.)
Đó là đời sống của Giáo Hội buổi sơ khai, về mặt tinh thần, họ chuyên cần lui tới đền thờ và cử hành lễ bẻ bánh ở nhà; Họ tiếp tục tuân giữ luật phụng tự của Dân Chúa, một dân tộc có nhiệm vụ duy trì việc thờ phượng và tôn vinh Chúa giữa các dân tộc. Ngoài ra, là môn đệ Chúa Kitô, họ còn siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, tức là Thánh Thể.
Còn về mặt vật chất thì họ chia sẻ thức ăn và của cải cho nhau, đến nỗi giữa họ không có người nghèo khó túng thiếu. Họ sống vui vẻ đơn thành và được sự mến phục của toàn dân. (Cv 2, 47).
Gia đình anh chị em hãy noi gương của Giáo Hội nhỏ này, hãy quan tâm đến cả đời sống vật chất và tôn giáo; Hãy ân cần thờ phượng Thiên Chúa và tích cực làm việc, để có thức ăn, quần áo, của cải hầu chia sẻ cho anh chị em, chia sẻ cho nhau.
Hãy ghi nhờ lời nhắc nhủ của Thánh Phaolô là: "Mọi sự là của anh em, nhưng anh em là của Chúa Kitô, như Chúa Kitô là của Thiên Chúa" (1 Cr 3,22).
â
ĐGM Nicolas Huỳnh Văn Nghi
|

Trở về mục lục >>
 |
|
|
Thư Áo Nâu: Hạnh Phúc Bắt Nguồn Từ Nội tâm
Áo Nâu, anh thân yêu,
Thời gian trôi nhanh quá Anh nhỉ, gần 6 năm kể từ ngày em vào Phan Sinh, vườn yêu ghi bao dấu kỷ niệm vui buồn; Ở đó có tình yêu trong sáng, có nước mắt có giận hờn và có nỗi lòng riêng...
Từ ngày gặp Anh, con tim em tìm thấy bình yên và Anh đã từng nói: Khi yêu nhau, ta hãy viết vào lòng những trang nhật ký. Tình yêu bắt đầu và không có đoạn kết thúc. Tình yêu sẽ mãi mãi tốt hơn. Em đã tâm đắc về lời nói nầy. Hằng ngày vẫn ghi nhật ký vào tim, để không còn phai nhạt, để không còn do dự hối tiếc, để tránh tái vấp phạm, và để mỗi ngày yêu Anh mạnh mẽ hơn.
Thế nhưng em vẫn khám phá ra những điều mới lạ...
Đành rằng trên đời có rất nhiều những bực dọc vất vả thường nhật, những mâu thuẫn giữa tinh thần với thực tế, không ai lại muốn làm mất lòng người khác; nhưng rồi vẫn làm mất lòng, thậm chí còn chửi rủa, mạt sát, công kích người khác. Có những người luôn nghĩ rằng mình giỏi hơn, nhanh hơn và hy sinh nhiều hơn. Có những người nghĩ rằng anh chị em mình không thể làm hơn mình được. Có những người nghĩ rằng mình thuộc Luật và Hiến Chương hơn anh em, chỉ có mình mói đúng Luật. Cũng có người vô tình hay hữu ý tự đem mình lên cao hơn vị trí thực của mình.
Anh ạ. Anh dạy em sống là phải vươn lên, học hỏi để tiến hơn, Em hiểu và em nghĩ không phải tiến bằng cách đè bẹp anh em xuống cho mình cao hơn, mà cần phải khiêm tốn làm tốt mọi việc, để từ đó, anh chị em được hưởng nhờ và noi gương bắt chước.
Hôm qua, trong chương trình thực tập, một anh trình bày về một đề tài. Anh ấy thông hiểu nhiều thật, đem rất nhiều tài liệu để tham khảo, đọc lên từng đoạn, hết tài liệu này đến tài liệu khác cùng nói về một đề tài. Chúng em lúc đó tự xếp mình vào 2 loại: loại 1 là há miệng mà nghe, mà thán phục anh ấy, nhưng khi anh ấy hỏi thì không có trả lời được một câu nào, không ghi được một tí gì vào trí nhớ. Loại thứ hai thì luôn nhìn đồng hồ, ngáp và càm ràm, ra khỏi phòng họp thì la toáng lên: "nói dài nói dai, nói dở" như rứa thì làm sao huấn luyện được?
Thế đấy, em thật buồn khi mình phải chứng kiến cảnh tượng như thế, và nghĩ rằng mỗi người đều có những cái sai cái đúng, những cái tốt, và những cái cần tốt hơn. Tuy rằng khi thực tập, anh ấy đã không nhìn kỹ khả năng anh chị em mình để huấn luyện? Nhưng thực ra anh ấy đã dày công nghiên cứu, tìm tòi học hỏi và đọc nhiều. Mình có được như thế không? Có chăng là anh ấy đánh giá chúng mình quá cao, so với tình độ thực của mình. Thế thôi! Tại sao những anh chị em lại không thể "sống chung" với sự yếu kém của người khác? Sao lại không thẳng thắn góp ý, mà chờ ra khỏi phòng họp mới la toáng lên? Tại sao mình không vươn lên đạt cái tầm nhìn của anh ấy? Nhưng rồi chính em lại cũng phạm sai lầm là thiếu khôn ngoan thiếu đắn đo khi tâm sự, bày tỏ ý kiến với anh chị em kia, để đến nỗi có người kết tội em là bênh vực cho sai trái.
Nhưng hôm nay, khi tập trung đọc kinh cho người bệnh, mọi người lại nhìn nhau vui vẻ như chưa hề có chuyện gì xảy ra. Chưa hề có chuyện cãi vã "nói dai nói dài nới dở"...
Em mới nghiệm ra thật mọi chuyện chóng qua, anh chị em thật vô tư, và em kết luận thêm cho mình một nguyên tắc: Hạnh phúc chỉ có thể bắt nguồn từ nội tâm.
â
Agnès Kim Gương
Bữa Cơm Trên Phiến
Đá
Đã nhận Chúa Kitô làm kiểu mẫu, nên Thánh Phanxicô cố khuôn cuộc đời của Ngài theo đúng kiểu mẫu. Phúc Âm kể: ngày xưa, Chúa phái các Tông Đồ đi truyền đạo, cứ hai người một các vị đi khắp thôn trang làng mạc. Thánh Phanxicô, lúc mới được 12 môn đệ, Ngài cũng phân công anh em, hai người một, đi khắp các làng mạc, giảng Tin Lành.
Chúa Kitô xưa làm trước nói sau, Thánh Phanxicô cũng thế, Ngài muốn làm gương, nên sau khi phân công, Ngài đem Massêô, lên đường sang nước Pháp.
Một hôm, trên đường đi, đến đầu làng kia, vừa đúng bữa mà bụng đã đói, cha con giữ đúng luật Dòng, và vì lòng mến Chúa, chia nhau vào làng hành khất, mỗi người một ngã. Phanxicô, dáng người thấp nhỏ, áo mặc lại vá víu, ai thấy cũng lầm là người ăn mày, nên kết quả xin được vài thức ăn thừa, vài mẫu bánh khô cứng. Còn Massêô, vóc người róng rảy, mặt mũi tuấn tú phương phi, xin được đã nhiều lại ngon, có người hảo tâm cho luôn cả chiếc bánh.
Hành khất về, Cha con dắt nhau ra khỏi làng, đến ngồi bên một dòng suối trong veo. Bao nhiêu món ăn xin được đem bày cả lên một phiến đá to. Thấy món ăn Massêô xin về vừa nhiều vừa ngon, nhìn lại thức ăn mình xin được, toàn là cơm thừa canh cặn, Phanxicô nói hí hững như một em bé:
- Cao lương mỹ vị, toàn là cao lương mỹ vị, Massêô ạ, ta không đáng hưởng, ta thật không đáng hưởng chút nào. Nghe Phanxicô lặp đi lặp lại mấy câu trên, như một điệp khúc mỉa mai, Massêô nổi cáu:
- Cao lương mỹ vị gì? Đã đến nước ăn mày như ta, Cha còn bảo cao lương mỹ vị! Không có ly không có chén, không có khăn, không có dao, không nhà không cửa, không ghế, không bàn, kẻ hầu người hạ cũng không! Thiếu thốn đến nước này là cùng!
Phanxicô vội đáp:
- Chính vì thế Cha mới ví cảnh thiếu thốn này với cả một kho tàng đầy ứa vật báu đấy con ạ. Kho báu này, loài người có tài tháo vát mười mươi, dễ gì đã tích trữ được! Ư Cha muốn nói: Bàn cơm hôm nay là bàn cơm do Chúa Quan Phòng dọn, bánh là bánh khất thực, bàn là phiến đá phẳng lì, nước là dòng suối trong veo, còn gì quí hơn không? Vì thế Cha muốn anh em ta tha thiết xin Chúa cho ta mến cảnh nghèo nàn; Ngày xưa Chúa cũng đã nếm cảnh nghèo nàn, con ạ…
Cha con thông cảm nhau, rồi ngồi vào, ăn uống ngon lành. Cơm nước xong, cùng đứng lên cám ơn Chúa và tiếp tục theo đường sang nước Pháp.
â
Trích: Những Cánh Hoa Đơn – Bản dịch của Antôn
Cô Bạn Của Thánh Phanxicô Assisi
11 Tháng 08
Một trong những cuốn phim có giá trị diễn tả về cuộc đời của thánh Phanxicô thành Assisi mới được thực hiện cách đây vài năm đã thi vị hóa vai trò của thánh nữ Clara, vị thánh Giáo Hội mừng kính hôm nay. Ðạo diễn của cuốn phim đã giới thiệu Clara qua hình ảnh một nữ tài tử trẻ đẹp với mái tóc vàng óng ả, thích tung tăng chạy nhảy giữa cánh đồng hoa hướng dương chạy dài mút mắt.
Trong thực tế, quãng đời thanh xuân của Clara đã cống hiến nhiều chi tiết có thể được sử dụng làm chất liệu để quay phim. Vào tuổi trăng tròn 15, Clara đã từ chối kết hôn vì tâm hồn của nàng bị xúc động mãnh liệt qua lời rao giảng có chiều sâu của Phanxicô. Từ đó cho đến lúc Clara trút hơi thở cuối cùng, Phanxicô là một người bạn tinh thần, một cha linh hướng của nàng.
Lúc lên 18 tuổi, Clara thoát ly gia đình và trong một buổi lễ đơn sơ cử hành vào đêm, nàng đã cởi bỏ những xiêm y đắt tiền để mặc lấy một chiếc áo dòng bằng vải thô, đã thay chiếc dây nịt quý giá bằng một sợi dây thắt lưng đơn sơ và đã để cho Phanxicô cắt mái tóc óng ả của mình tượng trưng cho tinh thần từ bỏ.
Khi một số thiếu nữ khác cùng một chí hướng, kể cả Agnes, em gái của Clara, theo chân nàng vào tu viện, họ đã bắt đầu một cuộc sống nghèo nàn, khổ hạnh và ẩn dật, cắt đứt mọi giao tiếp với thế giới bên ngoài. Họ đi chân không, ngủ trên nền nhà, không ăn thịt, và giữ thinh lặng hầu như hoàn toàn. Ðó là những dấu hiệu bên ngoài biểu lộ ý hướng bên trong của họ muốn sống khó nghèo theo tinh thần Phúc Âm như Ðức Giêsu đã dạy.
Ðế sống cuộc đời từ bỏ, các nữ tu dòng thánh Clara khước từ quyền sở hữu của bất cứ của cải nào, kể cả với tính cách là của chung.
Nhu cầu lương thực hằng ngày được giải quyết bằng của bố thí; Khi Ðức Thánh Cha khuyên họ giảm bớt cách thực hành sống nghèo cách tuyệt đối như vậy, Clara đã khẳng khái trả lời: "Thưa Ðức Thánh Cha, chúng con cần cha tha tội, chứ chúng con không mong ước cha tha chúng con khỏi những bổn phận phải giữ để trung tín dõi theo chân Chúa Giêsu".
Trong bốn bức tường tu viện tại San Ðamianô gần Assisi, Clara ân cần chăm sóc các bệnh nhân, khiêm nhượng hầu bàn và rửa chân cho các nữ tu sau khi họ đi cầu thực trở về và dành nhiều thời giờ để tâm hồn chìm sâu trong kinh nguyện. Các nữ tu đồng thời thuật lại rằng: Khi Clara cầu nguyện xong, mặt chị chiếu sáng làm chói mắt mọi người.
Trong 27 năm cuối đời, Clara bị đau ốm luôn, nhưng chị đã thu hút được nhiều Giám Mục, Hồng Y, kể cả các giáo chủ đến để tham khảo ư kiến của chị.
Thanh Bần Khiêm Hạ
Thanh Bần Khiêm Hạ là hai nhân đức rất cần thiết cho những ai muốn làm tông đồ của Đức Kitô, vì hai nhân đức ấy là hạt giống gieo vào lòng người sự bình an và thanh thản, là nét đẹp của tâm hồn, là sức mạnh giúp đời sống tâm linh người Kitô hữu tăng trưởng, là giai điệu vang lên cho đời những tiếng yêu thương, là đôi chân đưa người Phan Sinh Tại Thế tiến bước vững vàng trên con đường hoàn thiện, theo gương Thầy Giêsu chí thánh qua đường lối của Cha thánh Phanxicô.
Thế nhưng, có lẽ tôi và anh, và cũng có thể có những anh chị em khác, dù đã bước theo Cha Thánh bao nhiêu năm rồi nhưng vẫn chưa hiểu đức Thanh Bần Khiêm Hạ là gì, và tập sống như thế nào để đạt được sự hoàn hảo của hai nhân đức ấy. Tôi nghĩ rằng, Người sống thanh bần không phải là người nghèo, nhưng là người sống có ý thức, biết sử sụng tiền của đúng nơi, đúng chỗ, đúng nghĩa và giàu hay nghèo thì vẫn có thể sống thanh bần nếu mình muốn… Nhưng tại sao phải sống thanh bần? Sống Thanh Bần để làm gì và sẽ được gì?
Chúa Giêsu đề cao nhân đức thanh bần khi Người từ bỏ Ngôi Vị của Người và từ bỏ Thiên Cung để xuống trần gian làm người nghèo hèn nhất trong lịch sử nhân loại. Có lẽ gia đình Phan Sinh của chúng ta cũng có rất nhiều người nghèo, nhân loại cũng có vô số người nghèo, nhưng chưa có ai sinh ra ở ngoài đồng, sống ở ngoài đường, và chết trên đồi như Thầy Giêsu chí thánh của chúng ta.
Nhìn vào Thánh Gia, chúng ta thấy gì: Thanh bần, khiêm hạ… Thánh cả Giuse, người gia trưởng cao trọng hơn hết các gia trưởng ở trần gian, ngày ngày miệt mài bên đống gỗ, còng lưng đục, đẽo, cưa, bào, để mưu sinh cho gia đình; Cùng cộng tác với Thánh Cả trong việc mưu sinh, Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa cũng cần cù, thầm lặng bên khung cửi, để dệt cho đời những mảnh vải đẹp, để may cho người những chiếc áo xinh xắn, vẫn ngày ngày, đều đặn những bước chân trần cùng chị em thôn nữ ra giếng kín nước, vẫn cặm cụi vào bếp lo cho gia đình những bữa cơm thanh đạm… Hài nhi Giêsu ở tuổi mười hai đã biết phụ giúp cha làm những công việc lặt vặt của người thợ mộc, và chắc chắn, Hài Nhi Giêsu sẽ nối nghiệp cha để làm nghề thợ mộc, nghề nghèo hèn nhất thời đó.
Lẽ thường, khi làm một hành trình dù dài hay ngắn hạn, người ta luôn dự trù cho mình đủ mọi vật dụng cần thiết. Nhưng riêng Chúa Giêsu, ngày giã từ Mẹ hiền để lên đường làm bổn phận của Chúa Cha giao phó với đôi bàn tay trắng. Khi sai các môn đệ đi rao giảng Tin Mừng, Người đã chỉ thị cho các ông rằng: "Đừng kiếm vàng bạc hay tiền giắt lưng, đi đường, đừng mang bao bị, đừng mặc hai áo, đừng đi dép hay cầm gậy” (Mt 10, 9-10). Còn bản thân của Người thì "chim có tổ, cáo có hang, Con Người không có chỗ tựa đầu”, Thánh Phanxicô cũng là người tài giỏi, giàu sang, quyền thế, đầy danh vọng, nhưng rồi Người cũng từ bỏ tất cả những lợi lộc của trần gian để chọn “Bà Chúa Nghèo" và sống Thanh Bần cách tuyệt đối đến trọn đời theo gương của Thầy khả kính Giêsu.
Tiền bạc và vật chất là nhu cầu không thể thiếu trong đời sống hằng ngày, và con người cần có tiền để sinh sống, cần có của cải để phục vụ cho bản thân và gia đình… Vì vậy có thể nói: Tiền của là nhu cầu rất cần thiết của con người, và thường thì ai cũng muốn trang bị cho mình, và gia đình đầy đủ mọi thứ cần thiết, luôn muốn cải thiện, nâng cao đời sống kinh tế, và đó cũng là điều tất nhiên!
Thế nhưng, để tập sống theo đức thanh bần, chúng ta đừng miệt mài vươn lên vì đồng tiền; Người sống thanh bần thì luôn tạo khoảng cách với vật chất, có cự ly với tiền bạc. Chúng ta cần tiền nhưng không tham tiền, không dùng mưu mô, mánh lới để kiếm tiền; Đồng tiền chúng ta cầm trên tay phải là đồng tiền chân chính, đồng tiền thấm đẫm những giọt mồ hôi của chúng ta. Chúng ta phải làm chủ tiền bạc chứ không làm nô lệ cho tiền bạc vì tiền của là do Chúa ban để phục vụ cho con người. Không coi trọng tiền bạc hơn tình nghĩa hay sinh mạng của anh em, đừng khư khư giữ lấy bạc tiền mà hãy biết chia sẻ; Không đợi đến lúc dư dật mới chia sẻ mà hãy chia sẻ những lúc có thể chia sẻ; Hãy can đảm, mạnh mẻ nói không với những đồng tiền bất chính, hãy sống thanh thản khi tiền đầy tay hoặc tay trắng giữa đời; Hãy biết khước từ với những thứ không giúp ích gì cho ta. Không trau chuốt bề ngoài, không ăn mặc cầu kỳ, xa hoa, tránh xa hội hè, đình đám. Xin hãy nhớ: Tiền Của là con dao hai lưỡi, nó có thể giúp chúng ta nên hoàn thiện nhưng nó cũng có thể làm ta mất linh hồn.
Người Phan sinh Tại Thế là người sống đời hoán cải; Chúng ta hãy luôn cầu xin Mẹ Đấng Thanh Bần dạy cho chúng ta biết sống Thanh Bần. Xin Thánh Cả Giuse, Đấng trọn đời khiêm hạ giúp chúng con biết sống khiêm hạ. Xin Cha Thánh Phanxicô, vị Vua Nghèo thứ hai của trần gian dẫn dắt chúng con bước đúng theo Linh Đạo của Người để cuộc đời của chúng con là những ngày luyện tập đức Thanh Bần Khiêm Hạ.
â
Phan Xưa
Tập Sống Thanh Bần Khiêm Hạ
Đứng trước một số tiền lớn, một gia tài lớn, hay một vật chất có giá trị, ít có ai có thể nói tiếng không hay lắc đầu từ chối; Thậm chí có người còn tranh giành, hơn thua nhau từng chút một, và sẵn sàng kiện tụng nhau ra toà hoặc sẵn sàng đổi cả tính mạng để được có những thứ đó.
Ở Việt nam, hiện nay, những việc ấy xảy ra như cơm bữa…
Từ khi nhà cửa, đất đai, ruộng vườn trở nên đắt đỏ, người ta đâm ra xem thường tình nghĩa, người ta dễ dàng đổi trắng, thay đen, thị phi điên đão, đánh mất luôn cả nhân tính. Hầu như ngày nào báo chí cũng đăng những tin động trời như con hành hung cha mẹ vì phân chia tài sản không đồng đều, vợ chồng ly dị nhau để được chia gia tài, anh chị em đánh nhau, đâm chém nhau vì tranh giành nhà cửa, ông hàng xóm đi kiện bà hàng xóm vì quyền lợi đất đai…
Căn nhà tôi đang ở được cất trên mảnh đất thân yêu của ông bà để lại, trên mảnh đất này đã có ngàn vạn giọt mồ hôi của cha tôi thời trai trẻ đã vun bồi; Sau đó, cha đi lính, cha đã không nhận một thứ gì của nội.
Ngày cha tôi mất, nội năn nỉ mẹ tôi về lại mảnh vườn xưa định cư cho nội đỡ buồn, đỡ nhớ cha, nhớ cháu, và mẹ tôi vâng lời, khăn gói đưa đàn con trở về quê chồng.
Ngày ấy, khu vườn của nội bao la lắm, tuổi thơ của tôi chạy nhảy rong chơi đến mệt lã thì mới có thể giáp hết khu vườn; Nội cho mẹ tôi tự do chọn lựa một góc nào đó trong vườn để cất nhà, và mẹ muốn lấy bao nhiêu đất là tùy mẹ. Nhưng mẹ chỉ xin vỏn vẹn một căn nhà và một cái sân tương đối, thủa đó là vào thập niên sáu mươi.
Rồi ngày tháng trôi nhanh, thời cuộc thay đổi, năm 1975, gia đình tôi bị buộc phai đi kinh tế mới; Ngày ra đi chẳng dám ngoái nhìn lại phía sau, chẳng dám nhìn lại mảnh đất, ngôi nhà thân yêu chất chứa hàng ngàn kỷ niệm của ông bà, của cha, và cả khối kỷ niệm thời thơ ấu của anh chị em chúng tôi.
Năm năm sau, gia đình tôi bỏ trốn vùng kinh tế mới và trở về ngôi nhà xưa, cám ơn Chúa là khoảng sân và ngôi nhà còn nguyên vẹn, nhưng mảnh vườn thì không còn lại một hòn đất chọi chim, nhà nước tịch thu hoàn toàn, tất cả đều thuộc quyền sở hữu của họ, và họ đã phân chia cho những người có công với nhà nước. Chúng tôi vui mừng bước vào nhà mà lòng cứ nơm nớp lo sợ, mừng vì căn nhà còn nguyên vẹn, lo sợ vì không biết mình sẽ bị bắt trở lại kinh tế vào lúc nào (vì lúc bấy giờ, chung quanh nhà toàn là dân tai to, mặt lớn!)
Khi kinh tế nước nhà có chiều hướng phát triển, người ta mở đường, xẻ lối ngang dọc trong thành phố để tiện bề giao thông và để tăng thêm vẻ mỹ quang, khoảng sân nhà tôi nằm ngay tim lộ, nhà nước bồi thường cho một mảnh đất khác gần đó, cũng là mảnh đất cũ của nội. Thế là nhà tôi có được hai căn, hai căn này tương đối khá lớn, mẹ chia ra làm bốn phần cho bốn đứa con. Chị cả tôi đứng tên ba phần, mẹ một phần, rồi thì lần lượt các chị em tôi ai nấy đều được nhận phần riêng, có gia đình riêng, cất nhà riêng, còn tôi, tôi ở chung với mẹ, phần đất riêng của tôi còn nguyên đó nhưng tôi không được nhận và cũng không được đứng tên mà không có lý do.
Một ngày kia, chị tôi bán mảnh đất ấy, bỏ túi riêng mà không một lời nói với tôi, tôi hoàn toàn im lặng trước việc làm của chị. Rồi lại một ngày nọ, mẹ ký giấy tờ giao toàn quyền căn nhà và đất mà mẹ và tôi đang ở cho đứa em. Cũng chẳng ai nói đến tên tôi nữa lời, và tôi cũng hoàn toàn im lặng…
Tôi không cần phải có phần như các chị em, tôi cũng không cần chị em phải chia sẻ tiền bạc với tôi khi sử dụng phần đất của tôi, nhưng với bản tính tự nhiên của con người, tôi cảm thấy buồn da diết, tận cõi lòng tôi nghe mãi nỗi đau gặm nhắm sự mặc cảm vì không được thương yêu, bị bỏ rơi, bị xúc phạm vẫn cứ dâng lên...
Rõ thật! Tiền bạc đang nhiễu nhương đắc thắng cho tình nghĩa bị xoáy mòn, mấy chục năm tình nghĩa chị em ruột thịt giờ thì không bằng mảnh đất, đồng tiền! Rất nhiều lần, nhiều đêm, tôi thơ thẩn một mình trên đường, đếm những bước chân của mình và tự nói chuyện với mình để an ủi và nhắc nhở mình: Chúa đã đến trong hang đá, trong cảnh nghèo hèn nhất, ngày Người giã từ dương gian để trở về với Chúa Cha, Người cũng về trong cảnh nghèo hèn, nghèo đến không một mảnh vải che thân... Cha Thánh Phanxicô cũng vậy! Ngài đã chối từ tất cả để được sống nghèo… Tôi là con của Chúa, tôi theo gương Cha Thánh là để tập sống khó nghèo như Chúa Giêsu. Tiền của chỉ là phù vân! Trần gian chóng qua, đời người ngắn ngủi, không khéo, biết đâu, khi ôm mớ tài sản vô tri ấy tôi sẽ mất cả linh hồn! Nghèo để được giống Chúa, nghèo để được Chúa thương yêu, nghèo để được Chúa chăm sóc, ủi an nhiều hơn vậy thì, tại sao tôi phải buồn khi tình đời thay đổi, và lòng người đổi thay? Tập vui sống nghèo để đức Thanh Bần đơm mầm hạnh phúc, để những bước về Thiên quốc không bị lê lết vì vật chất kéo lôi…
Lạy Chúa, con cám ơn Chúa đã cho con cuộc sống nghèo và biết vui nhận cái nghèo, xin Chúa giúp con luôn giữ lòng thanh thản trước khi tiền của đầy ắp đôi tay, hay khi tay trắng hao gầy, và mong sao mọi người sẽ đối xử với nhau bằng tình yêu thương để đức Thanh Bần được tồn tại và lớn lên trong lòng mọi người… để cho ai thực thi đức Thanh Bần thì sẽ lớn lên trong sự Khiêm Hạ…
â
Quê Nghèo
Viết Cho Em
Em ở xứ khác đến quê tôi để đi học, nơi em trọ, cách nhà tôi chỉ vài chục mét. Lâu ngày, em và tôi trở nên hàng xóm thân thiết;Em hiền hậu, trầm tĩnh và ít nói, lại chăm chỉ học hành. Chúng tôi thường gặp nhau mỗi tối ở khuông viên nhà thờ, tôi làm việc nhà Chúa còn em thì học bài. Đôi khi công việc của tôi hoàn tất sớm, chị em chúng tôi ngồi lại nơi sân nhà thờ dăm phút trò chuyện đề thư giản.
Đêm ấy, ngồi ở băng ghế nơi nhà thờ nói chuyện phím, bất chợt em hỏi tôi: "Chị có biết Dòng Tu nào… Chị giới thiệu cho em đi…" Tôi hỏi ý của em muốn "tu" như thế nào, em nói "tu cho ra tu"; Tôi nói tóm gọn đường hướng Phan Sinh cho em nghe, em đồng ý, thế là mỗi tháng em đều sắp xếp việc học để về Nhà Dòng tìm hiểu.
Ngày rũ bỏ chiếc áo thư sinh nơi giảng đường, em vui nhận chiếc áo Nâu để làm người Hèn Mọn giữa cuộc đời hơn thua, dối gian, lọc lừa. Đêm chia tay, em nói với tôi là em không có đủ lộ phí, tôi dốc trọn tâm tình và chiếc túi bé nhỏ của mình để chia sẻ lộ phí cùng em, em nhận mà đôi mắt ươn ướt… Trong đêm, tôi vẫn nhìn rõ được nét xúc động trên gương mặt hiền hoà trẻ trung của em, chị em chúng tôi chầm chậm bước ra khỏi khuông viên nhà thờ và chia tay nhau, tôi một ngã và em một ngã.
Tôi và em chia tay đã mười năm. Tôi thường nhớ đến em trong những lời kinh nguyện, nhưng cũng có đôi khi cuộc sống xô dạt tâm tư cho tình cảm bập bềnh trôi nổi theo giòng đời xuôi ngược làm tôi lại quên mất em. Hôm qua tôi nhận được thư của em, lá thư chất chứa đầy tình mến của một đứa em khi nghĩ về chị, và tâm tình của một người biết ơn, cám ơn và nhớ ơn khi đã nhận ơn. Đầu thư em thăm hỏi tôi, kế tiếp là em nhắc lại chuyện ngày xưa, chuyện đôi mắt em bị nhoè lệ khi đón nhận sự chia sẻ của tôi. Cuối thư em cho tôi biết, tháng chín sắp tới, em sẽ được quỳ cúi trước vị đại diện Giáo Hội để nói lên tâm tình yêu đời thanh bần, khiêm hạ qua lời Vĩnh Khấn sống đời Hèn Mọn theo Đấng Áo Nâu. Tâm tình và số tiền bé nhỏ của tôi ngày nào, vẫn theo em trên mọi nẽo đường đời, và đó cũng là một phần sức mạnh, niềm tin yêu cho em vững bước đến ngày hôm nay.
Đọc xong lá thư của em, tôi ngỡ ngàng đến xúc động! Thú thật, tôi quên lững việc ấy vì nó quá nhỏ bé, đó chỉ là những chuyện vặt vảnh trong đời sống thường ngày, nó chỉ như hạt cát trong sa mạc, vã lại, chia sẻ là bổn phận; Nhưng tôi không ngờ kết quả lại thật lớn lao và phi thường! Cám ơn Chúa vô vàn, vì chính Chúa đã dạy tôi biết yêu thương, Chúa đã cho chị em chúng tôi được gặp nhau, thương nhau, chia sẻ cùng nhau, và kết quả của hạt giống yêu thương ngày ấy giờ đã trổ hoa hạnh phúc.
Tôi luôn tâm niệm: Hãy chia sẻ những lúc có thể chia sẻ chứ không đợi đến khi dư thừa, bởi vì, của dư thừa mà đem cho người khác sẽ trở nên vô nghĩa và xúc phạm đến người nhận.
Chúc em luôn bình an và thiện hảo.
â
Chị của em
Con
Đường Khiêm Hạ
Con đường khiêm hạ là con đường của Tình Yêu, con đường khiêm hạ là con đường nhập thể của Đức Kitô, Đấng đã xuống tới mức tột cùng của thân phận làm người khi sống cuộc đời của mình trong sự lầm than khốn khó, bị khinh miệt, bị chống báng và loại trừ, bị coi là điên dại và bị quỉ ám, bị bắt bớ, sỉ nhục, hành hình cho đến chết...
Người ta chỉ hạ mình xuống khi tha thiết yêu thương một người: Hạ mình xuống để say mê, để cảm phục, để đi theo, để bám lấy và để dâng hiến tất cả đời mình cho một tình yêu… Người ta không thể hạ mình nếu chưa yêu, và sẽ không hề có tình yêu mến nếu chưa sống khiêm hạ; Tình yêu là sức mạnh biến đổi của tâm hồn, mang lại sự sống mới cách lạ lùng cho người đang yêu; Tình yêu làm tan biến cao vọng và lối sống kiêu hãnh, để có thể xuống thật thấp, thật gần, thật sâu, thật sát với người mình yêu. Khi con đường Khiêm Hạ mở ra thì người ta biết được là Tình Yêu đã đến, đã thấm nhập, đã biến đổi tận tâm can.
Con đường Khiêm Hạ là con đường của tinh thần Nghèo Khó, kẻ ham muốn sự giàu có, (ngay cả sự giàu có tinh thần) sẽ không thể bước vào con đường này; Cũng vậy, chỉ thực sự nghèo khó trong tâm hồn thì người ta mới không còn tìm kiếm, mong mõi, đòi hỏi và chiếm giữ cho bản thân mình một điều gì đó, và mới hoàn toàn phó thác để cho Thiên Chúa định liệu mọi sự về mình.
Nơi tâm hồn kẻ nghèo khó chỉ có đón nhận, một sự đón nhận nhẹ nhàng trong mọi tình cảnh vì họ đã nhận biết rằng, mình đang ở bậc thang cuối cùng của thân phận làm người, và mọi sự xảy đến đều là ân ban. Sự nghèo khó mang lại tự do và an vui cho tâm hồn khiêm hạ, vì không còn bị ràng buộc bởi những lo lắng giả tạo bên ngoài, nhưng đưa tới sự sống đích thực bên trong.
Con đường Khiêm Hạ còn là con đường của sự từ bỏ: Sống là chấp nhận từ bỏ, cuộc sống tự nó đã là một tiến trình lựa chọn và từ bỏ không ngừng. Con đường thiêng liêng lại đòi hỏi một sự từ bỏ quyết liệt hơn: từ bỏ ý mình để đón nhận ư Chúa, từ bỏ những mơ ước của mình để cho những ước mơ của Thiên Chúa được thành tựu, từ bỏ để sống vâng phục, tin tưởng và phó thác, từ bỏ để trở nên điều mà Thiên Chúa muốn làm nên, từ bỏ để nhận lãnh điều mà Thiên Chúa muốn trao ban, từ bỏ để có thể ra đi cho một sứ mệnh mầu nhiệm, từ bỏ để có thể sống trọn vẹn thân phận làm người trong ý nghĩa cao đẹp nhất. Con đường Khiêm Hạ mời gọi Từ Bỏ đến mức độ tột cùng để có thể dấn thân và sống cho Chân Lý và Chân Lý của cuộc sống không phải là chiếm hữu mà là từ bỏ, mà ngõ đi vào Sự Sống là con đường Khiêm Hạ, con đường Tự Hủy của Đức Kitô, là từ bỏ ngay cả chính bản thân mình; Từ Bỏ là cách diển tả tột cùng của một Tình Yêu vì khi yêu người ta vui lòng từ bỏ tất cả.
Con đường Khiêm Hạ là con đường của Thập Giá, là con đường của hy sinh và đau khổ để nói lên tình yêu sâu nhiệm. Chỉ có những tâm hồn khiêm hạ mới thật sự muốn vác thập giá, và chỉ những ai vui lòng vác thập giá thì mới thật sự hiểu biết và kinh nghiệm về tình yêu; Tình yêu không thập giá là tình yêu giả trá; Con đường thập giá nặng trĩu đôi vai nói lên thân phận cùng khốn của kiếp người, nhưng cũng là dấu chỉ của niềm tin biểu hiệu vinh quang của con cái Thiên Chúa. Có những người muốn theo Chúa nhưng không muốn vác thập giá. Cuộc sống tự nó đã là thập giá, nhưng chỉ là thập giá cứu độ trên con đường theo Đức Kitô, con đường của Tình yêu khiêm hạ. Tình yêu ấy đòi hỏi đóng đinh chính bản thân mình vào thập giá, được treo chơi vơi giữa trời và đất với cơn khát không ngơi trước khi được biến đổi hòan tòan trong cuộc sống mới: "Xin cho con mỗi ngày được lớn lên bằng tình yêu khiêm hạ".
â
Không biết tác giả
Thanh Bần Theo " Đường Hy Vọng”
- 407. Của cải chôn vùi con, nếu con đội nó lên đầu; của cải làm bệ chân con nếu con đứng trên nó.
- 408. "Nghèo trong nơi con ở, nghèo trong áo con mặc, nghèo trong đồ con ăn, nghèo trong đồ con dùng, nghèo trong việc con làm" (Cha Chevrier).
- 409. Người ít đòi hỏi là người sướng, vì thấy mình đầy đủ, người nhiều đòi hỏi là người cực, vì cứ thấy mình thiếu thốn mãi.
- 410. Nhìn vào con, con thấy thiếu, con cực số một. Nhìn vào anh em con, con thấy bao nhiêu người khốn cực hơn con.
- 411. Không có của mà tham vẫn chưa phải là thanh bần, có của mà không dính bén vẫn có thể "có lòng khó khăn" thực sự.
- 412. Đừng rộng rãi với của người ta, đừng keo kiệt với của riêng con, đừng phung phí với của công cộng.
- 413. Nghèo hèn, nghèo khó, nghèo khổ, nghèo cực. Nếu có tinh thần thanh bần, hãy chấp nhận những hậu quả của nghèo nàn giữa xã hội.
- 414. Dùng của cải cách quảng đại, trọng của cải cách tế nhị, xa của cải cách anh hùng.
Vì không phải của con, chính là của Chúa trao cho con xử dụng, của người nghèo.
- 415. Thinh lặng nhường nơi chỗ tiện nghi hơn, công việc lợi lộc hơn cho kẻ khác, đó là dấu thanh bần chân thành.
- 416. Con là quản lý của Chúa; Ngài giao nhiều, con giữ nhiều, ít giữ ít, Ngài thu lại, con bằng lòng, nhưng con chịu trách nhiệm về của Ngài.
- 417. Thanh bần ghen ghét, thanh bần chỉ trích, thanh bần uất hận, không phải là thanh bần Phúc Âm.
- 418. Thế gian không thấy con vâng phục, thế gian không biết con trinh khiết, nhưng thế gian dễ nhận ra con là chứng nhân thanh bần.
- 419. "Xin Chúa cho con được khó nghèo như Chúa", thường con hay cầu nguyện ngược lại!
- 420. :Hội thánh của người nghèo", không phải để làm cho dân chúng nghèo mãi, nhưng với nỗ lực thăng tiến cuộc đời của dân chúng về mọi phương diện.
- 421. Có như không có, bán như không bán, mua như không mua, như không có gì cả, mà làm chủ tất cả, không đòi hỏi gì cả, sẵn sàng cho tất cả. Đó là tinh thần thanh bần.
- 422. Khó nghèo không phải là không có của: Đó là khốn khổ, thiếu thốn. Khó nghèo trước tiên là là tập trung của cho đúng. Một cốc cà-phê, một cốc bia! Nhưng cũng là một cốc mồ hôi, một cốc nước mắt, một cốc máu đổi lấy nó. Một khói thuốc, nhưng cũng là một hơi thở hổn hển của người lao động vô danh.
- 423. Sự thanh bần thứ nhất là gì? -Là làm việc! Đây là niềm an ủi của con khi hiểu ý nghĩa của nhọc mệt lao tác hàng ngày. Hạnh phúc của con được Chúa nói trong Phúc Âm: "Phúc cho tôi tớ đó, chủ đến mà gặp nó đang làm như thế." (Lc 12:43).
- 424. Lúc 15 tuổi, thiếu nữ Clara đến tu viện, Thánh Phanxicô hỏi chị: "Con đến tìm gì ở đây?" - "Con tìm Thiên Chúa", Clara đáp. Câu trả lời gọn ghẽ và rõ rệt. Đó là tất cả kho tàng của chị. Clara đã nên thánh. Mấy ai biết chọn như chị?
â
"Đường Hy Vọng” ĐHY-TGM P.X Nguyễn Văn Thuận
Khiêm Hạ Theo " Đường Hy Vọng”
- 506. Nếu con hiểu biết hạnh phúc được làm con Chúa thì những điều sỉ nhục không thấm gì con và những lời hoan hô cũng chẳng thêm gì cho con.
- 507. Nếu con biết rõ mình con, con sẽ tức cười, khi nghe tung hô con, và con thấy các sự khinh rẻ con là có lý. Con lại ngạc nhiên tại sao người ta mới xử ngang độ ấy thôi.
- 508. Hồn tông đồ khiêm tốn và tạ ơn Chúa như Phaolô: "Tôi là kẻ rốt hèn trong các tông đồ và tôi không đáng được gọi là tông đồ... Nhờ ơn Chúa mà tôi được như ngày nay."
- 509. Khi con tự hạ mình, chưa hẳn con khiêm nhượng. Khi người ta hạ con, chưa hẳn con khiêm nhượng. Khi người ta hạ con, mà con vui lòng chấp nhận vì Chúa, lúc ấy con khiêm nhượng thật.
- 510. Con chỉ hiểu được đức khiêm nhượng khi suy nghiệm cả cuộc đời Chúa Giêsu, con Thiên Chúa hạ mình chịu mọi sự ngớ ngẩn, dốt nát, hiểu lầm sâu độc, suốt 33 năm vì yêu chúng ta.
- 511. Kiêu ngạo là ăn cướp ơn Chúa, vinh danh Chúa, để làm của riêng con, công nghiệp con.
- 512. Đức Maria càng khiêm tốn, thì càng trong sáng, vì càng thấy rõ những sự kỳ diệu Chúa làm trong lòng Mẹ. Như ánh sáng qua một bóng đèn thủy tinh không vướng bụi.
- 513. Người sống trước mặt Chúa không thể kiêu ngạo được. - Ngạo về điều gì? - Tất cả đều là của Chúa!
- 514. Coi chừng khiêm nhượng "giả hiệu" khi con từ chối mà kỳ thực là thoái thác bổn phận dấn thân của con và sợ chịu sỉ nhục vì Chúa.
- 515. Đừng chối những khả năng của con, những thành công của con. Hãy tạ ơn Chúa vì ngài xử dụng con như họa sĩ dùng ngòi bút ba xu.
- 516. Chỉ người khiêm nhượng thật mới được an vui như Chúa Giêsu dạy: "Hãy học cùng ta vì ta hiền lành và khiêm nhượng thật trong lòng và các con sẽ tìm thấy bình an cho tâm hồn."
- 517. Người khiêm nhượng như hạ mình sát đất không còn ngã xuống đâu nữa. Người kiêu ngạo như leo trên tháp cao, rất dễ nhào và ngã nặng khủng khiếp!
- 518. Cương quyết vâng lời Hội Thánh là trung thành. Quyết liệt hy sinh vì nhiệm vụ là can đảm, không phải kiêu ngạo...
- 519. Bao lâu con còn tôn thờ cái "tôi" của con, chẳng khác nào con cầu nguyện: "Lạy Chúa xin Chúa hãy tin con, hãy trông cậy vào con."
- 520. Thử thách cay đắng nhất là chấp nhận giới hạn mình. Chịu đóng đinh vào một thánh giá nhỏ hẹp, con càng đau đớn hơn. Nếu thánh giá rộng, con còn được thoải mái hơn phần nào!
- 521. Trong cuộc đời Chúa Giêsu, hình như Chúa yêu thương cách riêng những kẻ khiêm nhượng, và quên hết tội lỗi của họ không bao giờ nhắc lại: Phêrô, Mađalêna, Simon phong cùi, Giakêu... Chúa tự mời mình đến nhà họ, và đành chịu tiếng: "Bạn của quân thu thuế và người tội lỗi".
- 522. Không thể tránh căng thẳng, nhưng giảm bớt căng thẳng được. Trước hết Chúa không buộc con làm tất cả mọi sự. Thứ đến việc gì Chúa giao con làm, Chúa ban thời giờ và phương tiện. Nếu với tất cả cố gắng và thiện chí, con không thực hiện được là Chúa không muốn. Tại sao căng thẳng ngã lòng? Cứ bình an!
â
"Đường Hy Vọng” ĐHY-TGM P.X Nguyễn Văn Thuận
|
|

Trở về mục lục >>

Lời Mời Gọi
Khi cầu nguyện cho người khác cũng là cầu nguyện cho chính mình, và khi cùng cầu nguyện với nhau thì hiệu quả của lời cầu nguyện càng hữu hiệu hơn.
Nếu quí vị có những ý chỉ muốn cùng cầu nguyện với chúng tôi, xin hãy liên lạc với chúng tôi qua điện thoại 714-720-4465, hay qua email psttvnusa@yahoo.com hoàn toàn miễn phí. Chúng tôi không thể tự ý phổ biến công khai những ý chỉ cầu nguyện nếu không có ý kiến của quí vị.
Xin những ai quan tâm đến những ư chỉ dưới đây, cùng hiệp ý cầu nguyện với chúng tôi vào lúc 9 giờ tối mỗi đêm (theo giờ California, Hoa Kỳ). Tuy nhiên, xin quí vị cứ tiếp tục cầu nguyện vào những lúc thuận tiện với hoàn cảnh của mình.
Tâm Tình Tạ Ơn
- Một người xin tạ ơn Chúa sau 2 tháng cầu nguyện, người vợ bị tâm thần đang hồi phục cách rõ ràng từ thể xác đến tinh thần.
Xin Ơn Chữa Lành Thể Xác
- Xin cầu cho các bệnh nhân: Brenda Arkerman, Nhung Bùi, Phạm Tuyết Minh, Trần Việt Cường, Nguyễn Thanh Thủy, Đào Đình Ngọc, Lý Bùi, Nguyễn Thanh Hằng, Nguyễn K. Phượng, Trần C. Kevin, Trần T. Cúc. Trần T. Huệ, Nguyễn Kim Ngọc, Quyên Trần, Minh Thu, Nguyễn Tùng, Babi P.Khanh Lê, Phạm Linh, Kinh Lê, H. Lê, Lê Đoàn, C.Nguyễn, Hoàng Hậu, Trân Trần, Vũ Ngọc Jennifer, Ray Hardwick, LM William Brand, ĐGM Nicolas Huỳnh Văn Nghi.
Xin Ơn Chữa Lành Tâm Hồn
- Xin hiệp ý cầu nguyện với một người với ý chỉ: "Xin cho con biết con, và xin cho con trở nên như Chúa muốn"
Xin Cầu Nguyện Theo Ý
Đặc Biệt
- Một người đang theo Phật Giáo xin tiếp tục cầu nguyện cho một người vợ bị bệnh tâm thần.
- Xin quí anh chị hãy cùng các linh hồn thai nhi kêu cầu các Thần Thánh trên thiên quốc nài xin Chúa Thành Thần soi lòng dạy dỗ cho những nhà lãnh đạo các quốc gia, những người làm Luật, những bác sĩ và chuyên viên y tế, những người làm Cha-Mẹ hãy ngưng việc sát hại thai nhi vô tội. Xin quí anh chị hãy nghĩ đến các linh hồn thai nhi và cầu nguyện với các linh hồn thai nhi ít là 2 lần trong ngày vào giờ Kinh Sáng và Kinh Tối.
Xin Cầu Nguyện Cho Các Linh Hồn
- Linh hồn mới qua đời là: Vincentê Nguyễn Đức Vụ, Phêrô Nguyễn Văn Báu
- Và các linh hồn Angela: Ngọc.
Anna: Hoa, Sáu, Chiểu,
Điểm, Phượng, Ri. Antôn: Vượng, Đại. Cecilia Kỷ. Giacôbê: Dũng. Gioan Baotixita: Ngọc, Vinh Chính, Hoả, Khoát. Gioankim: Thống. Gioan-Phaolô: Bất. Giuse: Lâm, Luận, Tý, Bình, Đoài, Hân, Hiền, Hồng, Kiên, Long, Mỹ, Thanh, Tính, Từ Giuse-Maria: Diệm, Phán. Katarina: Kính. Luca Khoa. Lucia: Phụng. Madalêna: Hà, Kim Cúc. Maria: Xang, Nhật Ánh, Tín, Thứ, Vân, Bình, Đường, Khiếu, Như, Oanh, Phúc, Tính, Trang, Tranh. Maria Juliette: Độ. Maria Rosa: Quang. Matta: Tốt. Phanxicô Saviê: Xân. Phaolô: Lộc, Nghị, Qui, Thông. Phêrô: Diệu, Tụng, Cư, Hữu, Lý, Lộc, Thạnh, Thế, Tự. Têrêsa: Phương Anh, Chi, Bích Mai, Thu. Tađêô: Dương. Tôma: Toàn. Vêrônica: Úy. Hồng y: Phaolô Giuse Tụng. Các linh mục: Giuse Biên, Phêrô Bá, Gabriel Phong. Các linh hồn thân quen: Diệp Hoa, Diệp Thọ, Mai Anh, Dorren Harvey. Và các linh hồn không ai nhớ đến.
- Linh mục Lê Quang Uy, DCCT xin chúng ta cầu nguyện cách đặc biệt cho linh hồn các thai nhi đã bị phá thai ngay khi còn trong bụng mẹ.

Trở về mục lục >>

Hội
Đồng Phục Vụ Quốc Gia Hoa Kỳ
* Bầu Chọn Tân Ban phục vụ: Các trưởng phục vụ cấp Miền sẽ có tu nghị bầu cử hội đồng phục vụ cấp quốc gia vào ngày 24/10/2009 tại Albuquerque, tiểu bang New Mexico. Lịch sinh hoạt như sau:
- Tháng Tư: Thông báo kế hoạch bầu cử, mời gọi đề cử ứng viên
- Tháng Sáu: Khóa sổ đề cử ứng viên
- Tháng Bảy: Ban vận động bầu cử xin ư kiến các a/c được đề cử để lập danh sách ứng viên
- 15/08: Hạn chót để ban bầu cử nhận lại giấy chấp nhận tranh cử
- 22/08: Bắt đầu 9 tuần cầu nguyện đặc biệt cho ngày bầu cử
- 29/08: Hoàn tất danh sách ứng viên
Hội
Đồng Trợ Úy Quốc Gia Hoa Kỳ
* Tu Nghị Của Hội Đồng Trợ Úy: Hội đồng trợ úy dòng PSTT cấp quốc gia sẽ tổ chức tuần lễ họp bàn về vấn đề trợ úy cấp miền và cấp quốc gia sẽ diễn ra vào mùa Thu 2010 qui tụ các tu sĩ trợ úy của 3 nhánh dòng nhất: Anh Em Hèn Mọn (OFM), Nhánh Viện Tu (OFM Conv.), Nhánh Lúp Dài (OFM. Cap.), Dòng Ba Tại Viện (TOR), và các Giáo Dân Trợ Úy Dòng PSTT, đây là dấu hiệu cho thấy "các anh" dòng I rất quan tâm đến dòng PSTT của chúng ta. (Tin do tu sĩ Bob Brady, OFM, Chủ tịch luân phiên của hội đồng trợ úy dòng PSTT cấp quốc gia chuyển đến)
Hội
Đồng Phục Vụ Miền
* Lịch Trình Huấn Luyện Khởi Huấn Đợt II:
5-. Tri-Counties ngày 05/09/2009 tại Santa Barbara Mission
* Đại Hội Miền 17/10/2009: Kỷ niệm 800 năm hình thành Gia Đình Phan Sinh tại St. Margaret Mary Parish, 12686 Central Ave. Chino, CA 91710, ĐT (909) 627-8466.
Hội
Đồng Trợ Úy Miền
* Khóa Trợ Úy và Huấn Luyện: Có 2 ngày "gặp gỡ" để định hướng vào thứ Bảy 18/7 và 15/8, xin quí học viên xin thu xếp thời giờ đến dự một trong hai ngày nói trên tại 13935 Telegraph Road, Whittier, CA 90604 từ 9 giờ sáng đến 4 giờ chiều.
* Nghi thức "Sai Đi”: Quí anh chị đang học khóa Giáo Dân Trợ Úy và Đặc Trách Huấn Luyện sẽ diễn ra trong ngày đại hội Miền 17/10/09 tại St. Margaret Mary Parish, 12686 Central Ave. Chino, CA 91710.
Huynh
đệ đoàn Antôn, San Diego
- Dự kiến huynh đệ đoàn Antôn đề cử anh Cao Anh Tuấn, chị Marie Huỳnh và chị Therese Ngọc Đặng đi học khóa Trợ Úy và Huấn Luyện, xin chúc mừng.
- Huynh đệ đoàn Antôn sẽ kỷ niệm 30 năm thành lập huynh đệ đoàn với đêm tĩnh tâm chia sẻ vào tối thứ Sáu và thánh lễ tạ ơn trong ngày họp mặt vào sáng thứ Bảy ngày 7 tháng 10, 2009 tại Trung Tâm Công Giáo Việt Nam số 3114 40th St. San Diego, CA 92105.
Huynh
đệ đoàn Agnes, Westminster
- Anh Bob Murray, SFO, là người đại diện khu vực quận Cam, và anh Bùi Quang Thạch; SFO, là Trưởng Phục Vụ huynh đệ đoàn bảo trợ sẽ đến thăm viếng hội đồng phục vụ từ 9:00am-12:00pm tại nhà chị Quyên ở số 3085 Taylor Way, Costa Mesa, CA 92626.
- Huynh đệ đoàn Agnes sẽ có chị Monica Trần Lệ Quyên và chị Maria trần Thị Ngát sẽ đi học khóa Trợ Úy và Huấn Luyện, xin chúc mừng.
Huynh
đệ đoàn Clara, Santa Ana
- Ngày 11 tháng 8 là lễ kính Thánh Nữ Clara, BBT xin chúc mừng quí anh chị trong huynh đệ đoàn Clara; Nguyện xin Thánh Nữ cầu bầu cho hết thảy các anh chị em Phan Sinh Tại Thế nói chung và chó quí anh chị trong huynh đệ đoàn Clara nói riêng… ước được như vậy.
- Ngày Chúa Nhật 6/9/09, huynh đệ đoàn sẽ có cuộc bầu cử Hội Đồng Phục Vụ cho nhiệm kỳ mới. Xin quí anh chị được anh chị em tín nhiệm đề cử hãy can đảm và quảng đại đáp trả lời mời gọi để dấn thân phục vụ Chúa qua anh em của mình. Xin cùng cầu nguyện cho cuộc bầu cử luôn thuận theo ý Chúa. Được biết, trong ngày bầu cử này có chị Sylvia (Phục Vụ Miền), anh Rock và Armendo (Trợ Úy Miền) đến chủ sự và chứng nhận cuộc bầu cử. Ngoài ra, nhóm Tân Lập Agnes sẽ về tham dự bầu cử với huynh đệ đoàn bảo trợ.
Chủ Đề Của Tháng 09-2009
Chủ đề tháng tới xin, quí anh chị viết về: "Đức Trong Sạch Khiết Tịnh" (Đ.12 Luật DPSTT). Nếu có thể, xin vui lòng gởi bài trước ngày 20 mỗi tháng. Vì những mục định kỳ không thể cắt xén, và số trang bị giới hạn, do đó mục Những Bài Đọc Thêm xin quí anh chị vui lòng thu ngắn bài viết cho tiện việc in ấn. Hơn nữa, những bài viết đã gởi và đăng nơi những Bản Tin hay Báo Chí khác, xin đừng gởi cho psttvnusa.net vì đây là sự tế nhị. Nhất là khi phải sửa đổi đôi chút vì lý do kỹ thuật hay ý tưởng cho phù hợp với Bản Tin của psttvnusa.net. Kính mong quí vị thông cảm.
Trở về mục lục >>
|