Mọi thư từ liên lạc, xin gửi về PSTTVNUSA@YAHOO.COM. Copyright © 2002 WWW.PSTTVNUSA.NET. All rights reserved.
 

NỘI DUNG HÀNG THÁNG (08-2007)

MỪNG KÍNH ĐỨC TRINH NỮ MARIA

HỒN XÁC LÊN TRỜI 

Trong Số Này:
TÂM SỰ HẰNG THÁNG
 

Mẹ, Người Phục Vụ

HỌC HỎI LỜI CHÚA
 

Mức Độ Của Đời Sống Như Là Giá Trị Lớn Nhất

LINH ĐẠO PHAN SINH
  Sống Linh Đạo Phan Sinh Tại Thế
GIÁO LƯ TÓM LƯỢC
  Bài 44: Các Tai Ương Tại Ai-Cập
LỜI KINH MỖI THÁNG
  Mẹ ! Mẹ Là Mẹ Con
TRINH NỮ MARIA
  Đức Maria Trong Tuyền Thống Thần Học PS
THIÊU NHI PHAN SINH
  Một Chút Tình Thương Cho Người
NỮ GIỚI PHAN SINH
  Viết Cho Em
HÔN NHÂN GIA Đ̀NH
  Bài 10: Gia Đình
NHỮNG BÀI ĐỌC THÊM
  Hợp Nhất và Hòa Hợp
CẦU NGUYỆN CHO NHAU
   
THÔNG BÁO TIN TỨC
   

 
 

Mẹ, Người Phục Vụ

Thưa quí anh chị,

Hết thảy chúng ta, ai cũng có một người Mẹ, cũng được sinh ra và lớn lên trong vòng tay yêu thương của Mẹ. Người Mẹ, tình Mẹ, lòng Mẹ, trái tim Mẹ… Những tâm tình ấy vẫn luôn là những đề tài bất diệt của nhân loại, nhưng chưa hẵn ai cũng hiểu được như thế; Chưa hẵn ‘người con’ nào cũng biết cảm nhận và cảm tạ tình Mẹ. Và điều này không làm cho chúng ta ngạc nhiên vì ngày nay, vật chất đang ào ạt lên ngôi, đang dần dần làm chủ ‘con người’. Nơi nào có vật chất ngự trị, nơi đó tâm trí bị u mê, tình yêu thương bị thiếu vắng. Nơi nào bạc tiền làm chủ, thì nơi ấy không có lễ nghĩa, không có nụ cười, không có hạnh phúc thật, -chỉ có danh vọng, quyền lực, gian dối, toan tính, hơn thua-. Nơi nào càng văn minh, thì nơi đó càng không thích nhắc nhớ những câu chuyện xưa như: "Ngày ấy, bà Maria vội vã lên đường, đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giuda. Bà vào nhà ông Da-ca-ri-a và chào hỏi bà Ê-li-sa-bet." (Lc 1, 39, 40).

Xin quí anh chị dành ra ít phút, trút hết mọi lo lắng, tất bật, bon chen, mệt mõi, để cùng nhau thả hồn về Nagiaret; cùng hồi tưởng, cùng kính nhớ và suy niệm về Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Nhân Loại. Cùng chiêm ngắm cuộc đời của Mẹ, xem Mẹ đã làm gì khi trở thành Mẹ Thiên Chúa. Mẹ đã làm gì sau khi khải hoàn vinh quang ở trên Thiên Quốc…

Ngày ấy, tại làng quê nghèo ở miền Na-gia-ret, có một thiếu nữ bình thường như bao thiếu nữ khác được Sứ Thần Chúa đến báo một tin vô cùng trọng đại: “Này đây, bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao.” (Lc 1,32). Sau khi tiếng "Xin Vâng" được cất lên, người thiếu nữ ấy đã trở thành Mẹ Thiên Chúa, và Mẹ Nhân loại. Việc làm đầu tiên của Mẹ Thiên Chúa là vượt qua một quãng đường dài để đi thăm viếng ‘con người’, đem Chúa đến cho ‘con người’ và phục vụ ‘con người’. Ngày ấy, không ai rõ Mẹ đã dùng phương tiện gì để đến với ‘con người’, nhưng chắc chắn một điều là Mẹ đã rất vất vả suốt quảng đường đi. (Thời đó không có xe đạp, xe gắn máy, hay xe hơi). Khi tới nơi, Mẹ lại cúi mình chào ‘con người’ trước khi ‘con người’ lên tiếng chào Mẹ. Với cương vị là Mẹ Thiên Chúa, Mẹ lại khiêm tốn, hầu hạ, phục vụ ‘con người’ như một người giúp việc, và ở đó độ ba tháng mới trở về nhà.

Thời nay, phương tiện đi lại quá dễ dàng nhanh chóng. Xe gì cũng có, tàu thuyền cũng nhiều, đi đâu cũng được, thậm chí có cả máy bay. Nếu muốn, con người có thể đi vòng quanh cả thế giới cách dễ dàng. Nhưng kỳ thực, con người lại rất lười thăm viếng nhau, dù cách nhau chỉ dăm bước chân, và càng không chịu cúi mình phục vụ cho nhau. Ai cũng thích được người khác quan tâm hơn là quan tâm đến người khác. Ai cũng muốn được phục vụ chứ không chịu hạ mình phục vụ người khác.

Hôm nay, nhân ngày lễ "Mẹ Lên Trời" chúng ta cùng suy gẫm việc Mẹ Đi Thăm Viếng… Một việc làm xem ra có vẻ tầm thường, thấp hèn, mất thời gian trước mặt ‘con người’, nhưng rất đẹp lòng Thiên Chúa. Đẹp lòng Thiên Chúa vì sự thăm viếng, giúp đỡ, ủi an nhau chính là bông hoa của Đức Ái. Và Yêu Thương chính là giới răn cao trọng nhất, là lời trối trăn của Chúa Giêsu, là điều mà Chúa Giêsu đã thực hiện, đã tha thiết mong nó luôn được tồn tại, được lan tỏa qua lời nói, qua việc làm của mỗi ‘con người’. Và Mẹ của chúng ta đã thể hiện Đức Yêu Thương cách hoàn mỹ. Mẹ đã yêu thương và phục vụ ‘con người’ với trái tim của Mẹ Thiên Chúa, Mẹ đã thực thi Lời Chúa cách vẹn toàn cho hoa yêu thương thắm nở và tồn tại mãi trong lòng nhân loại.

Tuy là Mẹ Thiên Chúa, nhưng Mẹ đã không an hưởng như mình là Mẹ Thiên Chúa, mà chỉ dốc lòng dựng xây Nước Chúa. Tuy là Mẹ của nhân loại, nhưng Mẹ đã không đặt mình lên trên mọi loài, mà lại cúi mình phục vụ cho nhân loại suốt cả cuộc đời. Và khi Thiên Chúa trao tặng triều thiên vinh quang trên Thiên quốc Mẹ càng yêu thương chăm sóc cho con cái nhiều hơn…

Chúng ta là những người con yêu của Mẹ, chúng ta suy ngắm về Mẹ mình như thế nào? Việc làm của Mẹ có đánh động lòng ta? Chúng ta có bắt chước Mẹ vội vàng đi thăm viếng ai đó khi biết là họ muốn được thăm viếng? (Hay lại cho rằng việc đi thăm viếng là những chuyện tầm thường, vặt vảnh?) Chúng ta có lần nào hạ mình để phục vụ anh em như Mẹ đã từng phục vụ cho chúng ta? (Hay chúng ta vẫn tiếc rẻ thời giờ quí báu khi đến với nhau?) "Trên hết mọi đức tính, anh em phải có đức Yêu Thương, đó là mối dây liên kết mọi điều toàn thiện." (Cl 3,14). Yêu Thương là điều đẹp lòng Thiên Chúa, không yêu thương, không thể bước vào Nhà Chúa -vì Nước Chúa là Vương Quốc Yêu Thương-.

Vâng! Ngày hôm nay, chúng ta đang sống ở thế kỷ hai mươi mốt, một thế kỷ văn minh hiện đại, và khi sống giữa thành phố hoa lệ, ồn ào, náo nhiệt, người người mãi chạy đua theo nhịp sống mới với những tất bật, lo toan. Hãy phụng sự Chúa trong mọi người theo gương của Mẹ. Và hãy bắt đầu nếu chúng ta chưa bắt đầu. Hãy thăm viếng nhau nếu chúng ta chưa thăm viếng. Hãy trao cho nhau những gì có thể trao ban. Hãy vội vã lên đường, hãy ra đi như Mẹ vì thời gian sẽ không chờ đợi một ai cả.

Lạy Mẹ đi thăm viếng bà thánh Isave - Xin cho chúng con được lòng yêu người. Amen.

BBT

Trở về mục lục >>

 

Mức Độ Của Đời Sống Như Là Giá Trị Lớn Nhất

(Luca 12, 13-21 – CN XVIII TN - C)

12:13 Có người trong đám đông nói với Đức Giê-su rằng: "Thưa Thầy, xin Thầy bảo anh tôi chia phần gia tài cho tôi". 12:14 Người đáp: "Này anh, ai đã đặt tôi làm người xử kiện hay người chia gia tài cho các anh?" 12:15 Và Người nói với họ: "Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, vì không phải hễ ai được dư giả, thì mạng sống người ấy nhờ của cải mà được bảo đảm đâu". 12:16 Sau đó Người nói với họ dụ ngôn này: "Có một nhà phú hộ kia, ruộng nương sinh nhiều hoa lợi, 12:17 mới nghĩ bụng rằng: "Mình phải làm gì đây? Vì còn chỗ đâu mà tích trữ hoa mầu!" 12:18 Rồi ông ta tự bảo: "Mình sẽ làm thế này: phá những cái kho kia đi, xây những cái lớn hơn, rồi tích trữ tất cả thóc lúa và của cải mình vào đó. 12:19 Lúc ấy ta sẽ nhủ lòng: hồn ta hỡi, mình bây giờ ê hề của cải, dư xài nhiều năm. Thôi, cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã!" 12:20 Nhưng Thiên Chúa bảo ông ta: "Đồ ngốc! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai?" 12:21 Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó".

1.- Ngữ cảnh

Những lời Đức Giêsu ngỏ với các môn đệ trước mặt một đám đông (12,1-12.22-34) bị cắt ngang bởi lời thỉnh cầu của một người trong đám đông để xin Đức Giêsu can thiệp vào một vụ tranh tụng giữa anh ta và người anh liên hệ đến chuyện gia tài (12,13-15). Sự cố này lại là dịp để Đức Giêsu kể Dụ ngôn Ông phú hộ (cc.16-21). Như thế, đề tài chuyển đi từ những lời nói về việc thụ hưởng cho bản thân đến những thái độ đối với của cải trần thế (12,13-34): “Phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam" (c.15). Bài dụ ngôn tiếp theo có thể được coi như một bài bình luận cho câu nói của Đức Giêsu về sự tham lam (c. 15).

2.- Bố cục

Bản văn có thể chia thành ba phần:

1) Một vụ kiện (12,13-15);

2) Dụ ngôn Ông phú hộ (12,16-20);

3) Nhận định kết luận của Đức Giêsu (12,21).

3.- Vài điểm chú giải

- Thưa Thầy (13): Bởi vì vấn đề chia gia tài được bàn đến trong Bộ Ngũ Thư (chẳng hạn Đnl 21,15-17; Ds 27,1-11; 36,7-9), một vị thầy tôn giáo hoặc một kinh sư là những con người thích hợp để tham vấn.

- Này anh (14): Dịch sát là "này người" (hô-cách của anthrôpos, "người"; x. 5,20). Từ này thường được dùng theo dạng này để từ chối, hay diễn tả sự dè dặt.

- tham lam (15): Từ Hy-lạp pleonexia thường có trong những đoạn văn khuyến thiện của Tân Ước (Rm 1,29; 2 Cr 9,5; Cl 3,5; Ep 4,19; 5,3; 2 Pr 2,3.14). Đây là sự ham muốn có thêm nữa, quá mức cần thiết (x. 1 Tm 6,10).

- Thiên Chúa bảo ông ta (20): nghĩa là trong một giấc mơ ban đêm. Ông này được chính vị Chúa tể của sự sống ngỏ lời với, trong khi ông sắp xếp chương trình sống không có Ngài.

- ngốc (20): Hy-lạp aphrôn , "kẻ mất trí, ngu dốt, ngu ngốc, điên, rồ dại" (x. 11,40).

- người ta sẽ đòi lại mạng ngươi (20): Động từ aitousin ở ngôi thứ ba vô định số phức tương đương với một thái bị động thay tên Thiên Chúa: "Thiên Chúa sẽ đòi lại mạng ngươi".

- cho mình (21): nghĩa là không phải cho người khác, như người nghèo, quả phụ, trẻ mồ côi, người ngụ cư (x. Đnl 24,17-22; 2 Cr 6,10b).

4.- Ý nghĩa của bản văn

* Một vụ kiện (13-15): Đức Giêsu lấy khởi điểm để giáo huấn là một vụ kiện về vấn đề chia gia tài. Rất có thể đây là một người em trong gia đình không đồng ý với cách quản lý và thụ hưởng chung gia tài, nên muốn có phần của mình để dùng theo cách độc lập. Trong những vụ tranh cãi như thế, người ta thường đến gặp các kinh sư, để xin soi sáng vấn đề. Đức Giêsu dứt khoát từ chối can thiệp. Yêu cầu của người ấy và yêu cầu của Đức Giêsu ở trên hai bình diện khác nhau. Người ấy thì muốn có một phần sở hữu độc lập. Đức Giêsu thì dựa vào đó để nói về tương quan của con người với của cải. Chính các tranh chấp về gia tài thường đưa ra ánh sáng một liên hệ chặt chẽ với sở hữu và thường đưa đến những mối thù nghịch kéo dài suốt đời. Điều này có lẽ khiến chúng ta hiểu vì sao ở đây Đức Giêsu khuyến cáo chống lại lòng tham lam mạnh mẽ đến thế. Của cải sở hữu không phải là giá trị cao nhất, mà ta phải hy sinh mọi sự cho. Đức Giêsu sẽ minh họa điểm này bằng dụ ngôn tiếp theo.

* Dụ ngôn Ông phú hộ (16-21): Với dụ ngôn này, Đức Giêsu muốn cho thấy rằng giá trị của các của cải trần thế rất bé nhỏ, nên bám víu vào đó là một tính toán sai lầm.

Theo một quan niệm nào đó về cuộc sống, hoàn cảnh Đức Giêsu phác ra có thể coi là lý tưởng. Con người này giàu có. Không hề có nguy cơ là của cải của ông sẽ giảm thiểu đi, bởi vì ông đang nhắm tới một vụ thu hoạch dồi dào. Vấn đề duy nhất ông đặt ra là: "'Mình phải làm gì đây? Vì còn chỗ đâu mà tích trữ hoa mầu!" Đây là một vấn đề cũng dễ giải quyết. Như thế, ông này có trong tay các phương tiện để sống một cuộc sống không phải bận tâm lo lắng; ông có thể tự do sống theo ư thích, trong sự sung túc.

Đức Giêsu mô tả là Thiên Chúa và cái chết sẽ ập vào cuộc đời ấy như thế nào. Cái chết đột ngột đảo lộn tất cả các toan tính nhắm thụ hưởng an toàn trong nhiều năm trời. Tất cả những gì đã thu tích được và tất cả những gì người ta đã dự phóng cách hợp lý trở thành vô giá trị. Đức Giêsu cho biết rằng một cuộc sống chỉ dành cho chuyện ăn uống và hưởng thụ tiện ích thì chẳng có giá trị trước mặt Thiên Chúa. Một người sống như thế thì không giàu có trước mặt Thiên Chúa. Đức Giêsu khẳng định rằng để đạt được sự sống đời đời, cần có tình yêu đối với Thiên Chúa và tình yêu đối với người thân cận (10,25-37). Chỉ nhờ đi trên nẻo đường này, người ta mới trở thành giàu có trước nhan Thiên Chúa.

* Nhận định kết luận của Đức Giêsu (21): Câu kết luận của Đức Giêsu cho hiểu rằng có lẽ đời sống trần thế tùy thuộc các của cải trần thế, nhưng đời sống này không được đảm bảo hay đạt được mức thành toàn nhờ các của cải ấy. Chúng ta phải nhận được sự thành toàn cuộc đời chúng ta từ lòng nhân lành của Thiên Chúa.

+ Kết luận: Đức Giêsu không quan tâm đến những điểm tranh luận phụ thuộc; Người chỉ cứu xét những câu hỏi lớn liên quan đến sự sống: đâu là điều quan trọng nhất? Ta có thể tín nhiệm vào điều gì? Điều gì ta phải tìm cách đạt cho được? Ta phải sử dụng cuộc sống và dấn thân thế nào để đạt được mục tiêu cuộc đời? Đức Giêsu nói rõ ràng các của cải vật chất không thể đảm bảo cho cuộc sống và sự sung túc, thoải mái, không thể là nội dung của cuộc sống được. Sự thành toàn chỉ được một mình Thiên Chúa ban cho mà thôi. Vậy trong cuộc sống này, chúng ta có thể và phải tính sổ với Thiên Chúa. Chúng ta phải chịu trách nhiệm về cuộc sống của mình trước mặt Ngài.

5.- Gợi ý suy niệm

1. Vấn đề thu hoạch dồi dào đến nỗi người ta không biết để của cải ở đâu đã trở thành phổ biến, vào thời đại hôm nay. Mỗi người cần phải tự hỏi theo ư mình, thế nào là cuộc sống lý tưởng, mình vận dụng sức lực cho chuyện gì, nếu lại không phải là "mình bây giờ ê hề của cải, dư xài nhiều năm. Thôi, cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã!" Ở bên ngoài các giá trị này, còn những giá trị và mục tiêu nào có thể nên được nhắc đến?

2. Cái chết "phá rối", ai cũng biết. Người ta tìm mọi cách để đối xử với nó. Người ta cản bước nó tối đa bằng các cách trị liệu y khoa. Người ta ít nghĩ tới nó chừng nào tốt chừng đó. Người ta tránh để cho lòng mình bị xúc động trước cái chết của người khác. Dĩ nhiên người ta vẫn không tránh được cái chết. Do đó, người ta phải khai thác tối đa thời gian của cuộc sống được ban cho ta. Cũng phức tạp, nhưng cách nào đó, người ta có thể “đạt thắng lợi” trên cái chết. Nhưng làm thế nào đạt thắng lợi trên vị Thiên Chúa "phá rối"? Người ta cũng tìm cách tránh xa Ngài, quên Ngài đi. Người ta có thể không nói đến Ngài nữa và sống y như thể không có Ngài. Tuy thế, người ta không thể tránh né Ngài kiểu tiêu cực. Phải sống làm sao để cuộc sống của mình có giá trị trước mặt Thiên Chúa. Người nào chỉ sống cho những nhu cầu riêng và những đòi hỏi vật chất, thì đã chết trong cuộc đời này rồi, vì bị cô lập trong tính ích kỷ của mình. Tình trạng cô lập này trở nên trọn vẹn và được xác nhận bằng cái chết.

3. Cuộc sống viên mãn chỉ hệ tại tình yêu. Chỉ cuộc sống nào nhắm đến tình yêu đối với Thiên Chúa và tình yêu đối với tha nhân thì mới là cuộc sống trung thực. Chỉ một cuộc sống như thế mới có thể được Thiên Chúa chuẩn nhận và được Ngài đưa đến chỗ thành toàn với ân ban là sự sống đời đời. Chúng ta đã nhận đời sống từ Đấng Tạo hóa, thì chúng ta cũng phải nhận cả ý nghĩa của đời sống từ Ngài. Và đối với Ngài, ý nghĩa của đời sống không phải là tiện nghi, mà là tình yêu.

Lm. F.X. Vũ Phan Long, ofm

 

Trở về mục lục >>

 

Sống Linh Đạo Phan Sinh Tại Thế

3.- Điều 23tt

b) Thời kỳ Huấn luyện khởi đầu: Tại sao gọi là "khởi đầu”? Đây là thời kỳ chính thức HuấnLuyện, để rồi sau khi khấn trọn, tiếp tục Thường Huấn trải dài suốt thời gian sống của một người Phan Sinh Tại Thế. Chúng ta bàn bạc với nhau về "từ ngữ" một chút để xác định đâu là đường, đâu là đích:

b1. Huấn: Cũng có khi mình phải tự huấn (dạy) cho mình, nhưng nôm na mà hiểu thì huấn mới là "dạy" và "học". Việc này người "học viên" tương đối còn phải nhờ đến người khác giúp, hay ít ra là phải có tài liệu kè kè bên nách. Cụ thể là đọc, là nghe cho biết, cho hiểu, học cho thuộc. Nhưng nếu chỉ có thế thôi, thì chưa đủ để thành một người Phan Sinh Tại Thế "sống" theo linh đạo Phan sinh. Bản thân tôi cũng đã có thời gian thiếu trách nhiệm vì quá chú trọng đến Huấn (học cho nhiều, cho thông). Tôi có dịp tiếp xúc với một vài "học viên" cũ của tôi, những học viên mà tôi rất quý mến. Khi nói về bất cứ một điều gì, dù là cuộc đời Cha Thánh, là Luật, Tổng Hiến Chương, Bút tích, có khi cả những Thông Điệp, Tông thư, Hiến Chế, Hiến Chương của Giáo hội, họ vượt trội hơn tôi rất nhiều. Thật là tự hào khi có những người anh em như thế. Nhưng sau khi khấn xong, họ mới để lộ ra khuôn mặt thông minh kiểu làm thầy thiên hạ. Tôi thật sự hối hận vì đã không chú trọng đến việc giúp họ Luyện Tập.

b2. Luyện: Khác với Huấn, Luyện thì tự mình làm nhiều hơn, người khác không giúp được gì nhiều cho mình. Luyện là xào đi nấu lại; là nung thép đỏ lên rồi nhúng vào nước cho thép cứng hơn; là bào gọt cho trơn tru; là mài giũa cho sáng hơn; là bật "thẳng mực tàu" (thì đau lòng gỗ). Luyện thế nào để khi bị gọt giũa, mài mòn, xào nấu mình không còn cảm thấy "đau” nữa, hoặc đến khi nào mình sẵn sàng tự gọt giũa mình, tự xào nấu... trong mọi trạng huống, cho đến khi “thẳng mực tàu" mà lòng gỗ vẫn chịu đựng vui vẻ.

Bây giờ ta đi sâu vào việc "thời kỳ Huấn Luyện": Thực ra trước đây gọi thời kỳ này là "Thời kỳ chuyên tập" nghe có vẻ tích cực hơn. "Chuyên" có lẽ là chuyên chăm, chuyên môn, "tập" có lẽ là ai cũng hiểu, là tập cho biết làm, cho quen làm, cho nhuần nhuyễn. Thời kỳ này được ấn định trong Tổng Hiến Chương (điều 40.1) “ít nhất là một năm, Nội Quy Quốc Gia có thể ấn định một thời gian dài hơn". Ở Việt Nam, Nội Quy Quốc Gia 2004 quy định thời kỳ chuyên tập kéo dài 2 năm và chỉ có thể thêm 6 tháng cho những ai gián đoạn việc học tập vì các lý do chính đáng. (x. NQQG 2004, điều 28.2). “Mục đích của thời kỳ này là làm cho ơn gọi chín mùi, cho ứng sinh thử nghiệm về đời sống Phúc Âm trong huynh đệ đoàn và hiểu biết Dòng Phan Sinh Tại Thế rõ ràng hơn"… (THC.40.1)

Mục tiêu huấn luyện Thời Kỳ này: (x.THC 40.2).

- Đọc và suy niệm Kinh Thánh

- Tìm hiểu con người và bút tích của Thánh Phanxicô cũng như Linh đạo Phan Sinh.

- Học Luật Dòng và Hiến Chương

- Học cho biết yêu mến Hội Thánh và chấp nhận huấn quyền của Hội Thánh,

- Tập luyện để dấn thân vào đời theo tinh thần Phúc âm.

Tổng Hiến Chương cũng quy định rằng “việc tham dự các buổi họp của huynh đệ đoàn địa phương là một điều kiện tuyệt đối cần thiết để ứng sinh được khai tâm về sự cầu nguyện cộng đồng và về đời sống của huynh đệ đoàn" (THC 40.3).

Qua những điều trên, xin chia sẻ một vài kinh nghiệm bản thân về việc huấn luyện trong thời kỳ này:

Trước hết với ứng sinh, nếu muốn tiến đến việc dấn thân vào đời theo tinh thần Phúc âm, trong Dòng Phan Sinh Tại Thế, thì việc trước hết là phải học tập lối sống Phan Sinh. Phải tập sống 16 điều Luật chương 2 (Bên Giới Trẻ Phan Sinh gọi là 16 Điều Tâm Niệm), mỗi ngày tập một ít, để đến cuối thời kỳ mình cảm thấy thích thú sống lối sống này. Thường thì các Ban Thường Vụ huynh đệ đoàn địa phương tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc học tập lối sống này bằng Lễ Đoàn, bằng chầu Thánh Thể, bằng các cuộc tĩnh tâm, cấm phòng, tập huấn, bằng những cuộc giao lưu dã ngoại. Ăn thua là mình có thực tâm cố gắng không nữa mà thôi. Hơn nữa, phải hiểu rõ rằng "dấn thân vào đời theo tinh thần Phúc âm” tức là sống 8 mối phúc thật mà cô đọng lại gọi là việc bác ái yêu thương. Việc này thật là khó cho các ứng sinh khi phải quyết định xin khấn, nhưng theo kinh nghiệm riêng của chúng tôi, thì các ứng sinh nào có tinh thần phó thác cao, thi sẽ không ngần ngại tập dấn thân, để đến khi thực sự dấn thân một cách tích cực.

Đối với người Phụ Trách Huấn Luyện. Nên theo sát từng hành vi cử chỉ, lời phát biểu, các câu hỏi hoặc thắc mắc của ứng sinh, để hiểu được tâm tư, nguyện vọng khả năng tiếp thu và để giúp ứng sinh đạt hiêu quả cao trong việc luyện. Người Phụ Trách Huấn Luyện cần tìm cho ra những điều tốt nơi ứng sinh để giúp cho họ phát huy, cả những điều họ có thể làm tốt hơn để giúp họ làm tốt hơn. Các câu hỏi cần được lắng nghe, cân nhắc, trân trọng, để giải đáp cho gọn ghẽ, dễ hiểu, dễ làm theo. Người Phụ Trách Huấn Luyện phải làm sao cho họ hiểu và họ làm được, chứ không nên cố mà tỏ ra mình biết nhiều, làm được nhiều. Ngược lại, phải che dấu bớt tài năng của mình. Tuyệt đối không “sáng tác” các kiểu làm, không huấn luyện cái mà Luật và Tổng Hiến Chương không đòi hỏi, vì như thế, sẽ chất chứa lên chương trình huấn luyện quá nhiều, quá nặng.

Cuối cùng xin mạnh dạn đề nghị mọi người nên nhìn nhận sự việc một cách lạc quan và quảng đại, chứ không vị Luật, vị Hiến Chương mà bỏ qua Kitô tính, Phan Sinh tính. Như thế, người Phụ Trách Huấn Luyện sẽ dễ dàng đồng hành với ứng sinh trong công cuộc Luyện và Huấn này.

 Phêrô Nguyễn Đức Tiến; sfo

 

Trở về mục lục >>
 

Bài 44: Các Tai Ương Tại Ai-Cập

(Xh 7,8-13,16)

Theo lệnh của Thiên Chúa ông Mô-sê đã đến gặp Pha-ra-ô xin cho dân It-ra-en được ra đi vào sa mạc dâng của lễ kính Đức Chúa. Nhưng Pha-ra-ô lòng chai dạ đá, chỉ trả lời bằng những sự đe doạ. Thế là một loạt các tai ương bắt đầu đổ xuống trên đất nước Ai-cập. Theo những truyền thống lâu đời thì chỉ có 7 tai ương (x. Tv 78,43-51; 105,26-36 và truyền thống Giavít). Người biên soạn bản văn cuối cùng đã thêm vào ba tai ương nữa lấy từ truyền thống tư-tế và sắp xếp thành ba loạt tai ương. Loạt tai ương I gồm có nước sông Nin hoá thành máu, ếch nhái và muỗi. Loạt tai ương II gồm có ruồi, ôn dịch và ung nhọt. Loạt tai ương III gồm có mưa đá, châu chấu và đêm tối. Tai ương thứ mười có tầm quan trọng đặc biệt, phải đặt riêng ra.

Mỗi loạt tai ương đều được trình bày giống nhau: trong tai ương đầu của mỗi loạt, Thiên Chúa bảo ông Mô-sê hãy ra bờ sông Nin đón gặp Pha-ra-ô để cảnh báo vua về nguy hiểm sắp xảy đến (7,15; 8,16; 9,13). Trong tai ương thứ hai Thiên Chúa sai ông Mô-sê tới cung điện Pha-ra-ô để cảnh báo vua (7,26; 9,1; 10,1).Trong tai ương thứ ba Thiên-Chúa bảo ông Mô-sê hãy hành động mà không cảnh báo Pha-ra-ô gì cả (8,12; 9,8; 10,21).

Các tai ương vừa là hình phạt cho Pha-ra-ô vì vua đã không để cho dân It-ra-en ra đi (theo truyền thống Giavit), vừa là những dấu chỉ về quyền năng của Thiên Chúa trước mắt dân ngoại (theo truyền thống Tư tế).

Tất cả chín tai ương đầu tiên có thể được giải thích do hoàn cảnh thiên nhiên của Ai-cập: nước sông Nin hoá ra như máu là do những hạt rong đỏ lấm tấm sinh sản rất nhiều trong mùa lụt tháng tám trong năm; tai ương ếch nhái vào tháng chín đã được nhắc tới vào thời thượng cổ; dịch ruồi, muỗi là chuyện thường xảy ra tại Ai-cập, như nhiều du khách ngày nay đều nhận thấy. Phép lạ là ở chỗ Thiên Chúa làm chủ mọi hiện tượng thiên nhiên và sắp xếp thế nào để chúng tạo nên một hoàn cảnh thuận lợi cho cuộc xuất hành của dân It-ra-en.

Lm. Norbert Nguyễn Văn Khanh, ofm


Trở về mục lục >>
 

Mẹ ! Mẹ Là Mẹ Con

Lạy Mẹ Maria,

Giáo Hội kính nhớ trọng thể ngày Mẹ Hồn Xác Lên Trời. Chúng con, những người con bé nhỏ, hèn mọn của Mẹ hướng lòng về Thiên Cung để kính nhớ, để thân thưa với Mẹ rằng: “Chúng con rất yêu Mẹ, chúng con luôn nhớ đến Mẹ.”

Lạy Mẹ kính yêu, chúng con xin Mẹ dạy cho chúng con biết yêu Chúa như Mẹ đã yêu. Vì chỉ có Mẹ mới yêu Chúa hơn hết mọi loài, chỉ có Mẹ mới hiểu được Chúa muốn chúng con làm gì…

Để cuộc đời của chúng con trở thành bài ca yêu thương, ca ngợi tình Chúa, cảm tạ tình Mẹ.

Để ngày nào đó, khi rời khỏi nơi cát bụi này, chúng con sẽ được Mẹ chờ đón nơi Cửa Thiên Quốc, sẽ được Mẹ bàu chữa trước Tòa Phán Xét, sẽ được Chúa thương xót thứ tha mọi tội lỗi. Và được hưởng phúc Bình An bên Chúa, bên Mẹ muôn đời.

Lạy Mẹ là Đấng Bàu Chữa cho kẻ có tội, lạy Mẹ Là Cửa Thiên Đàng, lạy Mẹ Hồn Xác Lên Trời, xin cầu cùng Chúa cho chúng con. Amen.

Maria

 

Trở về mục lục >>
 

Đức Maria Trong Tuyền Thống Thần Học PS

II. DÒNG ANH EM HÈN MỌN VỚI TÍN ĐIỀU ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI

C. THÀNH QUẢ CUỐI CÙNG

1. Thánh Antôn Pađôva (1195-1231)

Thánh Antôn Pađôva là vị tiến sĩ Phan Sinh đầu tiên đã dành một chỗ quan trọng cho Đức Trinh Nữ Maria trong các bài giảng của người. Người cũng đã sáng tác nhiều lời kinh, trong đó người cô đọng phần tinh hoa của tư tưởng mình. Trước hết, người nhìn Đức Maria trong tư cách là Mẹ Thiên Chúa, rồi từ đó rút ra các hậu quả đối với cá nhân Đức Mẹ và đối với loài người chúng ta.

Theo thánh nhân, vào ngày Đức Mẹ Lên trời, Đức Giêsu đã đội cho Mẹ Người triều thiên vinh quang thiên quốc, cũng như Mẹ Người đã bao bọc Người với triều thiên bằng xác thịt vào ngày Ngôi Lời kết duyên với nhân loại. Cung lòng của Đức Mẹ được ví như Hòm Bia không thể bị tách rời khỏi Bia Thánh, hay như Ngai Tòa không thể bị tách rời khỏi Đấng ngự trên ngai. Thánh nhân nói: "Đức Maria là "Bệ đặt dưới chân Chúa” (Tv 131,7). Hôm nay Chúa đã siêu thăng Đức Maria: Người "đã đưa Mẹ lên cao hơn các phẩm thiên thần". Những lời ấy ngụ ý là thân xác của Đức Maria đã được đưa về trời, vì thân xác ấy đã trở thành bệ đặt dưới chân Chúa. Cũng vậy, thánh vịnh có câu (131,8): "Lạy Chúa, xin đứng dậy, để cùng với hòm bia oai linh Chúa, ngự về chốn nghỉ ngơi". Chúa đứng dậy, nghĩa là Người về trời ngự bên hữu Cha Người. Hòm bia oai phong của Chúa cũng được nâng lên, bởi vì trong ngày này Đức Trinh Nữ Maria đã được đưa về cung điện thiên quốc".

Trong tư tưởng của vị Tiến sĩ Phúc Âm (doctor evangelicus), Đức Maria cũng đã trải qua sự chết rồi được sống lại như Đức Kitô. Quan điểm này sẽ được cả truyền thống của Dòng Anh Em Hèn Mọn đi theo. Đức Maria cũng chết như mọi người, không phải do hậu quả của một tội lỗi nào, nhưng là do hoàn cảnh bình thường nhân loại và do được kết hiệp mật thiết với Đức Kitô trong sự chết và trong sự sống lại. Trong thông điệp về Đức Mẹ lên trời, "Munificentissimus Deus" (1950), Đức Thánh Cha Piô XII, tuy không giải quyết vấn đề Đức Mẹ có chết hay không, nhưng có nhắc tới quan điểm của thánh Antôn: "Chính thánh nhân đã khẳng định: Cũng như Đức Giêsu Kitô đã chiến thắng sự chết, đã sống lại và lên ngự bên hữu Cha Người, cũng thế (ita pariter) Hòm Bia thánh thiện của Người đã sống lại (surrexit), khi Đức Trinh Nữ Mẹ Người, trong ngày này, được đưa về cung điện thiên quốc".

2. Thánh Bonaventura (1221-1274).

Vị Tiến sĩ sốt mến (doctor seraphicus) nhấn mạnh tới sự hiệp thông toàn vẹn của Đức Maria vào của lễ của Đức Giêsu và những hậu quả của sự hiệp thông ấy trong đó có việc linh hồn và xác Đức Mẹ lên trời. Trong thông điệp “Munificentissimus Deus”, ĐGH Piô XII đã viết: "Kinh Thánh cho chúng ta thấy rõ ràng Mẹ cao cả của Thiên Chúa kết hiệp một cách chặt chẽ với Con của Người và luôn luôn chia sẻ số phận của Người. Cho nên chúng ta không thể hình dung người đàn bà đã cưu mang Đức Kitô, sinh hạ, cho bú mớm, ẵm trên tay, ôm vào lòng, lại bị tách biệt khỏi Đức Kitô, sau cuộc sống ở trần gian, nếu không phải trong linh hồn, nhưng ít nhất trong thân xác” ( x. F.C.408 ; D.S.3903).

Rồi Đức Thánh Cha trích dẫn thánh Bonaventura, vì thánh nhân lý luận rằng nếu hiện thời chỉ linh hồn của Đức Maria được hiệp nhất với Đức Kitô mà thôi, thì đó chưa phải là sự hiệp nhất trọn vẹn. Sự hiệp nhất trọn vẹn phải xảy ra cả trong linh hồn và cả trong thể xác. Từ đó ta có thể kết luận rằng linh hồn và thân xác của Đức Maria đã được đem về trời để mãi mãi chia sẻ vinh quang của Đức Kitô, theo gợi ư của câu nói trong sách Diệu ca: "Kìa bà nào từ sa mạc đi lên, lòng đầy vui sướng, tựa mình vào người yêu của nàng" (Dc 8,5: trích dẫn theo bản Phổ thông).

3. Ubertin de Casale

Một tác phẩm nổi tiếng vào thế kỷ XIV là quyển "Cây sự sống chịu đóng đinh" (Arbor vitae crucifixae) do người Anh Em Hèn Mọn Ubertin de Casale sáng tác (1305). Tác giả miêu tả với tất cả tâm tình nồng nhiệt những niềm vui và những nỗi thống khổ qua đó Đức Maria được kết hiệp với Đức Giêsu, Con của Mẹ. Vinh quang mà Đức Giêsu thưởng cho Mẹ Người trên trời và quyền năng mà Đức Giêsu trao ban cho Bà phải khích lệ và mời gọi chúng ta tin tưởng phó thác cho Đức Mẹ.

4. Thánh Bernarđinô thành Siêna (1380-1444)

Tất cả những ý tưởng nêu trên đây đã được thánh Bernarđinô thành Siêna khai triển rộng rãi và phổ biến một cách hùng hồn qua các bài giảng. Vì thế người ta nghĩ rằng, cũng như Duns Scot là tiến sĩ của Đức Trinh Nữ Vô nhiễm, thì thánh Bernarđinô là tiến sĩ của Đức Trinh Nữ lên trời.

Đối với thánh Bernarđinô cũng như đối với tất cả con cái của thánh Phanxicô, đặc ân Đức Mẹ hồn và xác lên trời là một điều chắc chắn đến nỗi, để chứng minh đặc ân Vô nhiễm nguyên tội, họ dựa trên đặc ân kia như nền tảng vậy.

5. Những hoạt động của Dòng sau 1854

Khi Đức Giáo Hoàng Piô IX định tín Đức Mẹ là Đấng Vô nhiễm nguyên tội (1854), Dòng Anh Em Hèn Mọn thực ra vẫn chưa cảm thấy hài lòng, vì đặc ân kia liên kết chặt chẽ với đặc ân này, chưa được tuyên bố.

Năm 1863, người anh em Remigio Buselli cho xuất bản tại Firenze một tác phẩm về Đức Mẹ sống trên trời trong linh hồn và trong thân xác ("La Virgine Maria vivente in corpo ed anima in cielo "). Một sự kiện quan trọng là tại Công đồng Vaticanô I (1870), 13 nghị phụ thuộc Dòng Anh Em Hèn Mọn đã đệ lên Đức Thánh Cha một đơn thỉnh nguyện để xin Người định tín đặc ân Đức Mẹ lên trời. Đơn ấy đã được hơn 100 nghị phụ khác hưởng ứng và đồng kư.

Trước đó (năm 1869), người anh em Hyacinthe Maria Martinez, làm Giám mục tại La Habana, đã đệ một đơn thỉnh nguyện lên Đức Thánh Cha, trong đó ngài cô đọng lại các sự kiện và các chứng cớ thuận lợi cho việc định tín đặc ân này. Ngay tại Công Đồng, ngài đóng một vai trò rất quan trọng.

Vào cuối thế kỷ XIX, nhiều vị Giám Mục đã gởi đơn thỉnh nguyện lên Đức Giáo Hoàng Lêô XIII, trong số đó có nhiều Giám Mục thuộc Dòng Anh Em Hèn Mọn.

Sang thế kỷ XX, phong trào Thánh Mẫu học lại xuất hiện mạnh mẽ trong Giáo Hội từ năm 1925. Đặc biệt từ năm 1940, vấn đề Đức Mẹ lên trời lại được nêu lên hàng đầu. Dưới ảnh hưởng của cha C. Balic, Dòng Anh Em Hèn Mọn đã đứng ra tổ chức nhiều đại hội quốc tế Thánh mẫu để nghiên cứu đặc ân Đức Mẹ lên trời: năm 1948, tại Madrid (Tây ban Nha), năm 1949 tại Montréal (Canada), năm 1950 tại Le Puy en Velay (Pháp) và tại Rôma (Italia).

Nhóm làm việc do cha C. Balic năm 1946 thành lập (Commissio Mariana Franciscana), năm 1950 đã trở thành "Viện Hàn Lâm Quốc Tế Thánh Mẫu Học" (Academia Mariana Internationalis) và năm 1959 lại được nâng lên thành "Viện Hàn Lâm Quốc Tế Giáo Hoàng Thánh Mẫu Học" (Pontificia Academia Mariana Internationalis). (hết)

 Lm. Norbert Nguyễn Văn Khanh, ofm
 

Trở về mục lục >>
 

Một Chút Tình Thương Cho Người

Các cháu thân mến,

Chúng ta đang ở giữa mùa Hè, các cháu đang được nghỉ ngơi, ba mẹ không rầy la khi các cháu ngủ trể và dậy trễ. Thích quá phải không các cháu? Các cháu đã làm gì trong mấy ngày Hè qua? Có cháu nào đã được ba mẹ cho đi nghỉ hè ở xa không? Có vui không?

Tháng vừa qua, cô quá giang (tức là được theo) gia đình con gái cô, cùng hai đứa cháu ngoại đi Florida. Nơi có nhiều trò giải trí rất giá trị cho tuổi nhỏ các cháu. Cô nghĩ đa số các cháu đã được ba mẹ cho đến đó rồi, đúng không? Wow, rất nhiều trò hấp dẫn, nhất là vào Universal Studio hay Disney World. Khí hậu ở đó rất nóng, người ta đi chơi, đa số là gia đình, có cả cha mẹ và con cái, nghẹt cả những đường đi rộng lớn trong đó. Phải sắp hàng cả tiếng đồng hồ mới vào được một trò chơi. Trò giải trí nào cũng rất hay, nhiều thứ mới lạ, tất cả ba mẹ đều thương yêu con cái và muốn các con mình có dịp học hỏi như bạn bè cùng trang lứa. Các bé gái mặc những trang phục của mấy nhân vật trong những phim hoạt họa Waltdisney, rất dễ thương… Có đi như vậy, chúng ta mới thấy được thế giới này văn minh quá sức tưởng tượng của chúng ta. Những ngày như vậy, các tiệm ăn cũng nườm nượp người. Các món ăn theo ư mình chọn. Người ta bỏ vào thùng rác rất nhiều thức ăn dư thừa.

Các cháu thân mến của cô. Đi đến đó được, dĩ nhiên là điều rất tốt. Vì chỉ cần mấy ngày, các cháu đã học được rất nhiều việc mà từ trước tới giờ chúng ta xem phim, chỉ dùng sức tưởng tượng để nghĩ đến, bây giờ thấy ngay trước mắt. Ví dụ như động đất, gió lốc… và những trò chơi nhào lộn trên không, thích chí đến không thể nào nói được. Chúng ta quá đầy đủ như vậy, nghĩ lại anh chị em cùng tuổi với các cháu, ở những nước nghèo họ đang cần một bữa cơm no bụng, một chiếc áo lành lặn để không bị lạnh khi trời trở gió. Cần viên thuốc uống khi bị cơn bệnh hành cũng không có, tội nghiệp quá phải không các cháu? Không biết cô nhắc nhở như vậy có làm các cháu mất vui không?

Các cháu thương mến của cô. Hãy để vào đó một chút tình thương giữa con người và con người. San sớt cho anh chị em bất hạnh của chúng ta chút hạnh phúc mà Thiên Chúa đã ưu đãi chúng ta. Cô không nói là các cháu nhịn đi chơi, vì những gì các cháu được hưởng, cha mẹ của các cháu cũng phải cực khổ đi làm kiếm tiền các cháu mới có. Nhưng hãy nhịn bớt những xa xí không cần thiết cho họ. Chỉ cần cho đi một phần trăm những gì các cháu đang có và nghĩ đến họ thường xuyên và cầu nguyện cho họ mỗi ngày nghe các cháu. Các cháu biết không dù một chú chim nhỏ, một bông hoa dại, mọi vật trên thế giới này đều có cái đẹp, cái hay của nó cho con người ngắm hưởng; Huống chi con người, ai trong chúng ta cũng đều có sẵn một tấm lòng rất đẹp. Nếu các cháu biết cho đi với lòng yêu mến là các cháu đang được có dồi dào hơn trong cuộc sống rất đẹp của các cháu đấy.

Cô thương chúc các cháu những ngày hè còn lại, thật vui vẻ, mạnh khoẻ và ngoan. Cho cô kính lời thăm ông bà, cha mẹ các cháu nha.

Cô Thể Xuân

Trở về mục lục >>

 

 

Bài 9: Gia Đình;

Hạt Nhân và Nguồn Mạch của Thiện Ích Trong Xã Hội

1. Kinh Thánh: (Cv 9, 42-47) 42 Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng. 43 Mọi người đều kinh sợ vì các Tông Đồ làm nhiều điềm thiêng dấu lạ. 44 Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. 45 Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mọi người tuỳ theo nhu cầu. 46 Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền Thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. 47 Họ ca tụng Thiên Chúa và được toàn dân thương mến. Và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ.

2. Suy tư: Gia đình có những mối dây liên kết sinh động và hữu cơ với xã hội, bởi vì gia đình là nền tảng của xã hội và liên tục nuôi dưỡng nó qua vai trò phục vụ cho sự sống. Chính từ gia đình mà các công dân sinh ra, và chính trong gia đình mà lần đầu tiên họ được học những đức tính xã hội linh hoạt các nguyên tắc của cuộc sống và sự phát triển của chính xã hội. Vì thế, thay vì khép kín vào chính mình, gia đình, do bản tính và ơn gọi, cởi mở với các gia đình khác và với xã hội, và đảm nhận vai trò xã hội của mình.

3. Gia đình, một chủ thế xã hội: Quả vậy, gia đình là một cộng đoàn gồm những nhân vị mà cách thức riêng để hiện hữu và sống chung với nhau là hiệp thông: communio personnarum (hiệp thông của các nhân vị). Vì thế gia đình là ngôi trường đầu tiên và cơ bản của cuộc sống xã hội: là một cộng đoàn tình yêu, gia đình tìm thấy trong việc tự hiến lề luật hướng dẫn và làm cho tăng trưởng. Sự tự nhiên đã thúc đẩy người chồng và người vợ yêu mến lẫn nhau, là gương mẫu và quy phạm cho việc tự hiến cần được thực hiện trong mối tương quan giữa anh em và chị em và các thế hệ khác nhau đang chung sống trong gia đình. Sự hiệp thông và sự chia sẻ được sống mỗi ngày trong gia đình, khi vui cũng như lúc gặp khó khăn, là phương thức giáo dục cụ thể và có hiệu quả nhất cho việc tháp nhập tích cực, có trách nhiệm và có rất nhiều hoa trái của con cái vào chân trời rộng lớn của xã hội.

Mỗi người là một quà tặng cho anh em, chị em, cha mẹ và toàn thể gia đình. Cuộc sống của nó trở thành một quà tặng cho chính người đã ban cho nó sự sống và người ấy không thể không cảm thấy sự hiện diện, sự tham gia của nó vào trong cuộc sống của mình và sự đóng góp của nó vào sự thiện hảo chung và thiện hảo của cộng đoàn gia đình. Sự thật đó khá hiển nhiên trong sự đơn sơ và sâu sắc, dầu tính phức tạp và ngay cả bệnh lý có thể xảy ra do cơ cấu tâm lý của một vài người. Thiện ích chung của toàn thể xã hội ở nơi con người: như chúng ta đã nói, con người là "con đường của Hội Thánh”.

Chính kinh nghiệm hiệp thông và chia sẻ, vốn phải là đặc tính của cuộc sống gia đình mỗi ngày, là sự đóng góp đầu tiên và cơ bản cho xã hội. Mối tương quan giữa các thành viên của cộng đoàn gia đình được gợi hứng và được hướng dẫn bởi lề luật là "tình nhưng không". Bằng cách kính trọng và yêu quý phẩm giá riêng trong mỗi người và mọi người như nền tảng duy nhất của giá trị, tính nhưng không này mang hình thức của sự chấp nhận chân thành, gặp gỡ và trao đổi, sự sẵn sàng vô vị lợi, quảng đại phục vụ và liên đới sâu xa.

4. Ngôi trường đầu tiên của cuộc sống xã hội: Vì thế cổ võ một sự hiệp thông đích thực và trưởng thành giữa những người trong gia đình là ngôi trường đầu tiên và không thể thay thế được của cuộc sống xã hội, là một gương sáng và kích thích mở rộng mối tương quan của cộng đoàn với những đặc điểm như lòng kính trọng, công bình, trao đổi và tình yêu. Vì thế gia đình là cái nôi và phương thế hiệu quả nhất để nhân bản hoá và nhân cách hoá xã hội: chính gia đình góp phần cách độc đáo và sâu sắc vào việc xây dựng thế giới làm cho một cuộc sống thật sự nhân bản có thể có được, nhất là bằng cách bảo vệ và chuyển giao các đức tính và các "giá trị". Bởi vậy, khi đối diện với một xã hội có nguy cơ ngày càng mất nhân cách và trở nên vô danh, và vì thế vô nhân đạo và mất tính người, với những hậu quả tiêu cực là nhiều hình thức thoát ly thực tế -chẳng hạn như nghiện ngập, ma tuý và ngay cả khủng bố- gia đình sở hữu và vẫn tiếp tục toả lan những năng lực phi thường có khả năng lôi kéo con người ra khỏi sự vô danh, thức tỉnh con người chú ư đến phẩm giá nhân vị của mình, mặc cho con người một nhân tính sâu xa và tích cực đặt con người, với tính duy nhất và độc đáo của mình vào trong cơ cấu xã hội.

5. Các quyền của gia đình và quyền sống: Tính liên đới cũng cần được thực thi qua việc tham dự vào đời sống xã hội và chính trị. Vì thế, phục vụ cho Tin Mừng sự sống có nghĩa là gia đình, đặc biệt qua việc tham gia vào các hiệp hội gia đình, hành động để bảo đảm rằng luật lệ và thể chế của quốc gia không vi phạm quyền sống, từ lúc thụ thai cho đến cái chết tự nhiên, nhưng bảo vệ và cổ võ quyền ấy.

Lẽ dĩ nhiên Hiến Chương các quyền của gia đình cũng nhắm đến các gia đình: Mục tiêu của nó là làm cho các gia đình ý thức hơn nữa đến vai trò và vị trí không thể thay thế được của gia đình; nó muốn các gia đình liên kết với nhau để bảo vệ và thăng tiến các quyền gia đình; nó khuyến khích các gia đình chu toàn bổn phận thế nào để vai trò của gia đình được hiểu biết rõ ràng hơn và được nhìn nhận trong thế giới hôm nay.

6. Trao đổi:

a) Gia đình là một trường học của đời sống xã hội có nghĩa gì?

b) Đâu là vai trò của các gia đình trong việc tôn trọng các quyền gia đình và bảo vệ sự sống ngay từ lúc thụ thai?

(Trích tài liệu của Hội Đồng Giáo Hoàng về Gia Đình)

Lm. Irênê Nguyễn Thanh Minh, ofm

 

Trở về mục lục >>

 

Viết Cho Em

Em thân mến!

Khi mới lớn, có lần em hỏi tôi: "Chúa dựng nên người phụ nữ để làm gì?" Tôi đã không thể trả lời ngay vì câu hỏi này khó trả lời quá. Và tôi cũng đã hỏi lại em, Chúa dựng nên em để làm gì trong thể giới muôn mầu, muôn vẻ này? Em cũng cười trừ và lắc đầu. Hôm nay, ngồi bên nhau, trong quán nhỏ, bên cạnh giòng sông hiền hòa đang lặng lờ xuôi chảy. Em thì đã dày dạn với đời, tôi thì tóc đã pha sương. Em nhắc lại câu hỏi của hai mươi mấy năm trước và tự trả lời: "Chúa dựng nên người phụ nữ để chịu đau khổ!” Một câu ngắn gọn nhưng tôi thầm hiểu là nó chất chứa đầy uẩn khúc nát lòng.

Với giọng nói nhẹ nhàng, trầm lắng, em kể tôi nghe: "Ngày ấy, em yêu ‘một người’, nhưng cha mẹ lại dùng quyền lực đàn áp, buộc em phải lấy ‘một người khác’, người mà em không chút yêu thương. Ngày em lên xe hoa lòng dạ xót xa, trái tim tan nát, nước mắt chảy thành giòng. Ngày em lên xe hoa, bên đường có người lặng lẽ đứng trông theo; và em có cảm tưởng chiếc xe hoa ấy là cỗ quan tài…

Đã hai mươi mấy năm trôi qua, em giờ đây đã làm bà nội. Tôi cứ ngỡ mối tình ngây thơ ngày nào đã trôi đi theo năm tháng; Nhưng không, và hoàn toàn ngược lại. Người yêu năm nào của em vẫn lặng lẽ một mình giữa đời, vẫn giữ nguyên vẹn hình ảnh của em, vẫn tôn thờ mối tình trinh nguyên, vẫn âm thầm lo lắng, quan tâm đến đời sống của em bằng cách này, cách khác. Còn em, dù không làm gì có lỗi với chồng, luôn chu toàn bổn phận làm vợ, làm mẹ. Nhưng trong lòng, em hình ảnh người xưa vẫn luôn ngự trị. Em biết như vậy là không đúng! là có lỗi với chồng, nhưng kỳ thật, lý trí luôn đầu hàng trái tim. Người yêu của em ngày xưa hiền hòa, cần mẫn, chăm chỉ, luôn quan tâm, săn sóc cho em từng chút. Trong khi đó chồng em thì lại hời hợt, vô tâm, sáng say chiều xỉn, hai mươi mấy năm trôi qua, anh ta chưa một lần biết mở lời thăm hỏi khi em bệnh, chưa một lần chia sẻ những khó khăn trong gia đình, chưa một lần cùng em định hướng tương lai cho gia đình, cho con cái. Một mình em gánh gồng tất cả mọi chuyện trong ngoài. Một mình em bương chải giữa đời nuôi con khôn lớn. Bởi thế em cứ mãi so sánh, nhớ thương, và đau khổ… Giọng em nhẹ hều như làn gió thoảng nhưng lại đặc sệt với những nỗi khổ đau. Em cúi đầu, nước mắt chảy dài khi câu chuyện kết thúc. Bất chợt em ngước nhìn tôi và hỏi: "Nổi đau khổ này là lỗi tại ai? Tại em hay tại cha mẹ? Chúa dựng nên người phụ nữ để đau khổ đúng không chị?” Tôi bàng hoàng, lặng lẽ trước nỗi đau của em, và lúng túng với câu hỏi của em. Từ trước tới giờ, nhìn vào gia đình em, tôi cứ ngỡ là em rất hạnh phúc. Quả thật không ở trong chăn, không biết chăn có rận! Tôi nói gì để an ủi, để chia sẻ với em đây?

Em thân mến; Chuyện đã qua lâu rồi, tất cả đều đi vào dĩ vãng xa vời, đừng ngồi đấy mà trách cha mẹ, đừng nhìn lại những ngày đã qua, đừng so sánh chồng em với một ai khác. Hãy nhớ: Chồng, vợ là quà tặng của Thiên Chúa trao tặng cho những ai muốn bước vào đời sống hôn nhân. Thiên Chúa là Cha rất nhân hậu, Người yêu thương con cái, Người không ban tặng cho con cái những thứ hư xấu. Hãy tìm lại, hãy nhìn lại nhưng nét son nơi "món quà" mà Thiên Chúa đã ân ban, hãy cầu xin Chúa giúp em biết cách "mài dũa" lại nét son ấy.

Em à, thay vì trả lời câu hỏi: "Thiên Chúa dựng nên người phụ nữ để làm gì?" Tôi mời em cùng suy tư câu nói: "Không có mặt trời, hoa hồng sẽ không nở. Không có phụ nữ, sẽ không có người mẹ. Không có tình yêu sẽ không có những tâm hồn thánh thiện." Em đã là nụ hồng, em đã là một người mẹ, và em sẽ là một tâm hồn thánh thiện dưới ánh mặt trời này nhé em!"

Mai Khôi

Trở về mục lục >>
 

 
 

Hợp Nhất và Hòa Hợp

- Dường như hội đoàn nào cũng có những lúc thiếu hòa hợp; dù hội đoàn nào cũng kêu gọi các thành viên phải nỗ lực xây dựng sự hợp nhất và tình huynh đệ… Tại sao vậy anh?

- Tại sao ư? Thú thật, tôi cũng không biết tại sao.

- Thế thì hiểu sao cho đúng sự hòa hợp và hợp nhất trong cộng đoàn?

- Hãy mượn hình ảnh của một Ca Khúc. Trong mỗi Ca Khúc luôn cần có 3 yếu tố để tạo nên nó là: Âm Thanh, Nhịp Điệu, và Lời Nhạc. Âm Thanh như là tình thương, sự cảm thông và tha thứ, nó được dùng để xoa dịu lòng người. Nhịp Điệu như là nội qui, nguyên tắc, luật lệ tao nên sự mực thước, trật tự, ổn định. Và Lời Nhạc chính là sự tâm tình, lời đối thoại chia sẻ, khuyên bảo để gia tăng sự cảm thông và tha thứ. Nói cách khác là những nốt nhạc cần có thêm những ca từ để dòng nhạc dễ cảm nhận hơn, và phong phú hơn.

- Có nghĩa là…

- Ca Khúc là hình ảnh của sự Hợp Nhất trong một cộng đoàn.

- Còn sự Hòa Hợp thì sao?

- À; Nếu một nhạc phẩm được trình diễn Đơn Ca hay Độc Tấu cũng có cái hay của riêng nó. Nhưng cũng nhạc phẩm ấy mà được trình diễn Hợp Ca trong một ban nhạc Hợp Xướng; hay được Hòa Tấu trong một dàn nhạc Giao Hưởng thì nó càng phong phú biết bao!

- Vâng…

- Thật vậy, khi ca hát chung hay hòa nhạc chung, nếu mỗi người tự hát hay tự diễn theo ý riêng mình thì chuyện gì sẽ xảy ra? Trái lại, để có một màn trình diễn độc đáo thì mỗi người vừa đóng góp “cái phần riêng" của mình, nhưng đồng thời phải tỉnh táo để lắng nghe, để nương nhau, để chung nhau, để cùng nhau hòa Ca hay Hòa Nhạc đồng bộ với nhau… ấy là hình ảnh của sự Hòa Hợp đấy thưa bạn.

Phan Antôn

THƯ CHO ÁO NÂU

Giọt Còn, Giọt Rụng

Áo Nâu, Anh thân yêu

Chiều nay mưa rơi nặng hạt khiến cho những cành hoa bằng lăng trước nhà gãy tả tơi. Nỗi buồn xâm chiếm tâm hồn em. Có phải vì những cành hoa gãy? Hay vì lòng em cũng sắp gãy?

Bây giờ thì mưa đã tạnh, nhưng trên lá trên cành, những hạt mưa còn đọng lại, những hạt khác nhỏ xuống sân, hạt còn, hạt rụng. Em tủi thân thật. Đời người phụ nữ làm vợ làm mẹ sao mà lắm long đong! Nước mắt tràn mi, chảy thành giòng xuống gò má. Vì khổ đau hay vì hạnh phúc. Em thật không thể phân biệt được giọt nào là giọt đau khổ, và giọt nào là giọt hạnh phúc!

Hằng ngày em phải chịu (hay được gánh chịu) hàng chục hay hàng trăm cái nhẫn nhục, nhẫn nhục đối với gia đình, với tha nhân, nhất là với chính bản thân em.

Trong mọi chịu đựng, em gẫm nhấm những lời dạy của Anh, chưa hẳn đã nhuần nhuyễn, nhưng em phải cố gắng, vì hiểu ra rằng đau khổ nào cũng sẽ được xoa dịu bởi thời gian, và tác nhân của đau khổ cũng có ngày tàn lụi. Do đó, Ngày mai của em chắc chắn sẽ hơn ngày hôm nay -phải không Anh?

Ngoài sân, vẫn tiếng tí tách của những giọt mưa đang rụng, nhưng giờ này, trong trí em, có lẽ Âm Thanh tưởng tượng nhiều hơn Âm Thanh thực vì em nghe toàn là những nốt nhạc yêu đương, ngọt ngào, và lòng em lại đong đầy cảm xúc. Em nghĩ rằng một giọt rụng chưa hẳn là một giọt rơi, một giọt rơi chưa hẳn là một giọt mất, vì giọt nào chảy đi, giọt nào ngấm vào tưới mát cho cây!

Tiếng tí tách ấy và hạt rơi hạt còn ấy nhắc cho em một điều là đánh giá mọi việc cần có cái nhìn tích cực, lạc quan, để không bao giờ đánh giá anh em bằng thành kiến. Cha Thánh Phanxicô có phải là người con bất hiếu? Thánh Clara, và em gái là Anê, -Thánh Bốn Mạng của em- có phải là những người con bất hiếu bất tuân? Nếu nói "có" thì cũng có phần đúng, mà nếu nói "không" thì cũng có phần đúng; Nhưng đúng hay không đúng, thì tùy góc nhìn, chứ không hẳn là tùy vào sự kiện, -phải không Anh?

Vậy khi anh chị em gây khó chịu cho em, khi anh chị em làm những việc mà em nghĩ một con người có nhân bản không được làm, thì em cũng phải dành một khoảng trống cho họ đứng trong lòng và trong trí óc phán đoán của em. Hơn thế, cũng như Cha Thánh Tổ Phụ luôn tìm kiếm cho mình cơ hội để thể hiện tính khiêm nhường; em hàm ân họ.

Anh ạ, Em đau lòng biết bao khi có người biến anh chị em mình thành những kẻ bất khoan dung. Khi được Anh yêu thương dạy bảo, em không muốn mình là người khó gần, dễ ghét. Em không muốn là nguyên nhân đau khổ cho người khác. Anh ơi! Em phải làm gì? Giúp em Anh nhé.

Viết riêng cho một người anh.

Kim Gương

Thư Gởi Chị Clara

Chị Clara quý mến!

Chị em chúng mình đã cùng chung bước theo Linh Đạo của anh Phanxicô từ lâu, nhưng em chưa một lần trò chuyện với chị. Hôm nay, 11/8 Giáo Hội nhắc nhở em kính nhớ chị.

Chị biết không, mỗi khi nhớ về chị, việc đầu tiên là em hình dung ra chị là người rất xinh đẹp. Trong gia đình, chị là cành vàng, lá ngọc nhưng lại ngoan hiền, dịu dàng, thùy mỵ, trầm lặng, kín đáo. Với xã hội, chị là một tiểu thư khuê các thuộc hàng danh gía vọng tộc. Trước con mắt của trần gian, chị là người tài sắc vẹn toàn và có tất cả những gì mà bao người con gái khác mơ ước: Xinh đẹp, quyền quư, cao sang, sung sướng, hạnh phúc nhất... Vậy mà chị đã không màng, không hề để những phù phiếm ấy dính bén. Chị từ bỏ cách dễ dàng, từ bỏ tất cả để chọn Chúa, để được yêu Chúa, để được Chúa yêu, để được Chúa làm gia nghiệp. Khi từ bỏ, chị đã làm người thân đau lòng, tức giận; người ngoài cười chê, chỉ trích, chị mặc kệ, chị chỉ biết yêu Chúa, lắng nghe lời Chúa và thực thi lời Chúa, chị đã thể hiện tình yêu của mình bằng một đời dâng hiến trọn vẹn, và chị đã đạt được những gì mà chị mong muốn.

Chị ơi! Chị thật khôn ngoan, can đảm và mạnh mẽ phi thường. Chị đã biết từ bỏ những gì phải từ bỏ, và chọn những gì nên chọn. Chị đã làm được những việc đẹp ngời giữa trần gian và trước mặt Chúa. Ngày nay trên Thiên Cung, chị l