|
Trong Số Này:
|
|
|
Nghĩ Về Giới Trẻ
Thưa quí anh chị,
Tuổi trẻ là "tuổi vàng son" của một đời người, là đặc ân của Chúa tặng ban, là sức mạnh, là trụ cột, là niềm tin yêu, là niềm hy vọng của cả nhân loại.
Nếu những người trẻ có kiến thức, được rèn luyện trong nền tảng đạo đức Kitô giáo, được bước đi trong Ánh Sáng Phúc Âm, thì người trẻ sẽ là những tài công khôn ngoan, tài đức, can đảm, mạnh mẽ, vững tay lái khi vượt qua những phong ba bão táp của cuộc đời, chung tay đưa con thuyền giáo hội và nhân loại cùng về bến bờ hạnh phúc… Thế nhưng, nhìn vào thực trạng sống đạo của người trẻ trong giáo hội hôm nay có nhiều điều làm chúng ta phải trăn trở…
Ngày xưa, người trẻ có tinh thần trách nhiệm, ý thức cao, nhiều mơ ước, luôn cầu toàn, biết phục thiện, luôn nỗ lực trong hiện tại để có một tương lai tươi sáng vững vàng. Khao khát được dấn thân với bầu nhiệt huyết đầy tràn, sẵn sàng hy sinh tất cả để mưu cầu hạnh phúc cho tha nhân.
Ngày nay, đạo đức đang trên đà tuột dốc, nhiều bạn trẻ đã hoàn toàn loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống để được tự do, để không bị những lề luật hay kỹ cương gò bó. Trong nội tâm của người trẻ không có sự hiện diện của Thiên Chúa làm cho tình yêu thương chỉ còn là ngọn đèn le lói trong tâm hồn, tình người như một bệnh nhân đang hấp hối dần dần biến đi giữa lòng đời. Vật chất thì như một ông vua đầy quyền lực đang ung dung ngạo nghễ đi vào cuộc sống người trẻ. Người trẻ thì cúi đầu tôn thờ vật chất và vội vàng hưởng thụ những gì do vật chất mang lại mà không cần nghĩ tới ngày mai. Nhiều bạn trẻ đã dại dột rời bỏ mái trường thật sớm và bình thản từ bỏ mái ấm gia đình mà không màng đến những nỗi đau đớn, những lo toan, và những giòng nước mắt của cha mẹ. Có những người trẻ quay lưng với giáo hội, quên họ đạo, quên cộng đoàn, không buồn đặt chân đến nhà thờ. Và còn có những người trẻ đã tự kết liễu đời mình cách thê thảm nữa…
Chúng ta đã một thời làm người trẻ, chúng ta đã biết rằng: người trẻ là người hữu dụng cho giáo hội, cho cả nhân loại. Là người luôn biết ngẩn cao đầu trong mọi tình huống, dám mặc cả với giòng đời, dám thử thách với mọi gian nan nhưng đồng thời cũng rất hấp tấp, vội vàng, dễ sa ngã, dễ bị bạc tiền huỷ diệt mọi đức tính, dễ xiêu lòng trước sự lã lơi mời gọi của vật chất, dễ buông mình theo những ham muốn của bản thân…
Với tình trạng sống đạo của giới trẻ ngày nay, chúng ta cần phải quan tâm, yêu mến, cảm thông, và cầu nguyện cho họ nhiều hơn nữa. Chúng ta không thể để những đặc ân của Chúa tặng ban cho nhân loại bị rơi vào tay ma quỷ, không để người trẻ phung phí tuổi xuân vào những vô bổ. Hãy cầu nguyện cho giới trẻ luôn yêu mến Thánh Kinh và Thánh Thể. Vâng! Thánh Kinh là Đèn Soi, Thánh Thể là Thần Lương. Được nuôi dưỡng bằng Lời Thánh và Mình Thánh thì giới trẻ sẽ lớn lên trong ân sủng của Chúa Kitô, tình yêu của Chúa Cha, và sự thông hiệp của Chúa Thánh Thần để bước đi cách hiên ngang trong Đức Tin, kiên vững trong Đức Cậy, và tha thiết ấp ủ trong Đức Mến. Hãy tìm mọi cách để giúp cho giới trẻ ư thức hơn về Thiên Chúa và những chân giá trị của giáo hội, xã hội, gia đình và bản thân của người trẻ. Giúp cho giới trẻ tìm lại mẫu mực sống từ vị Thầy thánh thiện khả kính là Đức Kitô và cùng với Người hình thành một thế giới biết tôn thờ Thiên Chúa và yêu mến tha nhân. Giúp giới trẻ biết tìm đến Mẹ Maria và biết bắt chước Mẹ luôn can đảm khi dấn thân và khi nói tiếng xin vâng với Thiên Chúa, biết sẵn sàng vào đời với sứ mệnh rao giảng Tin Mừng trong tinh thần khiêm nhu phó thác như Mẹ.
Đại Hội Giới Trẻ Công Giáo Thế Giới tại Sydney đã cận kề; giáo hội muốn các bạn trẻ cùng thắp lên ngọn nến tin yêu trong lòng mình bằng Ánh Lửa Lời Chúa và hy vọng ngọn lửa tin yêu ấy sẽ được bừng cháy mãi để tâm hồn người trẻ luôn cháy bỏng tinh thần khát khao phục vụ của Chúa Thánh Thần. Xin quí anh chị hãy cầu nguyện thật nhiều cho đại hội và cho những người trẻ đang tìm gặp Đức Kitô để lãnh nhận Thánh Thần của Người.
BBT
|

Trở về mục lục >>
|
|
|
|
Thiên Chúa Mạc Khải Cho Những Người Bé Mọn
(Mátthêu 11,25-30 – CN XIV - A; Thánh Tâm)
25 Vào lúc ấy, Đức Giê-su cất tiếng nói: "Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin
ngợi khen
Cha, vì Cha đã giấu không cho
bậc khôn ngoan thông thái biết
những điều này, nhưng lại mặc khải cho
những người bé mọn. 26Vâng, lạy Cha, vì đó là
điều đẹp ý Cha. 27"Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai
biết
rõ người Con, trừ Chúa Cha; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha,
trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mạc khải cho. 28"Tất cả những ai đang vất vả
mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. 29Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng
hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng.
30Vì
ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng."
1.- Ngữ cảnh
Vị Tẩy Giả đã sai môn đệ đến hỏi Đức Giêsu: "Thầy có đúng là Đấng phải đến không?” (Mt 11,3). Các đối thủ của Đức Giêsu thì đã tìm cách hạ giá Người (x. 11,18-19). Còn các thành miền Galilê thì đã không đón nhận sứ điệp của Người (x. 11,21-24). Vậy Người là ai? Tại sao lại phải tuyệt đối lắng nghe Người? Do đâu mà Người có thể đòi buộc như thế?
Bản văn chúng ta sắp tìm hiểu sẽ cung cấp câu trả lời. Đức Giêsu xác định lập trường của Người bằng những khẳng định hết sức đậm đặc và cũng vô cùng căn bản.
2.- Bố cục
Bản văn này có thể chia thành ba phần:
1) Đức Giêsu hân hoan dâng lời ngợi khen Chúa Cha (11,25-26);
2) Tương quan của Đức Giêsu với Thiên Chúa và bổn phận của Người đối với loài người (11,27);
3) Đức Giêsu mời gọi loài người lắng nghe sứ điệp của Người (11,28-30).
3.- Vài điểm chú giải
- Lạy Cha (25): Trong Tin Mừng Mt, đây là lần đầu tiên Đức Giêsu thưa gửi với Thiên Chúa bằng danh xưng "Cha", sau khi đã nhiều lần khuyến khích các môn đệ làm như thế (5,16.45.48; 6,1.4.8.14.15…). Lời thưa này giống như câu đáp cho lời giới thiệu “Đây là Con yêu dấu của Ta" (3,17) mà Đức Giêsu đã nhận khi chịu phép rửa và chính Người sắp nhắc lại lúc này (x. 11,27).
- ngợi khen (25): Động từ Hy-lạp exomologoumai (praise) luôn mang những sắc thái ca ngợi chúc tụng, tôn kính, biết ơn, và hân hoan.
- bậc khôn ngoan thông thái… những người bé mọn (25): Trong ngữ cảnh Mt, "những bậc khôn ngoan thông thái" là các luật sĩ và Pharisêu, còn "những người bé mọn" (theo nghĩa chữ là "các em bé") là đám đông dân chúng, các môn đệ, những đám thợ thuyền, những kẻ tội lỗi.
- những điều này (25): Đức Giêsu không nói rõ, nhưng dựa vào ngữ cảnh, có thể cho rằng "những điều này" chính là sứ mạng của Đức Giêsu, tức là mầu nhiệm bản thân Người và các hoạt động của Người.
- điều đẹp ư Cha (26): Đây là ý muốn của Chúa Cha. Ý muốn này chính là kế hoạch cứu độ.
- biết (27): Động từ Hy-lạp epigignôskein (know) dịch động từ Híp-ri yada diễn tả một quan hệ thâm sâu, một sự hiệp thông giữa hai bên; động từ này đồng nghĩa với “yêu mến".
- trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mạc khải cho (27): Sự hiệp thông giữa Đức Giêsu và Chúa Cha không phải là một vòng tròn khép kín, nhưng mở ra với loài người, vì họ cũng được phép gọi Thiên Chúa là Cha (x. Mt 5,45-48).
- mang gánh nặng nề (28): Ở 23,4, Đức Giêsu trách người Pharisêu đã chất những "gánh" nặng lên vai người ta. Đây là gánh nặng vác không nổi gồm những truyền thống vị luật của các kinh sư, chứ không phải là các thử thách và vất vả của cuộc đời, hay gánh nặng tội lỗi... Truyền thống này cũng dùng công thức "mang ách": ách của Nước Thiên Chúa, ách Luật Môsê, ách các điều buộc…
- hiền hậu và khiêm nhường (29): Hai từ ngữ này có ý nghĩa tương tự. Đây là Mối Phúc thứ hai. Đức Giêsu lại tự liên kết với những con người sầu khổ của Mối Phúc thứ ba.
- ách tôi êm ái (30): Đức Giêsu cũng đề nghị “ách” của Người, tức là các huấn lệnh của Người. Người không khẳng định rằng các huấn lệnh này ít quan trọng và ít đòi buộc hơn các điều luật của các kinh sư; trái lại Người đã cho thấy là Người đưa chúng đến để hoàn tất Luật cũ, chỉ có điều là con đường Người theo không có chuyện luật lệ chi li giáo điều phức tạp nặng nề của các kinh sư và Pharisêu. Nếu "ách" của Người "êm ái" là vì nó phát xuất từ toàn bộ Tin Mừng, tức là từ những tương quan mới mà Thiên Chúa cứu độ đã thiết lập với loài người.
4.- Ý nghĩa của bản văn
* Đức Giêsu hân hoan dâng lời ngợi khen Chúa Cha (25-26)
Đức Giêsu đã ngỏ lời với Chúa Cha trong một lời cầu nguyện tạ ơn và chúc tụng. Người gọi Thiên Chúa là Cha và Chúa Tể trời đất. Người đã mạc khải cho thấy là Cha, vị Thiên Chúa mà lâu nay người ta chỉ biết là Đấng Tạo Hóa và Chúa Tể toàn thế giới. Thiên Chúa là Đấng mà Đức Giêsu nhận biết là Cha, nhờ tương quan con cái mà Người có với Thiên Chúa. Do ý muốn của Thiên Chúa mà sứ điệp của Đức Giêsu được đón nhận cách khác nhau: những bậc khôn ngoan thông thái thì không hiểu gì, còn những người bé mọn thì hiểu. Phải chăng sứ điệp của Người chỉ được dành cho những em bé hoặc những người đã lớn tuổi mà vẫn còn ấu trĩ và chưa chín chắn? Phải chăng Ki-tô giáo đi ngược lại với kiến thức và khoa học và khả năng tự quyết của con người? Phải chăng Ki-tô giáo chỉ phù hợp với tình trạng thiếu khả năng tự cáng đáng bản thân và chỉ hỗ trợ tình trạng lệ thuộc trong cách xử sự? Thật ra, với những con người nghĩ rằng mình hiểu biết mọi sự, Đức Giêsu chẳng có gì để nói với họ cả. Người không thể mạc khải cho họ biết Thiên Chúa là Cha và Chúa tể, bởi vì họ không thể mà cũng không cần Thiên Chúa. Con người cứ việc tận dụng trí thông minh và tất cả sức lực, và hành động với tự do và trách nhiệm, nhưng cần nhận biết những giới hạn của mình. Nếu chúng ta lương thiện và biết nhìn nhận hoàn cảnh thực sự của mình, chúng ta đang mở ra đón nhận mạc khải của Đức Giêsu. Những người có tinh thần nghèo khó (5,3) là những người bé mọn. Họ sống lệ thuộc Thiên Chúa và qui chiếu về Người, họ nhận biết Người là Chúa tể trời đất và vui hưởng mạc khải bởi vì họ biết ký thác bản thân cho tình yêu và sự hướng dẫn của Thiên Chúa.
* Tương quan của Đức Giêsu với Thiên Chúa và bổn phận của Người đối với loài người (27)
Trung tâm của bản văn là những khẳng định của Đức Giêsu về tương quan của Người với Thiên Chúa. Giữa Người và Thiên Chúa có một quan hệ duy nhất Cha-Con: Thiên Chúa là Cha của Đức Giêsu và Đức Giêsu là Con của Thiên Chúa. Chỉ duy có Thiên Chúa, trong tư cách là Cha, mới biết Đức Giêsu là ai, và chỉ duy Đức Giêsu, trong tư cách là Con, mới biết Thiên Chúa là ai. Hai Đấng hiểu biết lẫn nhau do có sự hiệp thông sâu xa và chan hòa sức sống. Những con người đang phê phán Đức Giêsu với tất cả sự trịch thượng và muốn loại trừ Người, tưởng biết rõ Người, nhưng thật ra chẳng biết gì về Người cả. Chúa Cha đã giao phó tất cả, mọi quyền bính và uy quyền trên con người, cho Đức Giêsu. Duy mình Đức Giêsu có thể mạc khải Chúa Cha, giúp người ta thực sự biết Chúa Cha. Vị trí này của Người là do tương quan của Người với Chúa Cha: vì chỉ một mình Người biết Chúa Cha, do thực tại thâm sâu của Người là Con, thì cũng chỉ một mình Người có thể mạc khải Chúa Cha trong thực tại thâm sâu của Người là Cha. Do đó, loài người không thể tránh khỏi đối diện với ư muốn của Thiên Chúa, khi quan hệ với Đức Giêsu.
* Đức Giêsu mời gọi loài người lắng nghe sứ điệp của Người (28-30)
Đức Giêsu mời gọi tất cả những ai mệt mỏi chán chường và vất vả với những gánh nặng hãy đến với Người. Người ngỏ lời trực tiếp với những người đang nghe Người nói. Họ đang phải “gánh” 613 điều luật buộc mà các kinh sư đã bày ra khi giải thích Cựu Ước (23,4) và họ đang vất vưởng như đàn chiên không có người chăn dắt (x. 9,36). Người hứa ban cho họ được nghỉ ngơi và bồi dưỡng. Phải chăng chúng ta ngạc nhiên và thất vọng vì Người cũng mời chúng ta nhận lấy ách của Người? Từ quan điểm của Đức Giêsu, con người không "tự do" theo kiểu hoàn toàn là mình, không mắc bất cứ ràng buộc nào. Trong tư cách là tạo vật của Thiên Chúa, do chính bản tính của mình, con người luôn ở trong thế qui chiếu về với Thiên Chúa. Hỏi về sự tự do đích thực đúng ra là hỏi về mối dây ràng buộc đích thực. Chỉ khi chấp nhận được ràng buộc với vị Chúa tể đích thực, người ta mới được tự do thật, thoát khỏi ràng buộc với mọi chủ nhân khác. Vì thật sự biết Thiên Chúa nhờ hiệp thông sâu xa với Thiên Chúa, Đức Giêsu có thể chỉ cho chúng ta thấy Thiên Chúa không phải cách méo mó giới hạn, nhưng trong thực tại đúng đắn của Thiên Chúa. Và Người ra sức dẫn đưa chúng ta về với Chúa Cha, đồng thời khuyến khích chúng ta tin tưởng tuyệt đối nơi Người và ký thác trọn vẹn nơi Người. Nhận lấy ách của Người chính là đón nhận tất cả sứ điệp của Người và sống như Người vẫn sống, đó là hết lòng yêu mến Chúa Cha và dấn thân phục vụ loài người.
+ Kết luận
Muốn học được sự khôn ngoan của Nước Trời, thì phải sống nghèo cùng với Đức Giêsu. Điều gây vấp phạm, chính là sự mạc khải của Đức Giêsu về bản thân Người: quyền năng được tỏ bày trong sự yếu đuối…
5.- Gợi ý suy niệm
1. Những kẻ phê phán Đức Giêsu cách trịch thượng và muốn loại trừ Người, tưởng là đã biết Đức Giêsu! Thật ra, chỉ có Thiên Chúa mới biết Đức Giêsu trong tư cách là Con, trong sự qui hướng hoàn toàn về Chúa Cha trong tình yêu trọn vẹn.
2. Đọc bản văn này trong liên hệ với đoạn văn cuối cùng của Tin Mừng Mt (28,16-20), chúng ta sẽ thấy tất cả tầm mức sâu xa của các lời khẳng định của Đức Giêsu. Sau khi sống lại, Người chính là Đấng đã được Chúa Cha ban cho toàn quyền trên trời dưới đất. Chính Người hiện diện bên các môn đệ “mọi ngày cho đến tận thế” để nâng đỡ các ông trong nỗ lực chu toàn sứ mạng.
3. Hans Urs von Balthasar, một nhà thần học Thụy Sĩ, đã nói đến một thứ “thần học bàn quì": chúng ta chỉ thật sự hiểu biết về Thiên Chúa không phải nhờ cứ khăng khăng dùng trí tuệ mà tìm tòi suy luận, nhưng nhờ biết quì xuống nhận biết quyền năng của Người trên chúng ta. Thánh Anselmô cũng nói: "Tôi tin để tôi có thể hiểu được Thiên Chúa".
4. Thiên Chúa đã ban toàn quyền cho Đức Giêsu; do đó, trong khi hành động, loài người luôn phải đặt mình đối diện với ư muốn của Thiên Chúa về định mệnh của mình. Muốn cuộc đời mình đi đúng hướng, loài người phải quan tâm đến ư muốn này.
5. Chúng ta sẽ cảm thấy sứ điệp của Đức Giêsu về Chúa Cha và về ý muốn của Chúa Cha trở nên như một "cái ách", khi các ước muốn, các tâm trạng và các ý tưởng của chúng ta đi ngược lại với sứ điệp ấy. Như thánh Âu-tinh đã nói: "Trái tim chúng con vẫn còn bồn chồn bất an, cho đến khi nó được nghỉ yên trong Chúa", chúng ta chỉ được yên hàn, thanh thản, khi sống trong tình hiệp thông với Thiên Chúa.
Lm. F.X. Vũ Phan Long, ofm
|
|

Trở về mục lục >>
|
|
|
|
Linh Đạo Phan Sinh
Tài Liệu Tham Khảo Dành Cho Người Có Trách Vụ
Bài trước, chúng ta phân tích về: Trách nhiệm của Người Phục vụ gồm 2 phần: (1) Về Tinh Thần, (2) Về trách nhiệm.
Hôm nay chúng tôi xin chia sẻ một vài suy nghĩ riêng về những từ ngữ cần làm nổi bật trong bài trước, hay nói cách khác, ta đi sâu hơn một chút:
a. Một sự phục vụ huynh đệ (THC 31.2 a): Người có trách nhiệm (hay trách vụ) phục vụ huynh đệ đoàn với tư cách là người anh em, không chấp nê, không bắt bẻ, không ép buộc. Thực tế phải nhìn nhận các thành viên của hội đồng đa phần đã thể hiện được tiêu chí này. Tuy nhiên cũng phải nhìn nhận rằng còn có lúc ta chưa thực sự làm việc với tinh thần anh em, mà còn mang nặng tính chỉ huy. Có những câu nói đại loại như: "Theo nguyên tắc thì… Anh chỉ có quyền…Tôi có quyền… Anh/chị cứ làm như vậy cho tôi… Tôi theo nguyên tắc hành chánh… Anh phải… Tội quy vào trưởng…" Những kiểu nói như thế biểu lộ tâm tính một ‘người xa lạ’ hơn là một ‘người anh em’. Người anh em thì cố mà dùng tình cảm để tìm nguyên nhân, và tự hỏi "tại sao anh/chị ấy lại như thế? Mình có thể làm gì để phục vụ tốt hơn và thông cảm với anh/chị ấy hơn? Tâm tư của anh/chị ấy có những khúc mắc gì mà mình chưa biết?… Rất nhiều điều cho ta suy nghĩ trước khi “xét lỗi” anh chị em. Rồi đến với anh/chị ấy bằng câu hỏi: "tôi hiểu anh/chị, tôi có thể làm gì để phục vụ tốt hơn? Xin cầu nguyện cho tôi đủ sáng suốt và nhiệt thành trong công việc phục vụ..." đại loại như thế.
b. Quyết tâm cảm nhận mình luôn sẵn sàng và có trách nhiệm… (THC 31.2b). Cảm nhận là công việc của con tim, không phải riêng của khối óc. Tôi luyện cho bản thân thế nào đó, để ngay trong tâm tư của mình luôn sẵn sàng phục vụ, canh cánh bên lòng (con tim) là mình phải (có trách nhiệm) khi phục vụ anh em, vì trước mặt Chủ Toạ Tu Nghị, trước mặt Chúa và trước mặt Cha Thánh, mình đã nhận trách vụ. Tập huấn thế nào đó, để mình luôn sẵn sàng thi hành sứ vụ của mình, trong trách vụ mình lãnh nhận. Như thế, việc cần thiết nhất là cố gắng học tập đức Khéo Liệu, để biết cách và khôn khéo sắp xếp thời gian, công việc, để hoàn thành trách nhiệm của mình.
c. Có cái nhìn bao quát và quảng đại, cởi mở cho việc đối thoại: (THC 31.3a) Cái nhìn bao quát để tránh tình trạng cục bộ hoặc thành kiến. Có cái nhìn bao quát thì nhìn từ mọi phía không bỏ sót một góc nhìn nào, nhìn từ nhiều phía, nghe từ nhiều phía, quảng đại là nhìn bằng con mắt bao dung, nghe bằng con tim rộng lượng (quảng đại). Từ cái nhìn ấy, mới nhận ra (nhìn-nhận) được điều mình cần tìm hiểu, để sau đó có kết luận, dẫn đến việc đối thoại một cách cởi mở và khoan dung.
d. Sẵn sàng cho và nhận sự giúp đỡ và cộng tác… (THC 31.3b) Cho sự giúp đỡ tức là giúp đỡ có vẻ dễ hơn. Nếu mình không giúp đỡ, thì cũng có lúc mình không thiệt thòi nhiều, mà anh/em vẫn có cơ hội thăng tiến, ít là quen "tự đứng trên đôi chân của mình". (Xin đừng lầm lẫn với từ chối giúp đỡ vì thiếu tình huynh đệ). Trái lại nếu mình không sẵn sàng nhận sự giúp đỡ, thì thật là thiệt thòi mọi đàng. Hãy tưởng tượng câu chuyện phiếm trên Thiên Quốc tóm lược như sau: Có người bị nạn giữa đại dương, Chúa rất thương, nên gởi đến nào là phao, nào là chiếc thuyền con, nào là tàu thuỷ, nhưng người ấy vẫn từ chối không chịu bám vào để được cứu. Thế mà khi anh ta chết, vẫn khiếu nài với Chúa! Có nghĩa là do sự an bài của Chúa, cơ hội luôn đến cho ta (nhỏ, trung bình, hay lớn) mà ta không nắm bắt thì chỉ có chết. Trong trường hợp phục vụ, nếu không sẵn sàng nhận sự giúp đỡ của anh chị em, thì có sức thánh cũng không cáng đáng hết. Hơn nữa đây lại là ý nghĩa thực sự của hai chữ Hội Đồng. Một khía cạnh khác của việc sẵn sàng nhận, như nhận một tặng vật từ Thiên Chúa trao đến, có thể là những đề nghị khó nghe, những nhận xét khó chịu, thậm chí những chỉ trích ghê gớm. Thế nhưng nếu ta biết quảng đại lắng nghe, rồi bình tĩnh phân tích, chúng ta hẳn sẽ có điều dùng được đấy. Tính lạc quan của người phục vụ là thế, mà hễ ai muốn phục vụ thì phải trang bị cho mình đức tính này. Hơn nữa, chúng tôi nghĩ rằng: Để cho anh chị em giúp đỡ mình cũng đồng nghĩa với việc giúp cho anh chị em mình tiến thân hơn. Các anh chị có trách vụ nên trao bớt nhiệm vụ cho anh chị khác, để tập dần (đào tạo) cho anh chị ấy có thể thay thế mình ở cuối nhiệm kỳ. (còn tiếp)
Phêrô Nguyễn Đức Tiến; sfo
|
|

Trở về mục lục >>
 |
|
Bài 5 5:
Thập Giới: Giới Răn IX Và X
(Xh 20, 17)
Hai giới răn IX và X có thể lúc đầu được phát biểu một cách ngắn gọn: “Ngươi không được ham muốn nhà người ta". Rồi về sau bản văn giải thích chi tiết hơn các từ “nhà người ta" nghĩa là "ngươi không được ham muốn vợ người ta, tôi tớ nam nữ, con bò, con lừa, hay bất cứ vật gì của người ta". Từ đó Giáo-hội Công giáo phân biệt thành hai giới răn: giới răn IX chớ muốn vợ chồng người; giới răn X chớ tham của người.
Tính độc đáo và sự trầm trọng của hai giới răn này là chúng liên hệ tới "cái lòng" của con người, trung tâm của sự hiểu biết và của ý chí. Mọi sự phát xuất từ lòng con người, cái tốt cũng như cái xấu (Mt 15,19). Bởi vậy các hiền nhân đã dạy: "Hãy gìn giữ tim con cho thật kỹ" (Cn 4,23): chính nơi đó con người có thể tiếp nhận sự khôn ngoan của Thiên Chúa (Cn 2, 6.10).
Không ham muốn, đó là bước vào con đường sự sống và của tự do. Cuộc giải phóng khỏi ách nô lệ Ai-cập sẽ chẳng ích lợi gì, nếu chẳng đưa con người tới sự tự do đích thực của tâm hồn.
Để tổng kết, chúng ta hãy lưu ý là tám trên mười giới răn đều được phát biểu dưới hình thức tiêu cực, nghĩa là chỉ nêu ra điều cấm làm, chứ không nêu ra điều phải làm (trừ hai giới răn: phải thánh hoá ngày Hưu lễ và phải thảo kính cha mẹ), điều này có ý nghĩa gì?
Cũng như hai lan-can của chiếc cầu gìn giữ cho người ta khỏi té ra ngoài, các giới răn dưới hình thức tiêu cực chỉ có mục đích vạch ra ranh giới nguy hiểm để người tín hữu không ngã lại vào ách nô lệ. Giới răn chỉ nêu ra điều phải tránh. Còn lãnh vực của những hành vi công chính là lãnh vực của sự tự do con người. Có thể nói Thập giới là nền tảng cho một nền luân lý cởi mở sáng tạo và kêu gọi tinh thần trách nhiệm. (còn tiếp)
Lm. Norbert Nguyễn Văn Khanh, ofm
|
|
|

Trở về mục lục >>
|
 |
|
Lạy Thầy!
Lạy Thầy Giêsu Chí Thánh.
Thầy đã dạy: "Ai muốn theo Thầy thì hãy tự bỏ mình, vác thánh giá mình mà theo Thầy." Tuy con rất muốn trở thành một người tông đồ đúng nghĩa là: biết hy sinh, biết cho đi, biết chấp nhận mọi thiệt thòi chứ không hưởng thụ, thu góp, vơ vét của cải thế gian… Thế nhưng, đứng trước nhịp sống quá văn minh, vật chất luôn mời gọi, con đã từng vấp ngã và quên mất ơn gọi của mình…
Xin Thầy giúp chúng con biết nói không trước những cám dỗ đang mời gọi, biết giữ khoảng cách với bạc tiền, biết sẵn sàng hy sinh những tư lợi để mưu ích cho anh em theo gương thầy suốt đời con. Amen.
Maria |
|

Trở về mục lục >>
|
 |
|
|
|
Giáo Huấn
10:
Quyền Và Nhiệm Vụ Giáo Dục
Theo giáo lý của Thánh Công Đồng Vaticanô II thì cha mẹ là những nhà giáo dục đầu tiên và chính yếu của giới trẻ (x.GD 3). Chính cha mẹ là những người đầu tiên có quyền lợi và nghĩa vụ trong việc giáo dục con cái mình. Quyền lợi và nghĩa vụ này là của hai người. Họ phải đồng tâm cộng tác với nhau. Một ngôi nhà rủi cháy, một vật rủi mất, người ta còn hy vọng tìm lại, mua lại được, nhưng một đứa bé hư đốn, sẽ bất hạnh suốt đời. Vì thế không một bậc phụ huynh nào có quyền sao lãng việc giáo dục con cái.
Nhưng trong thực tế, có nhiều cha mẹ không làm được đầy đủ nghĩa vụ nói trên. Hoặc vì thời giờ và khả năng có hạn, hoặc họ phải bận tâm với công việc mưu sinh. Hơn nữa đứa bé không thể sống mãi bên cạnh cha mẹ. Do đó, việc giáo dục phải cần có sự cộng tác của nhiều người. Về điểm này, Thánh Công Đồng đã dạy:
"Thực vậy, ngoài những quyền lợi của cha mẹ và của những người được cha mẹ uỷ thác cho một phần công việc giáo dục, chắc chắn xã hội cũng có quyền lợi và bổn phận." (GD 3).
Theo giáo lý của Công Đồng thì gia đình, xã hội, và Giáo Hội đều có trách nhiệm cộng tác trong việc giáo dục giới trẻ.
1. Gia đình: Có trách nhiệm vì gia đình là nhà trường đầu tiên của đứa bé, là nơi mà nhiều thế hệ gặp gỡ nhau và giúp nhau nên khôn ngoan đầy đủ hơn. (MV 52).
2. Xã hội: Có trách nhiệm tiếp tay với gia đình, vì xã hội có trách nhiệm tổ chức những gì đem lại lợi ích chung trong phạm vi thế tục. (GD 3)
3. Giáo Hội: Theo Thánh Công Đồng Vaticanô II, để tốt đạo đẹp đời, Giáo Hội cũng có trách nhiệm... vì Giáo Hội có trách nhiệm loan truyền cho mọi người biết con đường cứu rỗi, cũng như thông ban sự sống Chúa Kitô cho các tín hữu và luôn lo lắng giúp đỡ họ đạt tới sự viên mãn của đời sống ấy. (GD 3)
ĐGM Nicolas Huỳnh Văn Nghi
|
|

Trở về mục lục >>
 |
|
|
Tình Cha
Lời cáo lỗi của BBT:
Trong Bản Tin tháng Sáu, BBT đã vô tình bỏ sót bài Tình Cha này. Nay xin được đăng vào Bản Tin tháng này. Xin Cô Thể Xuân và các cháu Thiếu Nhi Phan Sinh thứ lỗi cho BBT nhé…
Các cháu thân mến,
Thời gian qua cô bận đi xa nên không có thơ cho các cháu! Cô tiếc là đã bỏ qua một dịp nhắc nhở các cháu một tình yêu mà ai cũng phải có và phải trân quí là Tình Mẹ trong tháng Năm êm đềm khó quên vừa qua! Sang tháng Sáu, cả thế giới lại chọn tháng này để nhắc nhở chúng ta một loại tình cao cả và đáng quí trọng không thua kém ngày lễ Mẹ: Đó là ngày "lễ Cha".
Các cháu thân mến của cô, các cháu có biết không, Thượng Đế đã khổ tâm sắp xếp cho mỗi người chúng ta đều có cha mẹ, để khi chúng ta vừa sanh ra là có sẵn hai người kề bên thương yêu, lo lắng, chăm sóc đến quên cả thân mình! Và ngày ngày khôn lớn lên trong sự bảo bọc của hai đấng sinh thành yêu thương chúng ta nhất trên đời này!
Các cháu có bao giờ nghĩ tại sao người ta chỉ có ngày "Lễ Mẹ" và "Lễ Cha" mà không có ngày "Lễ Con" hay không? Câu trả lời là vì thường tình con cái lúc còn nhỏ bận lo học hành, chơi đùa, nhõng nhẽo, vòi vĩnh. Khi lớn lên thì lo tìm việc làm, bận bịu với con cái, thỉnh thoảng mới có chút thời gian nghĩ đến cha mẹ… Do đó, người ta làm ra mấy ngày lễ này để giúp con cái nhớ ơn các Đấng đã vì họ, hy sinh đến hết cuộc đời vẫn không hề than van tính toán.
Ngược lại, người làm Cha Mẹ, từ khi sanh con đến khi con trưởng thành, cha mẹ luôn ôm ấp, cưng yêu, cả đến khi đứa con đã thành người lớn, họ luôn lo lắng theo dõi từng bước con đi…
Các cháu có thấy không? Mỗi ngày sống trong đời, những người làm cha mẹ đều "mừng ngày Lễ Con" rất chu đáo! Đứa con càng dở dang thua sút, hư hỏng, tàn tật, lòng cha mẹ càng chú tâm, càng đau thương, càng chua xót!
Các cháu thân mến! Năm nay Giáo Hội nhắc nhở chúng ta kính nhớ cách riêng về Bí Tích Thánh Thể. Ở tỉnh Québec của cô, có những ngày đại hội rất đông đảo để kính mừng Bí Tích này, một Bí Tích Tình Yêu mà Chúa Giêsu đã trân trọng trao lại cho con người. Một thứ Tình Yêu chỉ có thể có được ở một Người Cha thương yêu con cái mình quá bội. Sau khi sống trên dương thế hơn ba mươi năm, chịu biết bao nhiêu là cực hình, đến nỗi chết trần truồng tủi nhục trên Thánh Giá, Người vẫn thấy chưa đủ để chúng ta thấy tình yêu của Người, Người muốn ở lại với chúng ta mỗi ngày, Người đã ẩn mình trong hình bánh nhỏ bé, ao ước được ngự vào lòng từng đứa con Người yêu thương, gần gũi chăm sóc.
Các cháu thân mến! Cô gởi đến các cháu vài ý tưởng mà cô muốn chia sẻ, cô mong các cháu luôn biết yêu kính, lo lắng cho cha mẹ để đáp lại mối tình bao la mà cha mẹ đã cho các cháu. Cũng đừng bao giờ quên mình còn có một Người Cha đang theo dõi từng bước ta đi. Hãy trân quí cái phước này, hãy siêng năng đến thăm viếng, an ủi, và rước Người vào lòng. Người vẫn đang chờ đợi mỗi người chúng ta đấy!
Cô Thể Xuân

Trở về mục lục >>
|
|
 |
|
|
CHUYỆN THÁNH ANTÔN
Chuyện Thánh Antôn Pa đua (tt)
PHẦN THỨ
HAI: SỰ SÙNG KÍNH THÁNH ANTÔN
Sự sùng kính các thánh gồm cả tâm tình tôn trọng sự cao sang của các ngài nơi Thiên Chúa, để được ơn phúc phần hồn. Vì thế, không lạ gì Thánh Antôn được nhiệt liệt sùng kính ngay từ buổi đầu. Và vì Người không ngừng làm phép lạ, nên sự sùng kính không ngừng khuếch trương. Đạo Chúa truyền đến đâu thì Thánh Antôn cũng theo đó. Ngay tại Việt nam, các nhà truyền giáo đầu tiên đã giới thiệu với cha ông chúng ta và đã được ơn Người giúp đỡ phù trì.
Sau đây, xin trình bày một số ơn lành mà sự sùng kính thánh nhân đã đem đến:
CHƯƠNG I: TÒA KHẤN TẠI NHÀ BÀ LOUISE
Năm 1890, tại thành Toulon, nước Pháp, có một tín nữ ngoan đạo, vốn sống độc thân, tên là Louise, làm nghề bán hàng tấm.
Vào sáng ngày 12 tháng 3, bà khoá cửa đi dự lễ, khi về mở cửa không ra, bà gọi thợ sửa khóa đến mở, cũng không mở ra được. Đang khi thợ ấy về lấy đồ nghề để cạy khoá, thì bà chủ bỗng nhớ đến thánh Antôn, mà khấn rằng: "Lạy Ông Thánh, xin thương giúp con mở được khoá, thì con hứa sẽ làm phước cho người nghèo".
Khi thấy người thợ trở lại, bà bảo rằng: "Anh hãy khoan bẻ khoá. Tôi vừa khấn thánh Antôn! Anh hãy lấy chìa khoá mở thử lần nữa xem sao!". Người thợ làm theo lời bà chủ thì khoá liền mở ngay được. Hàng xóm tuôn đến xem đông lắm. Ai nấy đều bỡ ngỡ và ngợi khen quyền thế và lòng lành của thánh nhân.
Tin ấy đồn đến khắp thành. Ban đầu có năm bà quen thuộc đến nhà bà Louise cầu khấn. Có một người được ơn là chồng sửa đổi tính nết, trước nóng nảy, sau trở nên hiền hậu, nên bà sắm tượng Thánh Antôn đem tặng bà Louise. Bà liền lập bàn thờ kính ông thánh tại nhà mình, đêm ngày trưng hoa, đèn nến sốt sắng.
Từ đó, người người đến cầu khẩn hàng ngày càng thêm đông. Mới đầu còn thưa thớt, nhưng từ đó trở đi, từ sáng đến tối, khách hành hương tấp nập kéo đến, trong đó có cả tu sĩ, linh mục và hàng giám mục. Thỉnh thoảng có kẻ tò mò đến quan sát xem thực hư thế nào nhưng cũng không thấy có gì giả dối.
Nhiều nơi cũng noi gương bà Louise mà lập đài thánh Antôn trong nhà thờ hoặc tu viện. Vì thế sự sùng kính Thánh Antôn lan ra rất mau, rất rộng, nhất là trong nước Pháp và nước Bỉ. (còn tiếp)
THƯ CHO ÁO NÂU
Vầng Tr ăng
Áo Nâu, Anh thân yêu,
Mấy đêm nay là những ngày Rằm nhưng bầu trời có nhiều mây nên suốt đêm vầng trăng lúc tỏ lúc mờ. Em thường thức giấc lúc 4 giờ sáng để làm những nhiệm vụ thường nhật như tập thể dục, đọc kinh sáng, đi lễ, rồi về lo điểm tâm cho cả gia đình.
Hôm nay thì khác, khi ra sân tập thể dục lúc 4 giờ sáng, bầu trời có vầng trăng thật đẹp, hồn nhiên và thuần khiết, thỉnh thoảng núp vào sau làn mây như e lệ.
Người ta thường coi trọng những gì có thể mang lại cho họ những lợi ích, còn em chỉ biết yêu vầng trăng, cảm nhận vẻ đẹp cô đơn thầm lặng khờ khạo, đa cảm, lãng mạn mộng mơ. Em đón nhận điều ấy một cách bình thường, vì như tất cả vốn dĩ đã như thế suốt đời em.
Có một hiện tượng gì đó mờ mờ, ảo ảo đang diễn ra trước mắt em, xa xa một chút. Em ngại ngùng rón rén bước tới, tới chút nữa, rồi lại bỏ đi, để tiếp tục ngắm vầng trăng. Trái tim có lư lẽ riêng của mình, nhưng lý trí lại lên án em bỏ qua cơ hội làm phúc. Vầng trăng cũng đồng loã với ai đó bảo em quay lại nhìn?
Em nhìn thấy một người đàn bà đang ôm ấp một em bé trong lòng và nằm ngủ dưới cây bằng lăng bên hè nhà em. Em hết hồn! Thế nào đây? người hay ma? Thêm một của nợ nữa? Nhưng may thay Anh đã dạy em biết cách xử trí khi gặp những trường hợp như thế này.
Em nhẹ nhàng cúi xuống nhìn thật rỏ rồi phó thác cho Chúa mọi sự trước khi đón nhận quà tặng. Em cố tình bắt chước gió, thổi hiu hiu nhè nhẹ vào tai chị: "Chị ơi! Sao chị nằm đây?" Chị ta chậm chạp chỗi dậy mà không nói gì cả, chị đang run rẩy, có lẽ vì đêm lạnh, vì sợ? vì đói? Hay cả ba? Em vội vàng mời hai mẹ con vào nhà, và dưới ngọn đèn hiu hắt, em cho mẹ con chị ấy ăn uống qua loa: gói mì ăn liền chan vào chút cơm nguội, bịch sữa tươi cho bé lấy lại sức và hơi ấm.
Chị chỉ nuốt lệ thở dài mà không kể gì về hoàn cảnh của mình, còn em (cũng chẳng hiểu tại sao) lại không đủ can đảm để hỏi. Phản ứng tự nhiên là nghi ngờ và đắn đo nên em không dám cưu mang mẹ con chị ấy vì còn ngại gia đình, và xã hội (!) Em chỉ trao cho chị vài lời an ủi chúc phúc và một chút quà đi đường để thể hiện tình cảm, để mong chị có chút hơi ấm trong lòng.
Trời vẫn chưa sáng, ánh trăng còn đó, và mặt trời thì bắt đầu ló dạng, chị cõng đứa con đi tiếp… bỗng chị quay lại nhìn em, chỉ một giây thôi, rồi lại tiếp tục bước đi. Nhìn theo họ mà lòng em ray rứt, dường như việc em cần phải làm thì em làm chưa hoàn thành được.
Giờ Lễ đã đến, em hớt hải tìm đến với Thánh Thể Chúa để giải bầy tâm sự. Em nghĩ lát nữa đây em phải xin lỗi Chúa: “Chúa ơi! Chúa đã đến, mà gia đình con chưa tiếp đón ngài cho đúng cách!" rồi em tự hỏi: Chị ấy đa ra đi nhưng có bao giờ trở lại nữa không?
Cho dù vầng trăng trinh nguyên lúc đó vẫn lung linh sáng, nó vẫn khờ khạo đợi chờ ánh mặt trời ấm áp dần lên ngôi.
Agnès Kim Gương
TỔNG TU NGHỊ DÒNG
Bài 3: Tuyên Khấn (tt)
1. GIÁ TRỊ CỦA LỜI KHẤN:
Với quyền năng tông truyền, Hội Thánh chấp thuận bản luật căn bản của Dòng Ba Phan sinh, và theo giòng lịch sử, hội thánh đã luôn nhìn nhận và xác nhận giá trị và bản chất của lời khấn trong Dòng Phan Sinh Tại Thế.
Dòng Phan Sinh Tại Thế là một "Dòng Tu của Giáo dân", một "Dòng Tu thực sự", (Ordo veri nominis) một trường dạy sự hoàn thiện Kitô Giáo giống như bất cứ một dòng Tu nào khác.
Đây thực sự là "một Dòng tu" có "Lời Khấn". Lời Khấn trong dòng tu này, có giá trị ngang bằng với Lời Khấn của các dòng tu khác.
2. HIỆU QUẢ CỦA LỜI KHẤN:
a. Là Một bổn phận cam kết trực tiếp với Thiên Chúa.
Chúng ta không phải là người chọn, nhưng chính Thiên Chúa gọi và chọn chúng ta. Điều chúng ta phải làm, là nhận biết tiếng Chúa, và ơn gọi của mình. Ơn gọi là lời mời gọi Nên Thánh, và chia sẻ sự sống của Thiên Chúa. Sự cam kết đòi hỏi sự mở lòng hoàn toàn và trọn vẹn cho Thánh Ý Chúa suốt đời. Sự nhận định ơn gọi là tiến trình khám phá Tiếng Chúa mời gọi chúng ta hình thành một đời sống mới mẻ và sung mãn hơn. Nó cần được khám phá trong suốt thời kỳ huấn luyện khởi đầu, và suốt đời người Phan Sinh Tại Thế.
b. Là Một cam kết sống có kỷ cương theo Luật Dòng.
Thiên Chúa, Đấng Hằng hữu, Vô biên, qua "Ý định của Ngài" chúng ta được tạo dựng từ Đấng Hằng hữu, và là đối tượng yêu thương của Ngài. Ngài ban sự sống, cho chúng ta hiện diện, và chia sẻ sự Sống Hằng Hữu và thần tính của chính Ngài.
Lời Khấn xác nhận sự cam kết với anh chị em cách nghiêm chỉnh cần phải thực hiện. Sự thánh hiến của lời khấn trọn đời với Thiên Chúa hàm chứa bổn phận đối với anh chị em; qua đó, chúng ta cần thấu hiểu và sống với anh chị em tương tự như đã khấn hứa với Thiên Chúa.
c. Là Sự Tháp Nhập Vào Hội Dòng
Lời Khấn tháp nhập mỗi cá nhân vào trong toàn dòng chứ không chỉ gia nhập vào một huynh đệ đoàn địa phương. Chỉ với ý thức liên đới với Dòng, chúng ta mới có thể sống trọn ơn gọi cho huynh đệ đoàn và làm cho đặc sủng của Thánh Phanxicô trở thành hiện thực nơi từng cá nhân và nơi hội Dòng, trong đời sống và sứ mạng của hội thánh.
Tính chất đặc biệt của Lời Khấn này không đòi buộc phải tuân giữ tuyệt đối ba lời khấn Vâng Phục, Khó Nghèo, và Đồng Trinh như lời khấn dòng của các tu sĩ. Tuy thế, Lời Khấn trong Dòng Phan Sinh Tại Thế có giá trị thực sự và trang trọng khi tuyên khấn với Chúa và với Giáo Hội. Lời Khấn này không được xem nhẹ hơn lời khấn của các “tu sĩ”. Lời tuyên khấn này có tính công khai và vĩnh viễn. Điều này được ghi rõ trong bảng Luật Mới do Đức Giáo Hoàng Phaolô VI phê chuẩn, và trong Tổng Hiến Chương và Sách Nghi Thức.
Mục đích của Luật dòng, Hiến chương và Nghi thức diễn tả sức sống thực tế và cần thiết của giáo hội, bao gồm sự gắn bó mạnh mẽ và chặt chẽ hơn mà người Phan Sinh Tại Thế đã cam kết với Giáo hội qua lời Khấn.
3. NHÌN VÀO "THỰC TRẠNG" CỦA DÒNG PSTT
Việc gia nhập Dòng và Khấn Dòng ảnh hưởng toàn thể cuộc sống của người Phan Sinh Tại Thế.
Việc Khấn Dòng nhắc cho chúng ta nhớ lại những gì Thánh Phanxicô đã nói trong Bút Tích của ngài về việc từ bỏ thế gian. Tinh thần đó ngày hôm nay vẫn không thay đổi như câu Tin Mừng: "Trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian." (Gioan 17:14-18)
Việc Khấn Dòng luôn luôn là một hành động thánh hiến làm cho chúng ta trở thành người giáo dân được thánh hiến cho Nước Trời.
4. ÔN LẠI CÂU HỎI THỬ BA TRONG SÁCH NGHI THỨC VỀ LỜI KHẤN
Trong sách Nghi thức của dòng Phan Sinh Tại Thế (Chương 3), Nghi thức Khấn.
Anh chị đã được trở nên thành phần Dân Chúa nhờ bí tích Thanh Tẩy, và được vững mạnh trong bí tích Thêm Sức nhờ ân sủng mới của Chúa Thánh Thần, để dùng gương sống và lời nói làm chứng cho Đức Kitô. Anh chị có muốn kết hiệp mật thiết hơn với hội thánh, ra sức xây dựng hội thánh và cộng tác vào sứ mạng của hội thánh giữa loài người không?
Mỗi người chúng ta đã trả lời "vâng, đây là điều tôi muốn”, nếu không chúng ta đã không được tuyên khấn. Một lần nữa, ý muốn và việc làm không phải là việc giống nhau, giờ đây, chúng ta phải lượng định lại việc chúng ta đang làm.
5. CÂU HỎI GỢI Ý:
1. Anh chị có tiếp tục tìm hiểu ý Chúa muốn tôi làm gì qua việc cầu nguyện và đối thoại với anh chị em?
2. Anh chị có thể làm thêm điều gì để dấn thân hơn trong đời sống huynh đệ của Dòng Phan Sinh Tại Thế?
3. Tại sao huynh đệ đoàn địa phương rất quan trọng cho sự sống của Dòng Phan Sinh Tại Thế? Huynh đệ đoàn giúp đỡ anh chị tới mức độ nào để anh chị có thể thực hiện những gì mà Lời Khấn đòi hỏi?
4. Huynh đệ đoàn có giúp anh chị duy trì lòng trung thành với lời Khấn, và giúp anh chị ý thức tính liên đới trong Hội Dòng không? Anh chị có thể làm được gì nhằm giúp đỡ anh chị em trong huynh đệ đoàn đạt được những mục tiêu nói trên?
5. Anh chị và huynh đệ đoàn đã làm gì và đến mức độ nào trong việc xây dựng hội thánh và hoàn thành sứ mạng Phan Sinh?
800 N ăm Sống Tin Mừng
Bài của linh mục Jack Wintz, OFM và McCloskey, OFM
Quang Thạch chuyển ngữ từ nguyệt san "St. Anthony Messenger"
Cha Tổng Phục vụ Dòng Anh Em Hèn mọn giải thích người Phan Sinh trên thế giới đang chuẩn bị như thế nào để mừng lễ kỷ niệm 800 năm.
Trong một buổi phỏng vấn của tờ nguyệt san "St Anthony Messenger" trong dịp 3 ngày thăm viếng thành phố Cincinnati, Ohio, linh mục José Rodriguez Carballo, OFM, đã giải thích làm thế nào gia đình Phan Sinh toàn thế giới chuẩn bị đón mừng vào tháng 4, 2009 lễ kỷ niệm 800 năm ngày Đức Giáo Hoàng Innocent III phê chuẩn Luật dòng do thánh Phanxicô soạn.
Bộ Luật này đánh dấu sự thành lập phong trào Phan Sinh, cũng đã ảnh hưởng đến sự phát triển Dòng Clara Nghèo (Dòng Nhì) và Dòng Phan Sinh Tại Thế (Dòng Ba), cũng như các tu sĩ nam nữ đang sống trong các Dòng Ba Tại viện. Các nhánh này đã tạo thành gia đình Phan Sinh trong Giáo hội Công giáo.
Mừng lễ kỷ niệm ngày bộ luật ra đời, một tài liệu mô tả lối sống của một cộng đồng tu trì, có lẽ xem ra hơi bất thường. Nhưng việc chấp thuận bộ luật đã đánh dấu một bước quan trọng trong tiến trình hoán cải của Thánh Phanxicô. Luật dòng này đã hướng dẫn người Phan Sinh ra đi phục vụ cho Giáo hội từ thời đó.
Bị thương trong trận chiến 1202 giữa thành Assisi và Perugia, 2 thành phố ở miền trung nước Ý, Phanxicô là một tù binh chiến tranh trong vòng một năm. Sau khi được thả tự do, ngài bắt đầu sống nghiêm chỉnh hơn, trở nên gần Chúa hơn. Tại nhà nguyện San Đamiano, ngoại thành Assisi, sau khi Chúa Kitô từ trên thánh giá bảo ngài ra đi và xây dựng lại Giáo hội, Phanxicô đã xây dựng lại nhà nguyện và nhà thờ Nữ vương các Thiên thần gần đó (Portiuncula).
Sự gặp gỡ và ôm hôn người cùi cũng là một phần trong tiến trình hoán cải của thánh. Khi có 11 anh em đi theo ngài, Phanxicô cùng đi với họ đến vương cung thánh đường Thánh Gioan Lateran của Đức Giáo Hoàng ở Rôma, và vào năm 1209 ngài đã nhận được sự chấp thuận bằng miệng của Đức Giáo Hoàng cho phép sống lối sống mới. Bộ luật này. Đức Giáo Hoàng Honorius III đã chấp thuận bằng văn bản bộ luật 1223 dài hơn của thánh Phanxicô. (Bản thảo của bộ luật 1221 chưa bao giờ được gửi lên để xin phê chuẩn.)
Thánh Phanxicô Assisi có lẽ là vị thánh Công giáo được biết đến nhiều nhất, được các kitô hữu và những thành phần các tôn giáo khác cảm phục nhất. Trong năm 1993, ban biên tập của báo Time đã xếp hạng ngài đứng nhất giữa 10 vĩ nhân của thiên niên kỷ thứ hai.
Trong buổi phỏng vấn này, vị linh mục đứng đầu Dòng Anh Em Hèn mọn trên thế giới đã giải thích cái gì đã làm cho Phanxicô nổi tiếng vào trong thế giới vào thế kỷ 13 của ngài và làm thế nào lời nói và gương sống của ngài đã có thể giúp cho các Kitô hữu ngày hôm nay sống Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô.
Sau đây là buổi phỏng vấn:
Hỏi: Anh José, anh đang đi thăm viếng để giúp các Phan Sinh chuẩn bị mừng lễ kỷ niệm 800 năm thành lập tình huynh đệ Phan Sinh toàn thế giới. Mặc dầu anh là một linh mục, chúng tôi biết rằng anh thường thích tự giới thiệu mình là Anh José. Tại sao vậy?
Trả lời: Trước hết tôi xin cảm ơn lời mời đến nói chuyện với các anh và các độc giả của báo. Vâng, tôi thích được gọi là anh José hơn. Dĩ nhiên, tôi cũng là một linh mục và tôi rất hạnh phúc với ơn gọi đó. Tôi thực sự tin rằng Chúa đã gọi tôi trở thành một linh mục. Nhưng không từ chối vai trò linh mục của tôi, trước hết tôi là một Phan Sinh, và với lý do đó, tôi là một người anh em. Trong các bút tích của mình, thánh Phanxicô đã coi mình như là một người anh em Phanxicô. Ngôi vị hay nhất mà người Phan Sinh phái nam có thể dùng để gọi mình là "người anh em" (Brother).
Hỏi: Tại sao Phanxicô và những anh em đầu tiên theo ngài đến Rôma năm 1209 để xin Đức Giáo Hoàng chấp thuận cho lối sống của họ?
Trả lời: Khi thánh Phanxicô thu nhận anh em mà ngài coi như là những món quà, ngài lập tức viết cho họ một bảng luật rất ngắn, những lời lấy từ Tân Ước. Một vài đoạn Tin mừng chúng ta có thể tìm thấy trong bảng luật 1221 và 1223. Khi Chúa ban cho ngài các anh em, Phanxicô lập tức đi đến vương cung thánh đường Thánh Gioan Lateran ở Rôma để trình diện chính ngài và huynh đoàn đầu tiên lên Đức Giáo Hoàng.
Tại sao? Tôi nghĩ rằng Thánh Phanxicô ngay từ lúc đầu đã biết rất rõ ràng rằng đoạn Tin Mừng Chúa mạc khải cho ngài như là một mô thức sống cần phải được sống trong Giáo hội và với Giáo hội. Đây có lẽ là sự khác biệt quan trọng nhất giữa Phanxicô và những nhóm mới khác trong Giáo hội thời bấy giờ.
Thỉnh thoảng chúng ta nghĩ rằng cái phần độc đáo nhất trong lối sống của Phanxicô là khó nghèo. Tôi không đồng ư bởi vì nhiều nhóm khác cũng đã sống như Phanxicô và các bạn đồng hành đầu tiên của ngài.
Tôi nhìn thấy một sự khác biệt mấu chốt trong ước muốn sống Tin Mừng trong Giáo hội và với Giáo hội tận con tim của ngài. Khi Phanxicô lắng nghe đoạn Tin Mừng trong Thánh lễ ở nhà nguyện Portiuncula, có lẽ ngài hiểu nội dung của đoạn đó, nhưng ngài đã hỏi vị linh mục nghĩ gì và xin giải thích đoạn đó.
Rõ ràng là Phanxicô đã muốn hỏi vị linh mục, một vị đại diện của Giáo hội để giải thích Tin Mừng để giúp cho đời sống huynh đệ của ngài sống Tin Mừng đó trong sự hiệp thông với Giáo hội.
Đó là lý do tại sao ngài đi tìm sự chấp thuận của Đức Giáo Hoàng cho bảng luật dòng.
Hỏi: Vậy thì người Phan Sinh cần phải trung thành với Giáo hội trong mọi sự?
Trả lời: Vâng. Tôi nghĩ rằng đó là điều quan trọng và đồng thời chúng ta cần phải sống Tin Mừng với quyền tự do, tự do rao giảng Tin Mừng, nhưng luôn luôn trong Giáo hội và với Giáo hội.
Hỏi: Anh và những vị lãnh đạo Phan Sinh khác đã khai triển một kế hoạch mừng ngày thành lập gia đình Phan Sinh. Kế hoạch đó gồm những gì?
Trả lời: Chúng ta sẽ mừng lễ kỷ niệm trên 2 bình diện. Thứ nhất là với toàn thể gia đình Phan Sinh, đặc biệt là trong năm 2009. Toàn thể gia đình Phan Sinh sẽ có một cuộc gặp gỡ đặc biệt với Đức Giáo Hoàng. Qua sự đại diện của các vị lãnh đạo, toàn thể gia đình Phan Sinh sẽ lập lại lời khấn của chúng ta trong vòng tay của Đức Giáo Hoàng.
Một vài nhánh của gia đình Phan Sinh như chúng tôi, Dòng Anh Em Hèn mọn, cũng sẽ có chương trình riêng để mừng lễ. Dự án của chúng tôi được bắt đầu khi tôi đi qua Nhật trong năm 2003. Sau khi được bầu làm Tổng Phục vụ, tôi đã nghĩ rằng: "Tôi có thể làm gì để giúp cho Dòng vào dịp đặc biệt nào đó nhằm canh tân lại đời sống của chúng tôi?" Bấy giờ tôi nhớ đến năm 2009 và ngày kỷ niệm 800 năm thành lập dòng Phan Sinh.
Và tôi cũng lập tức nhớ lại những gì Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã làm cho Giáo hội trong việc mừng Năm Hồng ân trong năm 2000. Để chuẩn bị, ngài đã dành ra 1 năm cho Thiên Chúa Cha, một năm khác cho Thiên Chúa Con và năm thứ ba cho Chúa Thánh Thần.
Tôi đã nói: Vậy thì, chúng ta có thể có một hành trình tương tự. Trong năm 2006, chúng ta có thể tập trung vào sự hoán cải của Thánh Phanxicô. Năm 2007, chúng ta tập trung vào chương trình sống (chúng ta nên sống cách nào). Khi Phanxicô lắng nghe Tin Mừng ở Portiuncula, ngài đã trả lời, "Đây là điều tôi muốn và đây là cách tôi muốn sống Tin Mừng". Vì thế trong năm 2007, chúng tôi tập trung kế hoạch của chúng tôi về Tin Mừng.
Trong năm 2008 và 2009, chúng tôi mừng cho những ơn gọi và sứ mạng của mình. Đây là thời gian để cảm tạ Chúa chúng ta, Đức Giêsu Kitô – nhưng cũng là dịp để cho mọi người thấy chúng tôi hạnh phúc khi mình là người Phan Sinh.
Chương trình trong 3 năm này gồm có những dấu chỉ rất đặc biệt. Chẳng hạn, kỳ Tổng Tu nghị bất thường vào tháng 10, 2006 là một dịp quan trọng. Tháng 6 năm ngoái hội đồng tổng phục vụ đã họp mặt tại Assisi với các Viện Phụ dòng Anh Em Hèn mọn. Mùa hè năm ngoái, chúng tôi có một buổi tu nghị tĩnh tâm tại Đất Thánh với các anh em trẻ từ khắp thế giới. Những giây phút khác nhau đã giúp chúng tôi chuẩn bị cho đại lễ năm 2009 kỷ niệm lập dòng.
Hỏi : Sẽ có những lễ lớn để mừng ngày thành lập gia đình Phan Sinh?
Trả lời: Trong cuộc họp mới đây của Hội nghị Phan Sinh gồm có các nhánh Anh Em Hèn mọn, Lúp dài, Viện Tu và Dòng Ba Tại viện, chúng tôi đã quyết định lễ mừng chính sẽ được tổ chức tại Rôma. Chúng tôi đang xin để trung tâm điểm của các lễ mừng sẽ được cử hành tại Vương cung Thánh đường Thánh Gioan Lateran trong suốt tuần thứ nhất sau lễ Phục sinh năm 2009.
Hỏi : Anh đã mô tả vài biến cố trong đời sống của Thánh Phanxicô như là "những nguồn ơn sủng" làm nên những nền tảng cho dòng Phan sinh. Đó là những biến cố nào và mang ý nghĩa gì?
Trả lời: Cuộc sống của thánh Phanxicô chứa đựng nhiều giai đoạn quan trọng cho nền tảng của Dòng; những giai đoạn đó đã tạo thành tiến trình hoán cải của ngài. Một trong những giai đoạn là trận chiến 1202 giữa thành Assisi và Perugia. Đối với tôi, đây là giai đoạn quan trọng nhất bởi vì khi dự trận chiến này, Phanxicô đang bước vào một cuộc khủng hoảng bản thân. Ngài đang nghĩ về mục đích sống của mình. Sau này việc tu bổ lại nhà thờ San Damiano và Nữ vương các Thiên Thần đến từ cái gì đó mới trong cuộc sống của ngài. Đối với tôi, sự bắt đầu của lối sống mới phát xuất từ trận chiến giữa Assisi và Perugia.
Tôi nghĩ rằng việc tu bổ nhà thờ San Damiano và Nữ vương các Thiên Thần là quan trọng, không chỉ vì Phanxicô đang xây dựng lại các nhà nguyện cũ ở ngoại thành Assisi, nhưng còn vì đó là sự đáp trả của bản thân về Lời của Tin Mừng và Lời của Chúa nói trên thánh giá Damiano.
Phanxicô lắng nghe và tức thì muốn làm một việc nào đó. Dĩ nhiên, ngài không hoàn toàn hiểu ý nghĩa của những chữ trong Tin Mừng hoặc Lời Chúa nói với ngài ở San Damiano. Nhưng điều quan trọng là ngài đã làm một cái gì ngay tức khắc. Ngài không chờ đợi để hiểu hoàn toàn sứ điệp của Tin Mừng, sứ điệp của Đức Kitô. Phanxicô tức khắc mở lòng và bắt tay vào hành động cụ thể. Tôi thấy điều đó rất quan trọng.
Một giai đoạn quan trọng khác là việc gặp gỡ của Phanxicô với người cùi. Sau khi Phanxicô đã gặp được Đức Kitô, ngài gặp được một con người đang đau khổ, cũng là người bị xã hội loại trừ. Phanxicô hiểu ra rằng sau sự nhập thể của Chúa, người ta không thể theo Chúa mà không tỏ lòng yêu thương nhân loại. Phanxicô không thể chấp nhận Chúa Kitô vào đời sống của mình mà không chấp nhận những người khác, nhất là những người đang chịu đau khổ. Việc thánh Phanxicô gặp người cùi, xây dựng lại nhà th | |