Mọi thư từ liên lạc, xin gửi về PSTTVNUSA@YAHOO.COM. Copyright © 2002 WWW.PSTTVNUSA.NET. All rights reserved.
 

NỘI DUNG HÀNG THÁNG (08-2008)

NHỮNG QUÀ TẶNG CỦA THIÊN CHÚA

 
Trong Số Này:
TÂM SỰ HẰNG THÁNG
 

Quà Tặng Của Thiên Chúa

HỌC HỎI LỜI CHÚA
 

Đức Giêsu Chữa Bệnh Và Nuôi Dân Chúng

LINH ĐẠO PHAN SINH
  Linh Đạo Phan Sinh
GIÁO LƯ TÓM LƯỢC
 

Bài 56: Giá Trị Giáo Dục Của Lề Luật
Bài 57: Một Cuộc Hành Trình Lâu Dài

LỜI KINH MỖI THÁNG
  Cảm Tạ Cha!
HÔN NHÂN GIA Đ̀NH
 

Giáo Huấn Số 11: Vai Trò Của Nhà Trường
Giáo Huấn Số 12: Nhà Trường Với Gia
Đình

NHỮNG BÀI ĐỌC THÊM
   
CẦU NGUYỆN CHO NHAU
   
THÔNG BÁO TIN TỨC
   

 
 

Quà Tặng Của Thiên Chúa

Thưa quí anh chị, Thật là choáng ngợp khi nói về những món quà mà Thiên Chúa tặng ban cho nhân loại, sự choáng ngợp càng gia tăng đến mức không thể nói nên lời khi chiêm ngưỡng, suy ngẫm những quà tặng ấy quyện lẫn trong tâm tình cảm tạ tri ân Thiên Chúa Từ Nhân…

Trước khi tạo dựng vũ trụ thì Thiên Chúa đã yêu thương con người; và khi vạn vật hiện hữu thì loài người là tạo vật duy nhất được Thiên Chúa hết mực tôn trọng và yêu thương, Ngài đã hình thành và ban cho mỗi người hơi thở của Ngài để làm nên sự sống, rồi ban cho chúng ta một mái ấm, một quê hương, cho chúng ta vào đời giữa cộng đoàn nhân loại, đặt con người làm chủ vạn vật, và tặng ban cả vũ trụ cho con người làm gia nghiệp…

Về mặt tinh thần, Thiên Chúa ban tặng cho mỗi người một linh hồn giống hình ảnh của Ngài, cho chúng ta đặc quyền “làm con Thiên Chúa", được thừa hưởng gia nghiệp của Ngài. Tuy đang sống nơi trần gian, nhưng chúng ta lại là những công chúa, những hoàng tử của Thiên Quốc, và dẫu đang sống nơi cõi tạm này, chúng ta đã có phần gia tài của Ngài tặng ban và sắm sẵn ở Cõi Đời Đời.

Dù chỉ là tạo vật tầm thường, chúng ta vẫn được Ngài ấp ủ quan phòng cách trìu mến trong mọi hoàn cảnh, mọi môi trường sống như: Trong vũ trụ, ngày lên, đêm xuống, nắng đến, mưa đi, đông qua, xuân về, ngày này tiếp nối ngày kia, cây xanh, hoa đẹp, trái ngon, chim trời, cá nước, sông biển, núi non…

Về con người, cùng với nhịp thời gian, Ngài cho từng người lớn khôn, cho từng trái tim nở hoa yêu thương, biết tơ vương để tìm đến nhau, trao cho nhau những chân tình thương mến nồng nàn, thẳm sâu chan chứa… Ngài tặng anh người con gái dịu dàng, duyên dáng, đoan trang. Ngài tặng em người con trai tài đức, khôn ngoan, can đảm để cùng nhau xây mái ấm gia đình. Ngài tặng những ai sống đời hôn nhân những đứa con ngoan hiền, thảo kính, Ngài tặng cho anh trí dũng, sức khoẻ, để xây dựng quê hương trần gian bằng một tâm hồn rộng mở. Ngài tặng cho em một trái tim biết cười, tặng chị một tấm lòng biết chia sẻ, để cùng chung lưng, góp tay đắp xây tình người.

Và món quà cao trọng, tuyệt hảo, quý giá đến vô giá mà Ngài tặng ban cho con người đó chính là Người Con Một dấu ái của Ngài; Để ai tin và đón nhận Người Con, thì khi bước qua cõi đời tạm này sẽ đạt được sống muôn đời nơi Vương Quốc Vĩnh Cữu của Ngài.

Chúng ta phải xác tín và khẳng định rằng: Thân phận của chúng ta là do Thiên Chúa tặng ban; Chúng ta sống là nhờ vào lòng nhân hậu của Ngài: Từng hơi thở, từng sợi tóc trên đầu rụng xuống cũng không ngoài Thiên Ý. Con người hiện diện trên cõi đời này, làm được mọi điều, nâng cao đời sống nhân loại mọi mặt như ngày hôm nay là nhờ vào những tặng phẩm của Thiên Chúa.

Thưa quí anh chị, mỗi ngày, xin hãy dành ra ít phút để kính nhớ tình yêu Thiên Chúa, để nhìn lại thân phận hèn mọn của mình, để ngẫm suy đời mình bằng cái nhìn đức tin sao cho thấy được mỗi giây phút trôi qua trong cuộc đời là mỗi giây phút đón nhận quà tặng của Chúa.

Xin hãy nhớ chúng ta là anh em cùng một Cha, cùng một gia đình nhân loại, cùng một giáo hội yêu thương, cùng chung hưởng gia nghiệp của Chúa, là những người vừa ‘biết nhận’ thì cũng ‘biết cho’; nhận như thế nào thì cho như thế ấy!

Tóm lại, khi nói đến quà tặng mà Thiên Chúa đã tặng ban cho nhân loại thì không một ai có thể tính toán cho hết những hồng ân ấy, không có ai có thể ngẫm suy cho cùng tận tình thương của Ngài; cũng không có ngôn từ hay bút mực nào có thể diễn đạt cho cặn kẽ, tận tường, và dù đôi mắt tâm linh của chúng ta có mở thật to thì đến trọn đời sự hiểu biết, cảm nhận, cảm nghiệm những quà tặng của Thiên Chúa cũng chỉ là giọt sương giữa đại dương.

Lạy Chúa, mọi sự tốt lành trên đời này đều là tặng phẩm của Chúa ân ban, xin Chúa dạy con biết trân trọng, giữ gìn và sử dụng theo thánh ý Ngài. Amen.

 BBT

Trở về mục lục >>

 

Đức Giêsu Chữa Bệnh Và Nuôi Dân Chúng

(Mátthêu 14,13-21 – CN XVIII TN - A)

14:13Nghe tin ấy, Đức Giê-su lánh khỏi nơi đó, đi thuyền đến một nơi hoang vắng riêng biệt. Nghe biết vậy, đám đông từ các thành đi bộ mà theo Người. 14:14Ra khỏi thuyền, Đức Giê-su trông thấy một đoàn người đông đảo thì chạnh lòng thương, và chữa lành các bệnh nhân của họ. 14:15chiều đến, các môn đệ lại gần thưa với Người: "Nơi đây hoang vắng, và đã muộn rồi, vậy xin Thầy giải tán đám đông, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn". 14:16Đức Giê-su bảo: "Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy cho họ ăn". 14:17Các ông đáp: "Ở đây, chúng con chỉ có vỏn vẹn năm cái bánh và hai con cá!" 14:18Người bảo: "Đem lại đây cho Thầy!" 14:19Rồi sau đó, Người truyền cho đám đông ngả mình trên cỏ. Người cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra, trao cho môn đệ. Và môn đệ trao cho dân chúng. 14:20Ai nấy đều ăn và được no nê. Những mẩu bánh còn thừa, người ta thu lại được mười hai giỏ đầy. 14:21Số người ăn có tới năm ngàn đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con.

1.- Ngữ cảnh

Chúng ta nên đặt đoạn văn này vào trong ngữ cảnh của nó là toàn khối từ cuối chương 13 đến chương 17. Đọc khối này, chúng ta nhận ra những ý tưởng quan trọng:

1) Chương 13 cho hiểu rằng Nước Trời đang tăng trưởng và bất cứ người nào hiểu rằng mình được kêu gọi đi vào đấy thì phải lựa chọn dứt khoát. Kể từ nay, chúng ta thấy cộng đoàn của Đức Giêsu xuất hiện rõ nét dần, được củng cố dần, mở ra dần với đức tin (x. 14,33; 16,16), đào sâu dần mầu nhiệm Đức Giêsu, chính nơi cộng đoàn này mà người ta nhận ra Nước Thiên Chúa đang hiện diện và ngày càng rõ nét. Chúng ta có thể đặt tên cho toàn khối ch. 13-17 này: "Tiến tới việc loan báo Giáo Hội" hoặc "Giáo Hội, hoa quả đầu mùa của Nước Trời" hoặc "Hành trình đức tin trong Giáo hội”, bởi vì qua các chương này, Mt đề cập đến việc đào tạo tiệm tiến cộng đoàn Giáo Hội.

2) Khối này mở ra với việc dân Nadarét từ khước Đức Giêsu (13,53-58) và kết thúc với câu chuyện cho thấy Phêrô được Đức Giêsu cho gắn bó với Người (17,24-27). Xuất hiện gương mặt đe dọa của vua Hêrôđê, người đã giết Gioan Tẩy Giả (14,13). Nhóm Pharisêu ngày càng tỏ rõ thái độ hiềm thù đối với Đức Giêsu (15,1tt.12; 16,1.4). Những thái độ đe dọa thù nghịch khiến Đức Giêsu lo sợ, Người rút lui về những nơi an toàn hơn hoặc tách biệt hơn (14,13; 15,21).

3) Toàn khối này được xây dựng quanh hai điểm: đức tin và hiểu biết:

- Tác giả nói đến những người kém tin trong câu truyện Phêrô đi trên mặt nước (14,31) và câu truyện các môn đệ bàn tán về việc quên bánh (16,8). Trong câu truyện Đức Giêsu chữa đứa trẻ bị kinh phong, có một lời than: “Ôi thế hệ cứng lòng không chịu tin…" (17,17). Mt là tác giả duy nhất xác định rằng các môn đệ không chữa lành được em bé vì họ kém tin. Người cũng là người duy nhất ghi nhận đức tin mạnh của bà Canaan (15,28).

- Ngài đã sử dụng động từ hiểu 9 lần trong các chương này. Ở 15,10, các đám đông được mời gọi nghe và hiểu. Ở 15,16, các môn đệ bị gọi là ngu tối (không hiểu). Và cũng chỉ một mình Mt đã ghi nhận rằng các môn đệ khi ấy mới hiểu ra (16,12; 17,13) những gì cho tới nay họ vẫn không hiểu.

Các ghi nhận này cho thấy, dọc theo các chương này, tác giả Mt đặc biệt quan tâm đến đức tin, nhất là đức tin của các môn đệ, nhìn như một hành trình và như một nỗ lực đào sâu và củng cố đức tin.

2.- Bố cục

Bản văn này có thể chia làm ba phần:

1) Đức Giêsu chữa bệnh cho đám đông (14,13-14):

a) Hoàn cảnh (c. 13),

b) Đức Giêsu chữa bệnh (c. 14);

2) Đức Giêsu nuôi đám đông (14,15-21):

a) Hoàn cảnh (cc. 15-18),

b) Đức Giêsu nuôi đám đông nhờ trung gian các môn đệ (c. 19-20a);

3) Kết luận: ghi nhận về bánh hóa nhiều (cc. 20b-21).

3.- Vài điểm chú giải

- nơi hoang vắng (13): dịch sát là nơi "sa mạc". Phép lạ hóa bánh ra nhiều tại sa mạc này khiến chúng ta nhớ đến Môsê đã xin Chúa ban man-na cho đoàn dân trong thời gian họ tiến đi trong sa mạc để về Đất Hứa (x. Xh 16; Ds 11).

- chạnh lòng thương (14): dịch sát là "đau đớn quặn thắt trong ruột”. Nhiều lần Mt ghi nhận là Đức Giêsu "động lòng thương" (esplagchnisthê: 9,36; 15,52) và bày tỏ lòng thương bằng những hành vi cứu chữa.

- chiều đến (15): Ghi nhận là bài tường thuật Đức Giêsu lập bí tích Thánh Thể cũng bắt đầu với công thức chỉ thời gian này (26,20).

- ngả mình trên cỏ (19): Chi tiết này cho hiểu đây là thời gian trong mùa xuân, tức ám chỉ đến lễ Vượt qua. Anaklithênai , "ngả mình", là động từ gợi ư đến một bữa tiệc, bởi vì khi ăn, các thực khách Do-thái “ngả mình" trên những chiếc bàn thấp (đi-văng). Bài tường thuật bí tích Thánh Thể cũng dùng một động từ tương tự (“Chiều đến, Đức Giêsu vào bàn tiệc" = ngả mình [anekeito ] trên giường tiệc; Mt 26,20).

- cầm lấy… dâng lời chúc tụng… bẻ ra… trao cho (19): Đây là chuỗi động từ được dùng trong bài tường thuật về bí tích Thánh Thể (so sánh: Mt 14,19 // Mt 26,26: "cầm lấy": labôn/labôn; "bánh": artous/arton; "dâng lời chúc tụng": eulogêsen/kai eulogêsas ; "bẻ ra": klasas/eklasen; "trao cho các môn đệ”: edôken tois mathêtais/dous tois mathêtais). Việc bẻ bánh luôn luôn là một nghi thức được thực hiện trong bữa tiệc…

-trao cho môn đệ. Và môn đệ trao cho dân chúng (19): Các môn đệ là trung gian giữa Đức Giêsu và đám đông. Mt dùng một động từ duy nhất (didômi, "cho, trao cho") để nói về hành động của Đức Giêsu và của các môn đệ. Trong khi trong Mc (6,41) và Lc (9,16), các tông đồ “mang; phân phát” (Mc: paratithôsin; Lc: paratheinai ) bánh cho đám đông, trong Mt , các ông có nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu của dân chúng bằng cách tiếp nối công việc của chính Đức Giêsu.

- những mẩu bánh còn thừa (20): Trong các bữa tiệc Do-thái, có việc bẻ bánh trao cho nhau như một nghi thức. Những mẩu bánh thừa khiến nhớ lại "nghi lễ bẻ bánh", tức bí tích Thánh Thể, mà các tông đồ và môn đệ cử hành sau khi Đức Giêsu đã về trời (x. Cv 2,42; 20,7).

- năm ngàn đàn ông (21): Không chắc đây là con số chính xác (làm sao đếm xuể?). Có lẽ Mt muốn so sánh Đức Giêsu với ngôn sứ Êlisa và cho thấy Đức Giêsu vượt xa ngôn sứ này: Trong sách 2 Vua 4,42-44, Êlisa đã hóa hai mươi cái bánh lúa mạch ra nhiều để nuôi 100 người (từ 1 thành 5). Ở đây Đức Giêsu đã hóa năm cái bánh ra nhiều để nuôi 5000 người (từ 1 thành 1000), vậy Đức Giêsu cũng là một ngôn sứ có khả năng làm phép lạ, nhưng cao trọng hơn Êlisa nhiều.

4.- Ý nghĩa của bản văn

* Đức Giêsu chữa bệnh cho đám đông (13-14)

Hoàn cảnh lúc đó là Đức Giêsu muốn lánh đi về một nơi hoang vắng riêng biệt, tuy nhiên, đám đông dân chúng biết tin liền đi theo Người. Đây không phải là lần đầu tiên Mt cho thấy Đức Giêsu có đám đông đi theo (x. 8,1; 12,15), vẫn chính là Người hướng dẫn cộng đồng những kẻ lưu đày về quê hương. Lần này, đám đông thậm chí còn đi trước Người, đưa theo những người bệnh, và hẳn là cả các niềm hy vọng của họ (c. 14). Đức Giêsu không bực bội nóng giận vì dân chúng làm mất sự yên tĩnh, cũng không tỏ ra lãnh đạm với đoàn dân; Người thương cảm họ sâu xa (esplagchnisthê), hẳn cũng vì một lý do như ở 9,36 (x. thêm 15,52): "vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt”.Thế là Người lại hòa mình vào giữa đám đông để chữa bệnh cho họ. Hành vi đầu tiên Người làm lúc này là chữa bệnh: các sự dữ không chỉ được khoan nhượng, mà còn bị loại trừ.

* Đức Giêsu nuôi đám đông (15-21)

Khi chiều đến, các môn đệ là những người thực tế, đánh giá tình hình khách quan, đã đến đề nghị Đức Giêsu giải tán đám đông để họ có thể tùy nghi vào các làng mạc mà mua lương thực. Chẳng những không đồng ý, Đức Giêsu còn yêu cầu các ông cho đám đông ăn. Đây là một yêu cầu rất thiếu thực tế, mà chính Đức Giêsu biết. Người chỉ muốn các môn đệ cộng tác với Người để làm công việc cung cấp lương thực cho dân chúng. Và kết quả đã chứng tỏ: các ông chỉ có việc trao cho Người chút lương thực ít ỏi của mình, rồi làm theo sự hướng dẫn của Người. Bài này được tác giả viết với những công thức của bài tường thuật về bí tích Thánh Thể nhằm giới thiệu trước bí tích Thánh Thể.

Biến cố này là một hình ảnh về Giáo Hội, nên cũng cần được giải thích theo hướng đó. Đức Giêsu ở tại trung tâm, Người là nguồn mạch ban phát mọi ân huệ, Người ban lời và bánh. Rồi đến nhóm nhỏ các môn đệ bao quanh Người. Họ ở sát bên Người, họ chuyển thông các ân huệ của Người, họ như là cánh tay Người nối dài ra. Đám đông được Đức Giêsu quy tụ lại thì ngồi xung quanh các ngài: họ vui sướng được ở với Người. Đức Giêsu ngước mắt lên trời khi đọc lời chúc tụng. Người làm những việc "Chúa Cha giao cho Người hoàn thành" (x. Ga 5,36). Người không còn chỉ là vị trung gian như Môsê, hay chỉ là một ngôn sứ nhỏ như Êlisa ngày xưa. Nay Người chính là Đấng ban sự sống, bởi vì Người là nguồn sự sống. Tương quan giữa hai mươi cái bánh của Êlisa với một trăm người được ăn no (1 thành 5) và năm chiếc bánh của Đức Giêsu với năm ngàn người được no nê (1 thành 1000) nêu bật sự trổi vượt của phép lạ thứ hai. Đức Giêsu là một ngôn sứ và một Đấng làm phép lạ, nhưng cao cả hơn Êlisa nhiều.

* Kết luận: ghi nhận về bánh hóa nhiều (20b-21)

Bản văn hẳn cũng song song với truyện phép lạ man-na, cũng xảy ra trong hoang địa trước đám đông dân chúng (x. Xh 16; Ds 11). Bánh và cá hôm nay thay thế cho man-na và chim cút ngày xưa. Với những dấu lạ này, Đức Giêsu xuất hiện như nhà giải phóng của thời cuối cùng. Nhờ năm chiếc bánh, tượng trưng năm quyển sách của Torah mới (Ortensio da Spinetoli), Đức Giêsu nuôi đoàn dân Thiên Chúa đang tiến về đất hứa. Những chi tiết này đặt sánh đôi Đức Kitô với Môsê, Họi Thánh với cộng đoàn Xuất Hành. Hôm nay, nhà giải phóng đích thực, vị mục tử, nhà lãnh đạo dân Thiên Chúa, dẫn dắt một đoàn dân bị bỏ rơi và đang tiến đi trong sa mạc trần gian này, là một mình Đức Giêsu.

Trong nền văn chương kinh sư, bữa tiệc là biểu tượng của cộng đoàn cánh chung (hiệp thông đời sống: St 31,54; Xh 18,12; 1 Sm 9,12; Am 2,8; Hs 8,13; và niềm hạnh phúc thời thiên sai: Is 48,21; 49,9-10; 55,1; 65,13; Dc 5,1; Is 25,6; Tv 23,1-5). Việc Đức Giêsu quy tụ các môn đệ và dân chúng ở bờ hồ như thế trở thành nghi thức khai mạc thời đại mới. Sa mạc, nơi đầy những thử thách và gai góc, đã trở thành một khu vườn.

+ Kết luận

Biến cố được kể trong bản văn này là một hình ảnh về Hội Thánh. Đức Giêsu ở ngay trung tâm, Người là nguồn mạch từ đó phát xuất mọi ân huệ, Người ban Lời và bánh. Kế đó là nhóm nhỏ các môn đệ. Các ông ở ngay bên Đức Giêsu, các ông chuyển giao các ân huệ Người ban, các ông là như cánh tay nối dài của Người. Dân chúng được quy tụ lại thì ngồi chung quanh Người; họ sung sướng được ở với Người. Đức Giêsu ngước mắt lên trời mà đọc lời chúc tụng. Người hướng về Thiên Chúa là Cha của Người, là Đấng mà Người luôn tìm biết ý muốn để chu toàn (x. Mt 11,25-27). Bây giờ Đức Giêsu không chỉ còn là một trung gian như Môsê xưa kia nữa; Người chính là Đấng ban sự sống, bởi vì Người là nguồn mạch từ đó phát xuất ra sự sống.

5.- Gợi ý suy niệm

1. Các môn đệ cần quan tâm học hỏi cách xử sự của Đức Giêsu: cứu chữa. Nhưng họ chỉ có thể học được bài học này, nếu họ có trái tim của Đức Giêsu: thương cảm sâu sắc trước tình cảnh của người anh em chị em, tức là biết quan tâm đến hoàn cảnh sống của anh chị em mình, với trá tim đầy tình yêu thương.

2. Không được quá đề cao cơm bánh vật chất (x. Mt 6,25-26), nhưng cũng không được quên cơm bánh vât chất (6,11). Phải nghĩ đến việc nuôi bản thân (6,11), nhưng cũng phải quan tâm đến việc nuôi sống người khác. Người Kitô hữu không được ăn uống một mình, vì luôn ở giữa một đoàn anh chị em đang chờ đợi thức ăn họ thiếu. Họ phải đi ra khỏi tình trạng cô lập mà sống trong cộng đoàn và trong sự hiệp thông với mọi người. Bài học hôm nay cho hiểu rằng họ chỉ việc dâng cho Đức Giêsu chút tài nguyên ít ỏi của mình, rồi làm theo sự hướng dẫn của Người.

3. Trong khi trong bản văn Ga 6, các tông đồ không có sáng kiến nào, trong các TMNL, chính các ông lưu ý Đức Giêsu, trao đổi về cách cung cấp các nhu yếu phẩm cho đám đông, cuối cùng nhận được nhiệm vụ phân phát bánh và thu gom các mảnh vụn còn dư. Các môn đệ nhận lệnh đưa bánh và cá, chuẩn bị và phục vụ bữa ăn. Công việc của các ông nối dài công việc của Đức Giêsu. Hôm nay, các mục tử cũng không thể bỏ mặc đoàn chiên thiếu lương thực thiêng liêng và nhất là lương thực Thánh Thể.

4. Mỗi khi tham dự thánh lễ, các tín hữu sống một biến cố mang tính Giáo Hội: họ vây quanh Đức Giêsu, họ chia sẻ chính Mình Máu Người. Sau đó, họ được mời gọi ra đi (Ite, missa est: “Lễ đã xong, anh chị em hãy ra đi (loan báo Tin Mừng)”) để, cũng như Đức Giêsu, họ trở thành "tấm bánh" nuôi dưỡng nhân loại và kiến tạo một thế giới mới.

 Lm. F.X. Vũ Phan Long, ofm

 

Trở về mục lục >>

 

Linh Đạo Phan Sinh

Tài Liệu Tham Khảo Dành Cho Người Có Trách Vụ

Điều 31.4: Nói về tinh thần, Tại điều này có một điểm nổi bật: "Bằng chứng tá đời sống, họ tìm cách gieo vào Huynh đệ đoàn tinh thần và sức sống…" Khi nghe hai chữ tinh thần, chúng ta thường nghĩ ngay đến một người “có tinh thần”, hăng hái, nhiệt tâm, chịu hy sinh, chịu khó làm… điều đó cũng không lạ, nhưng hiểu nôm na chữ Tinh thần đây là tinh thần Phan Sinh, với tất cả phong cách thực hành linh đạo theo kiểu Cha Thánh, dưới sự hướng dẫn của Luật Dòng. Vậy thì ta cố gắng "nhốt" hai chữ tinh thần vào mấy từ ngữ nghe ra là đơn giản, mộc mạc, nhưng chứa đựng ư nghĩa rất sâu xa: sống Phúc Âm, hoán cải, giản đơn khiêm hạ, nghèo khó, vui tươi.

Còn về sức sống thì chúng ta có nhiều điều có thể bàn luận:

- Sức sống của huynh đệ đoàn được chứng minh bằng cách thức thực hành linh đạo, tăng trưởng về cả 3 chiều kích (Nhân Bản, Kitô Hữu và Phan Sinh). Thực thi lời khấn một cách nghiêm túc. Luôn là chứng nhân Phúc Âm và nhân chứng Phan Sinh, yêu thương, tha thứ.

- Sức sống của Huynh đệ đoàn còn ở chỗ làm việc tông đồ bác ái từ thiện: Những huynh đệ đoàn có sức sống thường xuyên thực hiện những cuộc thăm viếng, uỷ lạo, giúp đỡ người nghèo khó neo đơn…

- Sức sống huynh đệ đoàn được ghi nhận ở chỗ tham dự và tham gia các buổi học tập, giao lưu, hành hương… để từ đó học hỏi được nhiều điều, tận dụng điều kiện đào tạo và sử dụng người tài, người giỏi, người nhiệt tình.

- Sức sống của huynh đệ đoàn còn được chứng minh ở chỗ tăng trưởng thành viên. Đã có ít nhiều huynh đệ đoàn chịu thua, không thể mời gọi thêm người vào tìm hiểu, Mỗi lần có người đi xa, hay qua đời, là một lần bớt thành viên. Mỗi lần cần bàu bán, thì cứ đi đi lại lại chừng ấy người, thậm chí không có thể bàu cử được, vì thiếu nhân sự.

- Sức sống huynh đệ đoàn cũng được tỏ lộ trong cách lập các phương án khả thi liên quan đến sinh hoạt, giao lưu, học hỏi. Một Hội Đồng muốn làm cho huynh đệ đoàn mình có sức sống, thì cần có những sáng kiến "đề xuất những phương thế thích hợp để phát triển Huynh đệ đoàn…" (trích HC 31.4)

- Nhưng trước hết và trên hết, phải nghĩ đến những người đã rời Dòng không vì một lý do nào thuyết phục; việc này phản ngược "sức sống" của Huynh đệ đoàn.

Kết Luận: Trách nhiệm của người Phục vụ rất nặng nề, lại càng nặng nề hơn đối với những người nhận phục vụ cách bất đắc dĩ, nhưng đối với những người thành tâm thiện chí thực hiện linh đạo, sẵn sàng phục vụ anh em, thì trách nhiệm ấy, cũng không đến nỗi nặng nhọc lắm. Điều cần yếu là lạc quan, chịu khó học hỏi, và sẵn sàng đón nhận ơn Chúa đến từ mọi phía –Thần Khí, cá nhân con người, tập thể anh em. Hiến Chương khuyên: Bằng chứng tá đời sống, họ tìm cách gieo vào huynh đệ đoàn tinh thần và sức sống…" chúng tôi muốn nhấn mạnh bằng chứng tá đời sống, tức là họ hãy sống cho đúng tinh thần linh đạo, rồi từ đó, truyền sức nóng ấy cho Huynh đệ đoàn. Có thế, nhiệm vụ của người phục vụ mới dễ hoàn thành. Xin mượn câu cuối của HC 31.4 để kết thúc bài này: Các người hữu trách "phải lo sao cho các quyết định được thực hiện và tạo điều kiện thuận lợi cho các anh chị em cộng tác với nhau”.

Bài tới, chúng ta sẽ bàn về đồng trách nhiệm. (còn tiếp)

 Phêrô Nguyễn Đức Tiến; sfo

 

Trở về mục lục >>
 

Bài 56: Giá Trị Giáo Dục Của Lề Luật

Thập giới là phần đầu và là nền tảng của Lề-luật. Sau mười giới răn, Lề-luật được được tiếp tục trình bày qua các điều khoản liên hệ đến phượng tự, các bổn phận của con người trong đời sống chính trị và xã hội (Xh 20,22-23,33). Chúng làm thành "Sách Luật Giao-ước" (Xh 24,7).

Lề-luật và Giao-ước là hai yếu tố liên kết chặt chẽ với nhau. Lề-luật phải được hiểu và giải thích trong khung cảnh và dưới ánh sáng của Giao-ước. Lề-luật là đối tượng tuân phục của Dân, biểu lộ sự dấn thân của Dân đi vào Giao-ước tình yêu của Thiên Chúa.Tuy nhiên chúng ta đừng quên rằng trước khi trở thành giới răn, Lề-luật là ân sủng. Trước khi ban các giới răn, Thiên Chúa đã giải phóng Dân It-ra-en khỏi ách nô lệ của Ai-cập, và Người muốn Dân tiếp tục là những con người tự do, những con người tạo nên "một vương quốc tư tế, một dân tộc được thánh hiến” (Xh 19,6). Khi truyền lệnh, khi ban lề-luật, thì đồng thời Thiên Chúa cũng ban ơn để con người thực hành. Một khi Lề-luật bị tách ra khỏi tình yêu và ân sủng của Thiên Chúa, thì nó trở thành hoặc là một gánh nặng gồm những yêu sách phi lý, hoặc là một con đường đạo đức dẫn tới kiêu căng.

Tông đồ Phao-lô, người đã tuân giữ Lề-luật một cách cuồng nhiệt, cuối cùng đã khám phá ra giá trị giáo dục của Lề-luật dưới ánh sáng Chúa Kitô. Người nói "Lề-luật đã trở thành người quản giáo dẫn chúng ta tới Đức Ki-tô, để chúng ta trở nên công chính nhờ đức tin” (Gl 3,24 ; thêm : Rm 10,6). Như vậy Lề-luật không phải là mục đích. Lề-luật được ban xuống như một phương thế giáo dục con người, giúp con người ư thức thân phận yếu hèn và tội lỗi của mình để rồi đặt tất cả niềm tin vào quyền năng và tình thương của Thiên Chúa, Đấng ban ơn cứu độ một cách nhưng không.

Bài 57: Một Cuộc Hành Trình Lâu Dài

Trong phần cuối sách Dân số (ch. 33) tác giả thánh tóm tắt các giai đoạn trong cuọc hành trình 40 năm của dân It-ra-en xuyên qua sa mạc, từ Ai-cập cho tới bờ sông Gio-đan. Có tất cả 40 trạm dừng chân: 11 từ Ram-xết (Ai-cập) tới núi Xi-nai, 21 từ Xi-nai tới Ca-đê và 8 từ Ca-đê tới thảo nguyên Mo-áp. Cuộc hành trình qua sa mạc kết thúc tại Mô-áp, gần sông Gio-đan, đối diện với Giê-ri-khô (Ds 33,48).

Người ta có thể nêu lên ba địa điểm quan trọng nhất: Xi-nai, Ca-đê và thảo nguyên Mo-áp. Núi Xi-nai là nơi Thiên Chúa ban Lề-luật và thiết lập Giao-ước. Ca-đê là nơi ông Mô-sê đã cho người đi do thám đất hứa và cũng là nơi Cô-rắc và 250 người phản loạn chống lại ông Mô-sê và ông Aharon. Còn thảo nguyên Mô-áp là nơi dân It-ra-en chuẩn bị vào đất hứa.

Khi vừa ra khỏi Ai-cập, ngay cả trước khi vượt qua Biển Sậy, con cái It-ra-en đã được Thiên Chúa dẫn đường, ban ngày nhờ một cột mây, ban đêm cột mây trở thành cột lửa (Xh 13,21-22). Mây và lửa là những dấu chỉ về sự hiện diện của Gia-vê. Con cái It-ra-en lên đường hay dừng chân tuỳ theo đám mây bay lên hay dừng lại.

Qua đám mây Thiên Chúa biểu thị một sự hiện diện vừa cao cả vừa gần gũi. Có thể nói đám mây vừa mặc khải vừa che dấu (Xh 19,9.16; 24,15) vị Thiên Chúa đang đồng hành cùng với dân It-ra-en.

Bốn mươi năm trong sa mạc là thời gian mà Thiên Chúa đặc biệt mời gọi dân It-ra-en tin tưởng vào quyền năng và tình thương của Người. Nhưng It-ra-en luôn luôn tỏ ra là một dân tộc phản loạn. Công việc giáo dục của Thiên Chúa đòi hỏi nhiều thời gian và kiên nhẫn. (còn tiếp)

 Lm. Norbert Nguyễn Văn Khanh, ofm


Trở về mục lục >>

 

Cảm Tạ Cha!

Lạy Cha là Thiên Chúa rất nhân hậu của chúng con, Ngài yêu thương chúng con từ thuở đời, ngay khi chúng con chưa hiện hữu trên cõi đời này, Ngài dọn sẵn những con đường với những hồng ân cho chúng con bước lên, Ngài che rợp bóng mát cuộc đời của chúng con bằng tình yêu thương vô tận, Ngài đưa chúng con vào đời để tận hưởng muôn vàn ơn lành của Ngài thương ban... để mỗi ngày trôi qua trong cuộc đời đều là hồng ân của Cha tuôn đổ trên chúng con, Cha ấp ủ, giữ gìn, nâng niu từng bước con đi, Cha muốn chúng con tận hưởng hết mọi quà tặng Cha ban bằng cách sử dụng những quà tặng ấy vào việc hữu ích cho mọi người, và cũng là cách làm cho danh Cha cả sáng.

Lạy Cha, chúng con chỉ là những tạo vật dại khờ, yếu đuối, bất toàn…, khẩn xin Cha ban Thánh Thần của Ngài cho chúng con để Ngài luôn đồng hành, nhắc nhở, dạy dỗ chúng con, để mọi ngày, mọi nơi, mọi lúc, chúng con luôn biết dâng lời cảm tạ tình Cha bằng lời nói, việc làm; nhất là biết sử dụng cách xứng đáng những tặng phẩm mà Cha đã ân ban. Amen.

 Maria

Trở về mục lục >>
 

 

Giáo Huấn Số 11: Vai Trò Của Nhà Trường

Trong việc giáo dục giới trẻ, nhà trường là người trợ lực quan trọng nhất của gia đình.

Nói về vai trò của nhà trường, Thánh Công Đồng Vaticanô II đã dạy: "Trong tất cả các phương tiện giáo dục, nhà trường giữ một vai trò đặc biệt, vì nhà trường: luôn luôn lo lắng trau dồi các khả năng tinh thần, dẫn vào gia sản văn hoá mà các thế hệ trước đã thu lượm được, phát huy nhận thức về các giá trị, chuẩn bị đời sống, nghề nghiệp và khuyến khích niềm thông cảm... và tình thân hữu giữa các học sinh khác biệt về tâm tính và giai cấp". (GD,5).

Qua lời giáo huấn trên, chúng ta thấy vai trò của học đường thật là phong phú:

1. Trước hết, nhà trường là nơi trau dồi các khả năng tinh thần: Tiên học lễ, hậu học văn. Nơi trường học, đứa trẻ được giúp đỡ tiếp thu những thói quen và những đức tính tốt. Tình yêu như óc sáng tạo, sự siêng năng, tinh thần kỷ luật, đoàn kết, tình yêu, đức công bằng.

2. Nhà trường là nơi cung cấp và phát huy văn hoá mà các thế hệ trước đã thu lượm được. Nhờ nhà trường, đứa bé biết đọc, biết viết, biết tính và biết nhiều môn học khác cần cho sự phát triển bản thân và xã hội.

3. Nhà trường cũng giúp đứa trẻ nhận thức những giá trị vật chất và tinh thần; giúp chúng trọng nhân nghĩa, trọng bổn phận, trọng những của cải vật chất và thiêng liêng, nhất là biết tự trọng và tôn trọng tha nhân. Nhà trường cũng là nơi đào tạo những người lao động có kỷ luật, kỹ thuật, có năng suất cao, có óc khoa học và tổ chức.

4. Sau cùng, nhà trường là nơi gặp gỡ giữa người với người, là nơi phát huy tình hữu nghị, sự đoàn kết nhất trí, tinh thần hợp tác...

Kết luận: Anh chị em hãy làm hết sức mình để con cái được đi học. Đừng để chúng lang thang nơi đầu đường xó chợ, bạn bè với những đứa trẻ xấu, cờ bạc, ăn nói thô lỗ, phá phách xóm làng... Hãy cộng tác với nhà trường, theo dõi việc học vấn, nâng đỡ các thầy cô và tác động để nhà cầm quyền biết quan tâm đến các cơ sở và ngân sách giáo dục.

Giáo Huấn Số 12: Nhà Trường Với Gia Đình

Là người trợ lực tốt nhất của gia đình, nhà trường phải đồng hành với gia đình, nghĩa là hợp tác với nhau và bổ túc cho nhau vì lợi ích lâu dài của giới trẻ.

Sắc lệnh về giáo dục của Công Đồng Vaticanô II có nhắc đến bổn phận của giới phụ huynh đối với học đường, họ nên đóng góp vào việc thiết lập, tổ chức và bảo vệ nhà trường, đồng thời quan tâm theo dõi việc giáo dục giới con em họ, nhất là về phương diện luân lý và đạo đức.

Ngoài ra, vì là người Kitô hữu, các bậc cha mẹ còn phải lo bổ túc việc giáo dục con cái về phương diện tôn giáo nữa. Thánh Công Đồng đã ân cần nhắc nhở nhiệm vụ này như sau: "Còn vợ chồng đã lãnh nhận phẩm giá và chức vụ làm cha mẹ, sẽ chăm lo chu toàn bổn phận giáo dục, nhất là về phương diện tôn giáo, vì bổn phận này liên hệ đến họ trước hết. (MV 43).

Đức Gioan Phaolô II, trong Thông Điệp "Đấng Cứu Chuộc con người", cũng đã nói lên bổn phận người tín hữu tham gia việc huấn giáo trong Giáo Hội. Ngài kêu gọi các linh mục, tu sĩ và các tín hữu tích cực tham gia việc rao giảng Chúa Kitô. Ngài đặc biệt nhắc đến hình thức huấn giáo căn bản nhất mà Ngài gọi là "huấn giáo gia đình" tức là chính cha mẹ dạy đạo cho con cái mình.

Sau cùng, vì gia đình là trường học đầu tiên của con người, thì đáp lại nhà trường phải là gia đình thứ hai của đứa bé, nơi mà chúng nhận được tình yêu, tình huynh đệ và sự săn sóc trên các phương diện thể xác, trí tuệ và tâm hồn.

Kết luận: gia đình phải liên kết với học đường, và học đường phải đi đôi với gia đình, cộng tác và bổ sung cho nhau như giữa đôi vợ chồng, tuy là hai nhưng đã nên một thân một thịt (x Kn 2,24)

 

 ĐGM Nicolas Huỳnh Văn Nghi

 

Trở về mục lục >>

 

CHUYỆN THÁNH ANTÔN

Chuyện Thánh Antôn Pađua (tt)

CHƯƠNG II: VỀ ƠN PHẦN HỒN

Chương sau đây dành để kể lại một số ơn đã nhận được do Thánh Antôn chuyển cầu. Hoặc có ai hỏi người ta thường xin nơi Thánh Antôn những ơn nào? Thì xin thưa rằng: hết mọi ơn, chẳng kể lớn hay nhỏ, phần xác hay phần hồn. Nhưng trên thực tế, họ xin ơn phần xác nhiều hơn. Là vì đời sống con người luôn luôn gặp nhiều khó khăn thiếu thốn, cũng là vì tâm lý loài người ưa thích lợi lộc vật chất đời này hơn là phúc thiêng liêng đời sau.

Về phần hồn, người ta xin cho mình hoặc cho kẻ khác ơn xa lánh tội lỗi, ơn chừa cải nết xấu, tính hư như: cờ bạc, rươu chè, hút sách, rắc rối chồng vợ; ơn sốt sắng trong việc đạo, bền đỗ làm việc lành; ơn nhận biết và theo đuổi ơn thiên triệu làm tôi Chúa, sau là ơn chết lành.

- Một cô viết cho bà Louise coi bàn thờ thánh Antôn rằng: "Cha tôi khô đạo, cứng lòng, ai khuyên cũng chẳng động. Tôi liền kêu khấn Thánh Antôn, thì nay đã xưng tội và rước lễ ngày Đức Mẹ Vô Nhiễm rồi. Xin hết lòng tạ ơn ông Thánh Antôn.

- Một bà mẹ viết cho bà Louise rằng: "Tôi chỉ có một đứa con trai hư thân mất nết, chẳng đọc kinh xem lễ bao giờ. Nay nó đã xưng tội, rước lễ là nhờ công nghiệp của Thánh Antôn, mà tôi đã kêu van".

- Người đàn ông viết cho bà Louise rằng: "Tôi có một anh bạn chí thân bị bệnh rất nặng. Anh ta vốn khó khăn, bỏ bê việc đạo đã lâu. Nay thấy bệnh tật ngặt nghèo, khó lòng qua khỏi, chúng tôi khuyên anh hãy nên lo việc linh hồn mình. Nhưng anh bỏ ngoài tai. Thấy vậy, chúng tôi đọc kinh Thánh Antôn, thì anh ta động lòng, xin xưng tội, rước lễ và đã qua đời tốt lành".

- Một thư khác viết: "Mẹ tôi bệnh nặng, bất tỉnh đã hai ngày chẳng xưng tội được. Tôi đã kêu van Thánh Antôn, thì mẹ tôi đã tỉnh lại một hồi, cũng được chịu các phép đạo sốt sắng, rồi mới chết lành".

Ơn được gọi làm tôi Chúa là ơn rất trọng đại. Nhưng trên đường thực hiện ơn ấy cũng chẳng ít khó khăn. Thánh Antôn luôn ra tay giúp đỡ trong lãnh vực này.

- Thiếu nữ kia ước ao vào tu viện, nhưng vì nhà giàu có, lại là con một nên mẹ cha chẳng muốn, mặc dầu cô đã nài van tha thiết. Chẳng biết làm thế nào nữa, cô chạy đến kêu cầu thánh Antôn và khấn làm phúc cho kẻ nghèo.

Mới được mấy ngày thì cha mẹ đổi ư, chẳng những sẵn sàng đưa con vào dòng tu mà còn đến đền thánh tại Toulon để tạ ơn thánh nhân, cùng nộp một số tiền mà con mình đã khấn hứa.

- Một linh mục kia muốn vào một dòng nhặt nhiệm, song lại hay đau yếu bệnh tật, không còn trông giữ luật dòng được, nên Bề trên không nhận. Thầy chạy đến kêu cầu Thánh Antôn, hết tuần cửu nhật thì thấy mình khỏi bệnh và được nhận vào dòng. Trước khi nhận tu viện, linh mục ấy không quên đến tạ ơn Thánh Antôn tại nhà bà Louise.

CHƯƠNG III VỀ ƠN KHỎI BỆNH

Từ phần này trở đi, xin kể lại một số ơn phần xác mà Thánh Antôn đã cầu thay nguyện giúp cho người ta. Trong các ơn phần xác ấy, có lẽ ơn khỏi bệnh là nhiều hơn cả. Bệnh là tai họa chung cho cả loài người. Ai ai cũng đều mắc bệnh, chẳng ít thì nhiều, chẳng nặng thì nhẹ… Có người mang nhiều thứ bệnh cùng một lúc. Bệnh là cái khổ day dứt khó chịu, ai ai cũng cầu mong cho gặp thầy gặp thuốc, mau qua, chóng khỏi. Trong khi tìm thầy chạy thuốc, nhiều người lấy lòng tin mà cầu khấn Thánh Antôn chữa và đã được chữa khỏi các bệnh tật.

Sau đây là một ít điển tích:

- Một người viết cho bà Louise rằng: "Vợ tôi phải bệnh nặng, các y sĩ đều chê. May khi ấy, tôi xem truyện Thánh Antôn thấy Người hay cứu chữa bệnh nạn. Tôi liền kêu khấn Người và được Người ban ơn. Ban đầu vợ tôi thấy bớt, sau dần dần khỏi hẳn. Tôi hết lòng đội ơn thánh Antôn”.

- Bà Bề trên dòng nữ kia viết cho bà Louise như sau: "Tôi mắc bệnh đau mắt, đã dùng nhiều thuốc mà chẳng thấy đỡ, mỗi ngày mỗi nhoà thêm, đến nỗi tưởng mình sẽ mù. Khi ấy tôi kêu khấn Thánh Antôn, thì nay tôi đã khỏi".

- Một bức thư gửi về Đền Thánh Antôn tại Paris như sau: “Tôi phải chứng thổ huyết nặng lắm. Các thầy thuốc y sĩ đều chê. Tôi thấy chẳng còn trông cậy gì về phía loài người, thì tôi ngửa mặt lên trời kêu khấn thánh nhân. Lạ thay! Bệnh tôi nặng như thế, mà thánh nhân đã chữa tôi như không. Đã bốn năm tháng nay, tôi đã khỏi hẳn, chẳng ho hắng gì nữa. Xin hết lòng đội ơn Thánh Antôn”.

- Một tích khác: "Tôi mắc phải chứng nhức đầu đã ba, bốn năm. Một tuần lễ, tôi phải khổ một ngày một đêm, như búa bổ vào đầu. Tôi đã dùng đủ thứ thuốc mà chẳng hề bớt. Nhưng nghe kể về những phép lạ thánh Antôn đã làm, chữa bệnh tật người ta, tôi đem lòng trông cậy mà kêu van Người, Người cũng thương tôi nữa. Quả nhiên, tôi đã được nhận lời và từ nửa năm nay, tôi không thấy nhức đầu nữa”.

- Một tích nữa kể rằng: "Con tôi có chứng đau bụng. Mỗi tháng nó đau một hai lần, có khi đến ba lần. Mà mỗi lần đau khốn nạn như đứt ruột ra vậy. Tôi làm tuần chín ngày khấn Thánh Antôn thì nay con tôi đã khỏi. Tôi xin hết lòng cảm tạ".

Tích kẻ sống lại

Năm 1214, Thánh Antôn đang rao giảng thì người ta đem một thanh niên mới chết vào nhà thờ. Bà mẹ cùng anh chị em khóc lóc thảm lắm. Thánh nhân cũng động lòng thương. Người tạm ngừng giảng, đến bên xác chết, nói lớn: "Nhân danh Chúa Giêsu, ta truyền cho người trỗi dậy". Tức thì chàng ta sống lại và đứng lên. Ai nấy đều ngẩn người, sợ hãi và ngợi khen Thiên Chúa. Y như tích chàng trai thành Naim vậy.

Ngày kia, Thánh Antôn cùng các thầy khác đang vất vả chuyển vật liệu để xây nhà dòng, thì gặp một ông lão và đứa con đánh xe đi qua. Người muốn mượn xe chở mấy chuyến, nhưng ông lão nói dối là xe đang chở người chết, không hoãn được. Thánh Antôn làm thinh không nói gì. Lão già trong bụng mừng lắm, vì đã đánh lừa được ông thánh. Nhưng qua đó ông lão đánh thức đứa con trên xe, thì than ôi, con đã chết thật rồi!"

Lão liền chạy đến thánh nhân, xin người thương xót. Người giơ tay làm dấu Thánh Giá thì con ông lão liền sống lại. (còn tiếp)

THƯ CHO ÁO NÂU

Mưa Gội

Áo Nâu, Anh thân yêu,

Đã qua 5 ngày ở bệnh viện, nỗi buồn lại đến, thân thể em chưa bình phục hẳn thì lại nghe tin chồng em bị tai nạn (mặc dầu chuyện này đã quá quen). Chồng em bị tai nạn đã 5 ngày rồi, nhưng con em giấu để tránh cho em bị quá xúc động trong khi áp huyết có nguy cơ dẫn đến tai biến.

Lần này chồng em bị tai nạn nặng hơn những lần trước, hôn mê lâu. Trong lúc chồng em gây tai nạn cho hai người lớn, thì ở một vị trí khác lại có một tai nạn nữa, nạn nhân là một em bé cũng được đem đến bệnh viện cùng lúc với chồng em và 2 nạn nhân vụ thứ nhất. Thế là họ kết luận là chồng em gây tai nạn cho em bé (sau này mới biết là phi lý: một lúc mà gây tai nạn ở hai vị trí cách nhau cả hai cây số!) Trong khi chưa xác định được sự thực hư như thế nào thì gia đình cũng phải bỏ ra số tiền khá lớn để lo thuốc men cho họ.

Tuy bệnh em đã thuyên giảm, và khi em được thông báo, thì chồng em cũng đã qua cơn nguy kịch, nhưng em cũng muốn đi đâu đó cho khuây khoả. Sáng nay một người bạn mời em đi chơi chợ tỉnh. Em chuẩn bị chu đáo, tuy bạc tiền chẳng có là bao, và khắc ghi rằng mình phải hết sức cẩn thận, vì sơ hở là lạc nhau; chung quanh là tiếng mời chào mua hàng, tiếng la hét của người trên xe ba-gác thúc bách tránh đường, tiếng í ới cãi lộn, người bán tranh thủ người mua, lời tranh chấp lời, người chen lấn người. Giữa cảnh huyên náo ấy bất chợt người bạn nắm lấy tay em kéo đi. Chẳng hiểu sao, chỉ với một cái nắm tay mà em cảm nhận được luồng khí ấm áp lan toả khắp cơ thể, em muốn nắm thật chặt tay người bạn hơn, nhưng sợ bị phát hiện ra “một tên ăn trộm”. May người bạn ấy không quay lại. Có lẽ chị ấy nắm tay em là sợ em bị lạc giữa đám đông. Cái nắm tay ấy làm cho em yên tâm hơn. Em không sợ bị lạc giữa đám đông. Em cũng không sợ bị lạc giữa dòng tư tưởng, dẫn đến ư nghĩ tiêu cực… Em đã có một bàn tay để tin nhờ, có một bờ vai để nương tựa, có một trái tim để gởi trao.

* * *

Chiều đó, trời mưa, nhưng em vẫn bận áo mưa đi lễ. Trên đường đi, em kể cho Chúa nghe những cảm xúc của mình lúc sáng. Mưa đồng hành với tâm tư em, tấu nhạc liên miên, lúc nhặt, lúc khoan, khi ào ào, khi chậm rãi, lúc hỗn loạn, lúc nhẹ êm. Đột nhiên mưa ngưng hẳn. Em liền tự hỏi: Sao mưa biết mình đi lễ mà dứt rứa ha? Dứt mưa rồi, đường sá được gội sạch, mây kéo nhau về chốn xa xăm. “Sau cơn mưa trời lại sáng” mà! Tâm trí em cũng thế, tan dần rồi, hết rồi những ý nghĩ miên man vô định. Ánh sáng đang tới. Chúa mĩm cười. Đường em đi đến nhà thờ mà như con đường dẫn đến Festival. Tha thứ cho con Chúa ơi. Con mềm yếu mỏng dòn lắm. Chính Trái Tim Chúa, Thánh Thể Chúa mới là Lễ Hội Lớn cho con chứ!

Anh ạ. Chúa vẫn luôn nắm tay em, dẫn dắt em liên tục, nhưng mỗi lúc một vẻ, mỗi lần một kiểu, không một động tác nào là cố định, để đời em có được nhiều biến đổi hấp dẫn, nhiều niềm vui phong phú, nhiều suy tư trầm lắng, nhiều tình yêu rạo rực. Cơn mưa chiều nay như một lời cảnh báo cho em: Hãy rửa sạch đi, cởi bỏ đi, gội hết đi những ư nghĩ buồn chán lo âu, vì có Chúa đỡ nâng, vì có Mẹ Maria dìu dắt, vì có Anh đồng hành.

Anh cho em nói lời cảm ơn và tạm biệt, hẹn thư sau Anh nhé.

* Agnès Kim Gương

TỔNG TU NGHỊ DÒNG

Bài 4: Tuyên Khấn (tt)

1. SỰ VÂNG PHỤC

Người Phan Sinh Tại Thế không khấn Vâng Phục Tuyệt Đối như các tu sĩ. Sự vâng phục này không phù hợp với đời sống gia đình và công việc của người giáo dân sống giữa thế gian.

Người Phan Sinh Tại Thế chỉ khấn Vâng Phục theo tinh thần của Phúc Âm, Hội Thánh, và Luật Dòng theo lương tâm của mỗi người.

Ý niệm về sự Vâng Phục nằm trong điều 10 của luật Dòng, trong Sách Nghi Thức và trong Lời Khấn là: "Hiệp thông với sự vâng phục có giá trị cứu độ của Đức Giêsu, Đấng đã hoàn toàn đặt ư mình trong tay Chúa Cha, anh chị em hãy trung thành chu toàn các bổn phận của đấng bậc mình trong những hoàn cảnh sống khác nhau. (Vaticanô II: Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội, # 41) Anh chị em hãy bước theo Đức Kitô nghèo khó, chịu đóng đinh và làm nhân chứng cho Ngài ngay cả lúc gặp khó khăn, bắt bớ.”

"Và hễ ai tuân giữ các điều trên đây sẽ được Chúa Cha cao cả trên trời chúc phúc, và dưới đất sẽ được Chúa Con yêu dấu của Người với Thánh Linh, Đấng bảo trợ rất thánh, cùng tất cả chư thần Thiên quốc và toàn thể các thánh chúc phúc".

"Tôi là____ nhờ ơn Chúa, tôi xin lặp lại những gì đã hứa với Chúa khi lãnh nhận Bí Tích Thánh Tẩy, và xin hiến mình phục vụ nước Thiên Chúa. Vì vậy, tôi tuyên khấn sống Phúc Âm Đức Giêsu Kitô trong dòng Phan Sinh Tại Thế ở bậc giáo dân suốt đời tôi bằng cách tuân giữ Luật Dòng."

Vâng lời những vị có thẩm quyền trong Dòng Phan Sinh Tại Thế tức là luôn luôn gắn liền với việc vâng lời Luật Dòng mà chúng ta đã hứa sẽ tuân giữ.

2. SỐNG PHÚC ÂM

Thánh Phanxicô Assisi "đã chọn Đức Kitô làm nguồn cảm hứng và là trung tâm đời sống của Người trong tương quan với Thiên Chúa và loài người."

Đây là một lời khuyên cho những ai tuyên khấn trong dòng Phan Sinh Tại Thế là: hãy làm như thánh Phanxicô.

Tất cả mọi môn đệ của Chúa được kêu gọi để sống đức ái trọn hảo. Bối cảnh tự nhiên của các lời khuyên sống Tin Mừng nằm trong một lệnh truyền "tuyệt vời" – tức là sống trong không gian bao la của Đức Ái.

Lời khuyên "Sống Phúc Âm" cho người Phan Sinh Tại Thế phù hợp với những đòi hỏi nơi đời sống trần thế của một Kitô Hữu. Tính sẵn sàng này là một thái độ nội tâm hàm chứa tinh thần và nội dung sâu xa của đức Khiết Tịnh, Khó Nghèo và Vâng Phục. Nó thực sự cốt yếu ở việc yêu Chúa Kitô hơn bản thân mình, trên hết mọi người, mọi sự, mãi mãi, và suốt đời.

Người Phan Sinh Tại Thế không tuyên khấn cách tuyệt đối như các tu sĩ, nhưng Luật Dòng và Hiến Chương đã đề ra một cách sống tiết độ theo Tin Mừng cho người Phan Sinh Tại Thế là vâng lời, nghèo khó và mở lòng yêu mến để sống trọn lời khấn theo “tinh thần của Thánh Phúc Âm”.

Đối với người Phan Sinh Tại Thế bước theo Đức Kitô và trở nên giống Đức Kitô, có nghĩa là phải sống Lời Khấn bằng cách tuân giữ Phúc Âm của Đức Kitô theo gương thánh Phanxicô. Là tuân giữ tất cả những đòi hỏi triệt để của Tin Mừng, cho dù phải chết để được đón nhận những lời hứa do Tin Mừng mang lại.

3. TRONG LÒNG THẾ GIỚI

Tính chất tại thếtrần thế là 2 yếu tố nói lên đặc tính căn bản của đoàn viên dòng Phan Sinh Tại Thế và sứ mạng đặc biệt của họ phát xuất từ Lời Khấn.

Ơn Gọi Tại Thế nẫy sinh từ việc chấp nhận Thiên Chúa can thiệp vào lịch sử nhân loại và từ sự kiện đó nhìn nhận một thế giới mà Chúa Thánh Thần đang hoạt động để qui tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lĩnh là Đức Kitô.

"Ơn Gọi Tại Thế thánh hiến cho Thiên Chúa" có nghĩa là thánh hiến trong môi trường thế gian và cho thế gian. Công tác của người Phan Sinh Tại Thế là thánh hóa thế gian, bằng cách dìm mình cách hoàn toàn trong thế gian.

Qua việc sống thánh hiến cho Thiên Chúa trong thế gian, cho thế gian, và "thấm nhuần tinh thần Phúc Âm vào những hoạt động trần thế” (Nghi thức, chương III), người Phan Sinh Tại Thế sống chứng nhân và thánh hóa thế giới qua việc thánh hóa con người, bởi vì thế gian chỉ có thể biến đổi bằng tinh thần của 8 mối Phúc thật.

4. Lập Lại Lời Khấn Trong Sách Nghi Thức

"Tôi là____ nhờ ơn Chúa, tôi xin lặp lại những gì đã hứa với Chúa khi lãnh nhận Bí Tích Thánh Tẩy, và xin hiến mình phục vụ nước Thiên Chúa. Vì vậy, tôi tuyên khấn sống Phúc Âm Đức Giêsu Kitô trong dòng Phan Sinh Tại Thế ở bậc giáo dân suốt đời tôi bằng cách tuân giữ Luật Dòng. Ước gì ơn Chúa Thánh Thần, lời cầu bầu của Đức Trinh Nữ Maria và của Cha Thánh Phanxicô, cũng như sự hiệp thong với anh chị em luôn trợ giúp tôi tiến tới đức Ái Kitô hoàn hão"

Mỗi người chúng ta hứa giữ những lời đó khi chúng ta tuyên khấn. Để lượng định những gì chúng ta đã và đang, hãy suy nghĩ theo những câu hỏi sau đây:

Câu Hỏi Gợi Ý:

1. Luật Dòng giúp cho anh chị hiểu biết về Dòng; và ý thức mình là một phần tử của Dòng như thế nào?

2. Anh chị có hiểu đúng “bản chất” và sứ mạng của dòng không? Hay anh chị vẫn còn những quan niệm thuộc về quá khứ? Hay có những quan niệm riêng khác về Dòng?

3. Nếu anh chị không có ý thức là mình thuộc về hội Dòng Phan Sinh của toàn thế giới, thì xin cho biết tại sao?

4. Nếu anh chị không nghĩ rằng mình hoặc một thành viên nào đó trong huynh đệ đoàn thực sự sống Lời Khấn của mình, thì xin cho biết tại sao?

Trong câu hỏi 3 và 4, anh chị có thấy bất kỳ lý do nào liên quan tới những điều sau đây: Thiếu huấn luyện, thiếu trao đổi thông tin, thiếu đóng góp và chia sẻ, hoặc bất cứ lý thấy có nào khác mà anh chị tin rằng có câu hỏi trên.

5. Hãy thảo luận về tầm quan trọng của sự nhận định ơn gọi trong tiến trình huấn luyện khởi đầu? Cách nàokhi nào thì nên nhận định trong hành trình của người Phan Sinh Tại Thế? Sự thường xuyên nhận định giúp anh chị sống trọn ven Lời Khấný thức tính liên đới với Hội Dòng như thế nào?

 

Sống Tâm Tình Tạ Ơn

Buổi sáng, với những bước nhỏ trên phố lê bước đến chợ, tôi chợt nhìn thấy trên vỉa hè có nhiều thức ăn còn nguyên vẹn bị vươn vải khắp nơi: Khúc bánh mì thịt, củ khoai mì, miếng xôi, bọc nước mía, hộp cơm với miếng thịt nướng còn tươm mỡ… Có nhiều người già cả đói khát mỏi mệt chống gậy đi lụm cụm bên đường để nhặt từng miếng thức ăn ấy, cùng với đám trẻ em gầy guộc, lẽo đẽo đi theo để cùng chung số phận đói ăn, khát uống…

Để tự mưu sinh, mỗi ngày, mỗi người trung bình cần phải làm việc khoảng tám giờ đồng hồ.Đôi khi vì kinh tế gia đình thiếu thốn phải làm việc thêm giờ phụ trội. Khi cầm đồng tiền trên tay đã thấm đẫm mồ hôi và đôi khi đẫm đầy cả nước mắt…

Thời gian, trí khôn, sức khoẻ, công việc kiếm miếng ăn đều do Chúa tặng ban, và miếng ăn đưa vào miệng cũng là do Chúa gởi đến để nuôi sống chúng ta. Vì vậy, khi ăn uống, chúng ta phải dâng lời tạ ơn Chúa và ăn uống với thái độ biết ơn…

Một ngày có hai mươi bốn giờ, trong hai mươi bốn giờ ấy không có một giây phút nào mà Thiên Chúa ngừng tay tặng ban ân huệ cho mọi người; Nhưng trong suốt hai mươi bốn giờ này tôi đã sống như thế nào? Đã đón nhận và sử dụng những tặng phẩm của Thiên Chúa như thế nào? Mục đích sử dụng là gì? Tận dụng cách xứng đáng hay phung phí? Với sự khôn ngoan có được từ Thiên Chúa, tôi nghĩ gì, làm gì cho mọi người chung quanh hay chỉ biết lo cho riêng mình? Khi được no đầy cơm áo, tôi có biết cảm tạ, đón nhận, sẻ chia với tâm tình trân trọng, cảm mến? Hay tôi cũng như những người vô tâm coi thường Thiên Chúa, vất bỏ thức ăn một cách phung phí bên đường trong khi quanh tôi có bao nhiêu người đói khát?

Nhẫm tính những thức ăn người ta vất bỏ bên đường mà tôi nhìn thấy mỗi ngày thì tôi sẽ no lòng được ít là vài ngày, và như vậy, vơi mớ thức ăn khiêm tốn mà tôi nhìn thấy sẽ giúp được vài người no lòng trong ngày…Cũng vậy, trên thế giới này có biết bao nhiêu là thức ăn còn nguyên vẹn bị vất bỏ như thế! Tặng phẩm của Thiên Chúa ban bị con người xúc phạm biết là ngần nào! Con người vô tâm biết là ngần nào!

Nếu mỗi ngày, mỗi người biết chia sẻ một chút xíu thôi, thì trần gian này không có chỗ cho nghèo đói hiện diện. Nếu mỗi ngày chúng ta biết mở cõi lòng cho chút từ tâm bước ra thì đau khổ không bao giờ còn chỗ dung thân, gương mặt xấu xí của sự nghèo đói không bao giờ hiện diện, thế giới sẽ không bao giờ có người nghèo nếu mỗi người biết chia sẻ, hạnh phúc thay cho những ai luôn biết quý trọng mọi tặng phẩm của Chúa ban.

Bước ra khỏi con người cao ngạo hống hách tầm thường của mình, tôi mới biết cúi xuống để nhìn thấy hết những nghèo nàn, khốn khó của anh em. Vượt qua cái tôi nhỏ nhặt, ít kỷ của mình tôi mới nhận ra được anh em tôi đói khổ là có một phần lỗi của tôi! Nếu như tôi biết xót thương thì xóm làng của tôi sẽ có người bớt đau khổ! Nếu tôi, anh, mỗi người đều biết chia sẻ, (dù sự chia sẻ ấy rất ít ỏi, nhỏ bé) thì trần gian này sẽ không còn người nghèo đói, kẻ lang thang…

Quý trọng lương thực Chúa ban cũng là lời tạ ơn Chúa.

Sử dụng lương thực cách xứng đáng, đúng nghĩa là chúng ta đang xây dựng lại thế giới…

Mẹ

Bầu trời đã bước sang Thu, vậy mà cái nắng ban trưa vẫn oi bức khó chịu như nung người. Từ sáng sớm đã nóng, đêm tối cũng vậy, và càng không thể chịu nổi cái nắng như thiêu đốt da người giữa giờ thứ mười hai.

Không nghĩ trưa được, tôi ra ngồi trước hiên nhà, tay phe phẩy chiếc quạt giấy ngóng đường cho qua giờ. Một chiếc xe ba gác trờ tới, trên xe chất một đống đồ phế liệu, người gò lưng đạp xe là một thiếu phụ. Chị dừng xe, ghé vào gốc cây trứng cá trước nhà tôi để tránh nắng, chị bước xuống dở đống phế liệu, nâng dậy một đứa bé khoảng ba tuổi và ẳm bé xuống khỏi xe đến ngồi dưới gốc cây để ăn trưa, vừa ăn chị vừa lau mồ hôi cho bé và trò chuyện với bé. Tôi đến làm quen và mời hai mẹ con ly nước mát, sau vài câu thăm hỏi, chị kể tôi nghe chuyện cuộc đời của chị.

Ngày ấy, khi chị sắp được làm mẹ thì chồng chị đã vĩnh viễn ra đi vì tai nạn lao động. Quê của chị nghèo lắm, dẫu quanh năm quần quật với ruộng đồng nhưng cái nghèo vẫn đeo đẳng, sản nghiệp của hai vợ chồng chỉ là căn nhà lá vài mươi mét vuông cũng phải bán đi để có tiền lo an táng cho chồng. Sau khi an táng chồng xong, chị rời bỏ quê nhà và tìm đến mảnh đất này để mưu sinh. Còn chút ít tiền, chị mua chiếc xe ba gác và rong ruổi trên khắp đường phố để mua bán phế liệu kiếm tiền nuôi con, nhà của ch&#