Mọi thư từ liên lạc, xin gửi về PSTTVNUSA@YAHOO.COM. Copyright © 2002 WWW.PSTTVNUSA.NET. All rights reserved.
 

NỘI DUNG HÀNG THÁNG (07-2007)

 
Trong Số Này:
TÂM SỰ HẰNG THÁNG
 

Tình Huynh Đệ, Tình Yêu Thương

HỌC HỎI LỜI CHÚA
 

Thần Khí Sự Thật

LINH ĐẠO PHAN SINH
  Sống Linh Đạo Phan Sinh Tại Thế
GIÁO LƯ TÓM LƯỢC
  Bài 43: Thánh Danh Thiên Chúa
LỜI KINH MỖI THÁNG
  Yêu Thương Theo Lời Của Chúa
TRINH NỮ MARIA
  Đức Maria Trong Tuyền Thống Thần Học PS
THIÊU NHI PHAN SINH
  Hãy Yêu Chúa vì Được Chúa Yêu
HÔN NHÂN GIA Đ̀NH
  Bài 9: Gia Đình
NHỮNG BÀI ĐỌC THÊM
  Quê Hương và Linh Đạo
CẦU NGUYỆN CHO NHAU
   
THÔNG BÁO TIN TỨC
   

 
 

Tình Huynh Đệ, Tình Yêu Thương

Thưa quí anh chị,

Tình huynh đệ, hay tình yêu thương, từ muôn thuở vẫn rất thiêng liêng huyền dịu, cao vời sâu thẳm, và rất riêng tư đối với mỗi người…

Dẫu cùng Hội Dòng, cùng mầu áo, chung một linh đạo, cùng huynh đệ đoàn, và trái tim đập cùng nhịp yêu thương trong Giáo Hội. Nhưng cách nhìn, cách nghĩ, cách sống của mỗi người đều không giống nhau do bởi mỗi tâm hồn là một thế giới, mỗi trái tim đều có lư lẽ và hướng đi riêng của nó.

Với tinh thần đơn sơ khiêm hạ của người Phan Sinh, xin mạo muội gợi ra một ý nhỏ để chúng ta cùng suy tư: "Chúng ta vào Phan Sinh để làm gì? Phải chăng chúng ta vào Phan Sinh để tập sống yêu thương và được yêu thương?"

Hằng ngày, chúng ta vẫn thường ngâm nga cầu nguyện với câu: "Lạy Chúa từ nhân, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người…" nhưng dường như đó chỉ là lời cầu nguyện ngoài môi miệng, chứ chưa thật sự cảm thức cách tỏ tường là: "Phải mến yêu như thế nào, và như thế nào mới thật sự là yêu mến anh em?"

Thiên Chúa ban cho mỗi người một Đặc Sủng khác nhau. Người một nén, người hai nén, người năm nén… Nén của anh là Ngôn Sứ, nén của chị là Phục Vụ, nén của em là Âm Nhạc, nén của bạn là Nụ Cười, còn nén của tôi là Vụng Về trong mọi việc… Nhưng mỗi người đều phải cố gắng tận dụng thời gian để kịp giờ sinh lợi cho Chúa bằng chính khả năng mà Chúa đã trao ban. Tuy nhiên, trong cuộc sống thường có những cám dỗ làm cho chúng ta không nhìn thấy những giới hạn của mình để học hỏi; mà chỉ nhìn vào những khả năng của anh em bằng cái nhìn ganh tị hạn hẹp, thiếu cảm thông, thiện chí, và thiếu tình huynh đệ.

Những buổi sinh hoạt định kỳ của huynh đệ đoàn chính là những giờ phút quý giá thể hiện tình huynh đệ, tình yêu thương và được yêu thương. Những buổi họp ấy cũng giống như những Bữa Tiệc Thánh của các huynh đệ quây quần bên nhau để lắng nghe và chia sẻ Lời Chúa. Cùng dìu dắt nhau trong Linh Đạo của Thánh Tổ Phụ, cùng trao đổi những vui buồn trong cuộc sống, cùng cầu nguyện và nâng đỡ tinh thần nhau, cùng làm cho tình huynh đệ ngày càng bền chặt, triển nở và lan tỏa. Vì vậy, xin hãy bước vào buổi họp với tâm tình hòa bình của người Phan Sinh chứ đừng đến với tâm trạng của những bè phái, hay cá nhân chủ nghĩa. Đừng bắt anh em phải theo ý mình, đừng gây hấn với những ai không đứng về phía mình, đừng lôi kéo người khác bỏ họp hay ngưng cộng tác với đoàn, đừng lợi dụng buổi họp để thỏa mãn những gì mình mong muốn… vì đó là thái độ, hành vi làm tổn thương "chi thể" của Đức Kitô, tổn thương đến dòng họ Phan, và những anh em của chính mình.

Những bài học dành cho người mới tập tểnh vào dòng Phan Sinh chắc chắn có nói đến Tình Huynh Đệ - Nghĩa Mọn Hèn được diễn tả qua hình ảnh của Cha Thánh Phanxicô. Ngài hay lang thang khắp phố để vừa rao giảng, vừa khất thực nuôi sống anh em, ngài lầm lũi trong mưa trong nắng, bất kể ngày đêm để đến với anh em, ngài lặng lẽ hy sinh cả cuộc đời để cho Hạt Giống Phan Sinh được nảy mầm, ngài chấp nhận mọi thiệt thòi, gian nan, đau khổ, hy sinh cho đến chết để Tình Huynh Đệ được lan tỏa, cho Danh Chúa được loan truyền, cho Dòng Dõi Phan Sinh được sống… Còn chúng ta; những người khoác lên mình chiếc áo mầu Nâu đã nhiều năm nhưng liệu có học, có tập, có sống, có thấm nhuần chút nhân đức nào của Thánh Phụ chăng? Chúng ta có biết hãm mình, hy sinh những ích kỷ nhỏ nhoi, có biết chịu đựng và chấp nhận những khác biệt của anh em? Có sẵn sàng tha thứ cho anh em?

Yêu thương là linh dược biến đổi và chữa lành mọi sự. Không yêu thương sẽ không được yêu thương. Không yêu thương cuộc sống trở nên vô nghĩa. Không yêu thương không thể là môn đệ của Chúa Giêsu, và không thể là anh em của vị Thánh Nghèo thành Assisi được.

Vâng, muốn sống Linh Đạo Phan Sinh, xin hãy canh tân đời sống và biến đổi bản thân. Xin hãy bắt đầu làm lại ngay từ hôm nay. Vẫn còn kịp! Muộn, còn hơn là không! Vâng! Hãy đầu lại, và bắt đầu từ chính bản thân mình.

BBT

Trở về mục lục >>

 

Thần Khí Sự Thật

(Gioan 16,12-15 – Chúa Ba Ngôi - C )

16:12 Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em. Nhưng bây giờ, anh em không có sức chịu nổi. 16:13 Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy đến. 16:14 Người sẽ tôn vinh Thầy, vì Người sẽ lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em. 16:15 Mọi sự Chúa Cha có đều là của Thầy. Vì thế, Thầy đã nói: Người lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em.

1.- Ngữ cảnh

"Sách Vinh Quang" của Tin Mừng Gioan kéo dài từ ch.13 đến ch.20. “Diễn từ cáo biệt” (ch. 13–17) là phân đoạn đầu tiên của "Sách" này. Chúng ta có thể xác định bố cục của phân đoạn này như sau:

- Bữa ăn cuối cùng (13,1-30);

- Bài diễn từ (phần 1: 13,31–14,31):

a) Dẫn nhập (13,31-38),

b) Phân đoạn 1 (14,1-14),

c) Phân đoạn 2 (14,15-24),

d) Phân đoạn 3 (14,25-31).

- Bài diễn từ (phần 2: 15,1–16,33):

a) Phân đoạn 1 (15,1-17),

b) Phân đoạn 2 (15,18–16,4a): các môn đệ bị bách hại,

c) Phân đoạn 3:

* Đơn vị 1 (16,4b-15): Đấng Bảo Trợ [cc. 5-7; 8-11; 12-15],

* Đơn vị 2 (16,16-33).

- Bài diễn từ (phần 3: 17,1-26):

a) Phân đoạn 1 (17,1-8),

b) Phân đoạn 2 (17,9-19),

c) Phân đoạn 3 (17,20-26).

Đoạn văn chúng ta đọc hôm nay nằm trong phần hai, phân đoạn 2 và đơn vị 1 của Diễn từ cáo biệt.

2.- Bố cục

Bản văn có thể chia thành ba phần:

1) Câu chuyển tiếp (16,12);

2) Vai trò của Thần Khí (16,13-14);

3) Tương quan giữa Thần Khí với Chúa Cha và với Đức Giêsu (16,15).

3.- Vài điểm chú giải

- không có sức chịu nổi (12): Dùng động từ Hy-lạp bastazein ở đây cũng lạ. Động từ này thường được sử dụng trong khung cảnh cuộc Thương Khó (19,17; x. Lc 11,46; 14,27; Gl 6,2.5). Bởi vì ý tưởng căn bản là các môn đệ không thể hiểu, mà bastazein lại có nghĩa là "nâng lên, mang, vác, chịu đựng”. Do đó, rất có thể câu nói muốn nói là nhờ Thánh Thần, các môn đệ hiểu biết mạc khải, nhưng cũng tham dự vào cái chết và cuộc tôn vinh của Đức Giêsu (x. 13,7.33).

- Thần Khí sự thật (13): Danh hiệu này đã xuất hiện trong đoạn văn đầu tiên nói về Đấng Bảo Trợ (14,17). Dịch sát là "Thần Khí của sự thật" ("sự thật", alêtheia ở thuộc-cách). Trong tư tưởng Gioan, thuộc-cách này chỉ đối tượng: Thần Khí truyền đạt sự thật, cho dù cũng có thể hiểu là một thuộc-cách đồng chức ngữ (apposition) (x. 1 Ga 5,6 [7]: "Thần Khí là sự thật"). Ở đây, câu văn không mô tả yếu tính hay hữu thể của Thần Khí.

- Người sẽ loan báo (13): Động từ anangellein, "loan báo, khai mở, tuyên bố", xuất hiện ba lần trong các chương 13–15. Ý nghĩa chung của động từ này là "nói lại những gì đã được nói rồi” (ngoại trừ Ga 4,25), bởi vì tiếp đâu ngữ ana - có giá trị như tiếp đầu ngữ re - trong tiếng Anh. (re-announce, re-proclaim). Bản LXX, đặc biệt sách Isaia, cũng dùng động từ này theo nghĩa ấy (x. Is 42,9; 44,7; 45,19; 46,10).

- những điều sẽ xảy đến (13): Phải chăng sẽ có một mạc khải mới? Thật ra, dựa vào ý nghĩa của anangellein và chiều hướng cánh chung học đã thể hiện của TM IV, có thể nói rằng "loan báo những điều sẽ xảy đến” có nghĩa là giải thích cho mỗi thế hệ thấy những gì Đức Giêsu đã nói và đã làm có một ý nghĩa cho họ hôm nay.

- Mọi sự Chúa Cha có đều là của Thầy (15): Trong thần học về Chúa Ba Ngôi, câu này đã được dùng để chứng minh rằng Chúa Con có cùng một bản tính với Chúa Cha; nhưng ở đây tác giả Gioan đang nghĩ đến mạc khải được thông ban cho loài người.

4.- Ý nghĩa của bản văn

Chương 16 (cũng như ch. 14 là bản văn đầu tiên nói đến Đấng Bảo Trợ) nói đến vai trò của Đấng Bảo Trợ như là thầy dạy các môn đệ.

* Câu chuyển tiếp (12)

Câu 12 chuyển sang vai trò của Đấng Bảo Trợ là giảng dạy. Đức Giêsu muốn nói gì khi tuyên bố là Người còn nhiều điều phải nói, nhưng vào lúc này, các môn đệ không có sức chịu nổi? Phải chăng Người có ư nói là sẽ có những mạc khải mới sau khi Người chết? Tuy nhiên, Ga 15,15 dường như loại trừ những mạc khải mới: "Tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha của Thầy, Thầy đã cho anh em biết". Câu 12 cũng theo một chiều hướng như vậy: chỉ sau khi Đức Giêsu sống lại, các môn đệ mói hiểu được trọn vẹn những gì đã xảy ra và đã được nói trong thời gian Đức Giêsu hoạt động (x. Ga 2,22; 12,16; 13,7). Lời hứa ban cho các môn đệ hiểu sâu hơn có thể được diễn tả bằng câu “Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em”, bởi vì Đức Giêsu sẽ tác động trong và qua Đấng Bảo Trợ mà thông ban sự hiểu biết này. Khó mà có thể khẳng định rằng trong TM IV, có ý tưởng về một sự mạc khải khác nữa sau hoạt đông của Đức Giêsu, bởi vì Người chính là sự mạc khải của Chúa Cha, là Lời của Thiên Chúa (1,1.14.18).

* Vai trò của Thần Khí (13-14)

Ở đây chúng ta được giới thiệu Đấng Bảo Trợ như là vị hướng dẫn các môn đệ đến sự thật toàn vẹn. Trong Cựu Ước, đã có những ý tưởng như thế về Thần Khí (x. Tv 25,4-5 [sự thật]; 143,10 [thần khí]; Is 63,14). Đôi khi người ta nêu vấn nạn là: các bản văn Cựu Ước đó chỉ liên hệ đến việc hướng dẫn luân lư, chứ không liên hệ đến việc hiểu biết sâu xa hơn mạc khải; và như thế dung mạo Đấng Bảo Trợ do Gioan phác ra hoàn toàn khác: như vậy, "thần khí", "đường lối”, “chân lư” trong TM Gioan có ý nghĩa hoàn toàn khác. Thật ra đó là bối cảnh Cựu Ước và tác giả TM IV đã đi từ bối cảnh đó để viết; nhưng chắc chắn Đấng Bảo Trợ hướng dẫn trên con đường chân lư không chỉ có nghĩa là đưa đến một hiểu biết sâu sắc hơn bằng lư trí những gì Đức Giêsu đã nói, nhưng còn hàm ý là đưa đến một cách sống phù hợp với giáo huấn của Đức Giêsu. Và như vậy, tư tưởng Gioan không xa tư tưởng Cựu Ước như ta tưởng. Ta cũng có thể nghĩ đến vai trò hướng dẫn của Đức Khôn Ngoan (x. Kn 9,11; 10,10); cũng như gương mặt của Đức Giêsu theo Gioan được phác ra phỏng theo Đức Khôn Ngoan thần linh được nhân cách hóa, thì dung mạo của Đấng Bảo Trợ cũng được phác ra tương tự.

Đấng Bảo Trợ sẽ hướng dẫn các môn đệ tới sự thật toàn vẹn. Ở 8,31-32, Đức Giêsu đã hứa: "Nếu các ông ở lại trong lời của tôi, thì các ông thật là môn đệ tôi; các ông sẽ biết sự thật”. Điều này được nên trọn trong và qua Đấng Bảo Trợ. Dẫn dắt tới sự thật toàn vẹn là dẫn đưa vào mầu nhiệm của Đức Giêsu là Sự Thật (14,6). Chi tiết xác định”sự thật toàn vẹn " (x. 14,26) và điểm nhấn rằng Đấng Bảo Trợ sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng chỉ nói những gì Ngài nghe, dường như cũng xác nhận rằng không có mạc khải mới. Đấng Bảo Trợ sẽ giúp cho mỗi thế hệ hiểu sâu sắc những gì Đức Giêsu muốn cho chính thời đại họ.

Câu 14 càng củng cố ấn tượng là Đấng Bảo Trợ không mang đến một mạc khải mới bởi vì Ngài nhận từ Đức Giêsu những gì Ngài phải loan báo cho các môn đệ. Đức Giêsu đã tôn vinh Chúa Cha (17,4) bằng cách mạc khải Chúa Cha cho loài người; nay Đấng Bảo Trợ tôn vinh Đức Giêsu bằng cách mạc khải Người cho loài người. Vinh quang hàm ý có sự tỏ hiện ra hữu hình: Đấng Bảo Trợ sẽ làm chứng và biến người ta thành chứng nhân (15,26-27) cho Đức Giêsu Phục Sinh; như thế Ngài sẽ giới thiệu công khai Đức Giêsu Phục Sinh đang chia sẻ vinh quang của Chúa Cha (17,5). Và đây cũng là một yếu tố thuộc cánh chung học đã thể hiện: Đối với các TMNL, Con Người sẽ đến trong vinh quang vào Ngày Cuối Cùng (Mc 13,26), còn đối với TM Gioan, đã có vinh quang rồi do Đức Giêsu hiện diện trong và qua Đấng Bảo Trợ.

* Tương quan giữa Thần Khí với Chúa Cha và với Đức Giêsu (15)

Câu 15 gián tiếp nhắc đến tương quan của Đấng Bảo Trợ với Chúa Cha và với Chúa Con. Ở chương 16 này, ta thấy Đức Giêsu là Đấng sai phái Đấng Bảo Trợ (16,7); nhưng ở 14,16.26, Chúa Cha lại là Đấng sai phái. Nhưng c. 15 cho thấy rằng khi viết ch. 16, tác giả cũng biết rằng cuối cùng Đấng Bảo Trợ, cũng như Đức Giêsu, là sứ giả của Chúa Cha. Khi loan báo hoặc giải thích những gì thuộc về Đức Giêsu, Đấng Bảo Trợ thực sự giới thiệu Chúa Cha cho loài người; bởi vì Chúa Cha và Đức Giêsu có mọi sự chung với nhau. Sau này các nhà thần học Đông phương và Tây phương sẽ tranh cãi trong Thần học về Ba Ngôi xem Thánh Thần nhiệm xuất từ một mình Chúa Cha hay là từ Chúa Cha và Chúa Con. Còn trong tư tưởng Gioan, không thể hiểu được chuyện Đấng Bảo Trợ có điều gì nhận lấy từ Đức Giêsu mà lại không nhận lấy từ Chúa Cha, nhưng tất cả những gì Ngài có để cho loài người, đều nhận lấy từ Đức Giêsu.

+ Kết luận

Vai trò của Thánh Thần được khẳng định rõ ràng: Ngài đưa các thế hệ môn đệ vào trong sự thật toàn vẹn, tức là hiểu biết sâu sắc mầu nhiệm Đức Kitô, Con Thiên Chúa Nhập Thể. Như Đức Kitô luôn quy chiếu về Chúa Cha, Đấng đã sai phái Người (x. 7,17-18; 12,49; 14,10), Thánh Thần cũng quy chiếu về Chúa Con. Ngài sẽ là vị "gia sư" nhắc lại cho các môn đệ tất cả mạc khải của Đức Giêsu và giúp đào sâu qua các thời đại.

5.- Gợi ý suy niệm

1. Qua bản văn này, chúng ta thấy Đức Giêsu nói về Chúa Cha và Thánh Thần như là những nhân vật riêng biệt, khác với chính bản thân Người. Người giới thiệu Chúa Cha như là nguồn mạch thông ban mọi sự: Chúa Cha sai phái Chúa Con và Thánh Thần; Chúa Con luôn quy chiếu về Chúa Cha để nhận Lời mà truyền đạt cho các môn đệ, cũng như để lấy các quyết định. Chúa Con công chính hóa loài người, ban cho họ sự bình an của Người và ký thác cho họ quyền lực giao hòa. Người nói về Thánh Thần như là một nhân vật mà người ta đang chờ đợi, sẽ đến để hoàn tất một sứ mạng riêng, đó là đưa các môn đệ đến chỗ hiểu kỹ càng hơn trọn vẹn mạc khải Đức Giêsu đã ban. Đàng khác, Người cũng cho thấy là Chúa Cha và Thánh Thần kết hợp mật thiết với Người, đến nỗi Đấng này không làm gì mà không có Đấng kia. Sự tách biệt nói lên tính tự lập, sự kết hợp nói lên sự hiệp thông trọn vẹn. Đây là mẫu mực cho đời sống của mọi tập thể trong Họi Thánh.

2. Mặc dù Đức Giêsu đã truyền đạt cho các môn đệ tất cả các bí mật của Người (Ga 15,15), các ông vẫn chưa hiểu được. Các ông cần một phương pháp thích ứng mà Thánh Thần, với khoa sư phạm riêng, sẽ cung cấp cho. Thánh Thần không phải là một vị thầy giảng dạy, nhưng là một vị "gia sư" giải thích cặn kẽ giáo huấn của vị thầy. Như vậy, Thánh Thần không có giáo thuyết riêng; Ngài chỉ nhắc lại mạc khải về Chúa Cha nơi Chúa Con và giúp các môn đệ hiểu (14,26). Thánh Thần cũng giúp các thế hệ môn đệ hiểu được mạc khải của Đức Kitô và chọn được các xử sự tương ứng. Đưa lại một ư nghĩa Kitô giáo cho lịch sử, giúp người ta khám phá ra trong mọi sự có dấu vết của chương trình Thiên Chúa, đó là sứ mạng của Thánh Thần nơi các môn đệ, và đó cũng là sứ mạng chứng nhân của họ.

3. Từ ngữ "sự thật" trong truyền thống Kinh Thánh hàm ý "sự vững vàng", "sự bền bỉ", "thực tại chắc chắn". Sự thật của Thiên Chúa được tỏ bày nơi Đức Kitô (Ga 1,9). Vậy điểm tựa vững chắc của người tín hữu là Đức Giêsu Kitô (Ga 1,12). Thánh Thần sẽ giúp các tín hữu xác tín về vai trò này của Đức Giêsu và luôn liên kết với Người.

Lm. F.X. Vũ Phan Long, ofm

 

Trở về mục lục >>

 

Sống Linh Đạo Phan Sinh Tại Thế

Chương III của Luật 1978;

3.- Điều 23Điều kiện gia nhập Dòng

"...Việc gia nhập Dòng gồm: một thời gian tìm hiểu, một thời kỳ huấn luyện ít là một năm và việc tuyên khấn giữ luật Dòng..."

Tại Điều 37.2, Tổng Hiến Chương ghi: "Hành trình huấn luyện bắt đầu từ khi gia nhập Huynh đệ đoàn và phải trải dài suốt cả cuộc đời...”

Ngoài ra, điều luật 23 cũng quy định việc làm của những người có trách nhiệm phục vụ cũng như của Huynh đệ đoàn. Trong phần dưới đây chúng ta sẽ chia ra để bàn bạc về từng thời kỳ.

a). Thời kỳ Tìm hiểu: (TKTH)

Thời gian này Tổng Hiến Chương gọi là thời kỳ khai tâm. Và Tổng Hiến Chương cũng dành cho Nội Quy Quốc Gia ấn định chiều dài của thời kỳ này. Còn điều 38.1, thì Tổng Hiến Chương khẳng định nhu cầu mục đích của thời kỳ này như sau: "Thời kỳ này phải bảo đảm cho việc nhập Dòng Phan Sinh Tại Thế được tự do và nghiêm túc."

Xin chia sẻ một vài kinh nghiệm bản thân trong việc huấn luyện ứng sinh trong thời kỳ này.

Trước hết nói về mặt tâm lý: Trên nguyên tắc, ơn gọi phải là do chính Chúa Thánh Thần thúc đẩy, nhưng trên thực tế, nhiều khi chúng ta mời một người vào Dòng còn có mục đích khác, đó là: "... làm cho huynh đệ đoàn chúng ta thêm lớn mạnh cả về số lượng lẫn nhân đức.” (Sách nghi thức, lời phát biểu của anh/chị Phục Vụ trong nghi thức tiếp nhận một thành viên); người được mời gọi vào Dòng Phan Sinh Tại Thế chưa hiểu gì về Ơn Gọi, chưa khẳng định được mình có ơn gọi, và phần nhiều là họ tò mò, hoặc vị nể, hoặc muốn một cuộc sống tâm linh tốt đẹp hơn. Ngoài những lý do tích cực ấy, thì đôi khi cũng có lư do tiêu cực: "màu cờ sắc áo", chỗ đứng trong giáo xứ, cơ hội... Vì những lý do đó, có tài liệu hướng dẫn thời kỳ này khuyên: "Xin đừng ai cho rằng thời kỳ huấn luyện chỉ là thời kỳ tạm vì anh chị em chưa gắn bó với mình, rồi do đó mà lơ là việc huấn luyện. Trái lại, phải cho rằng thời kỳ này là quan trọng. Nó sẽ hình thành nơi ứng sinh những ấn tượng sâu sắc, những hiểu biết cơ bản..." (Tài liệu Huấn luyện TKTH, 1998).

Thực tiễn: Thời kỳ tìm hiểu kéo dài từ khi mới tới làm quen với các buổi sinh hoạt (mới là cảm tình viên), cho đến khi thấm nhuần ơn gọi và đủ nhận thức để tự do và tự nguyện gia nhập Dòng. Trên thực tế, nhiều nơi đã tiếp nhận ứng sinh chưa chín mùi, mà chỉ là vì thời gian đã đủ. Có khi lại kéo dài quá đáng, và đòi nhiều điều kiện khắt khe hơn luật định. Hiện tại, Dòng Phan SInh Tại Thế Việt Nam đã có tài liệu (dịch từ Trung Ương Dòng), ấn hành năm 2003, với 6 bài học, có phần kiểm tra rất hiện đại và dễ thực hiện.

Mục tiêu huấn luyện của thời kỳ huấn luyện: 3 chiều kích huấn luyện đều cần thiết như nhau, nhưng đặc biệt có chiều kích thứ 3 “Phan Sinh Học” là mới mẻ đối với một Kitô hữu muốn gia nhập Dòng. Chúng tôi thường nhờ các Vị Trợ Úy, các giáo sư, các giáo viên, và các giáo lý viên khác phụ giúp trong việc huấn luyện chiều kích Kitô Giáo, và Nhân bản. Riêng về chiều kích Phan Sinh, chúng ta có rất nhiều tài liệu để tham khảo. Trong các tài liệu tham khảo này, chúng tôi đề nghị đừng bỏ qua Hạnh Thánh Phanxicô, và Bút Tích. Mục tiêu của thời kỳ huấn luyện này, ngoài lý thuyết như đã nói trên, Ứng sinh cần chứng tỏ mình là một Kitô hữu bình thường có lòng ước ao tiến lên trong đường nhân đức.

Lời đề nghị cuối: Bản tính của Phan Sinh thường là nói thẳng nói thật, (có khi nói to tiếng), thế mà người mới vào lại nhút nhát và hay ấn tượng. Vậy, để giúp đỡ các ứng sinh vui vẻ và tự tin trong việc gia nhập Dòng, chúng ta, những người đi trước nên dè dặt trong cách tranh luận, (ngay thẳng nhưng không gay gắt, không bảo thủ ý kiến, không cãi nhau), cần tập thói quen nhìn mọi việc từ phía sáng; cố gắng tìm cho ra những điều tốt trong anh chị em, cũng tìm hiểu những điều mà anh chị em cần làm tốt hơn, để giúp anh chị em. Với phong cách cử chỉ và lời nói hoà nhã, chúng ta giúp anh chị em đến với Dòng dễ dàng hơn.

 Phêrô Nguyễn Đức Tiến; sfo

 

Trở về mục lục >>
 

Bài 43: Thánh Danh Thiên Chúa

(Xh 3,13-15)

Trong câu mở đầu cuộc đối thoại với ông Môsê, Thiên Chúa đã tự mặc khải mình như là "Thiên Chúa của Apraham, Thiên Chúa của Ixaac, Thiên Chúa của Giacóp" (Xh 3,6). Nhưng ông Môsê cảm thấy như chưa đủ rõ ràng. Để cho sứ mạng của mình có cơ sở vững vàng trước mặt dân, ông đánh bạo hỏi tên Thiên Chúa: "Nếu họ hỏi con: Tên Đấng ấy là gì, thì con sẽ nói với họ làm sao?" Đây là một lời xin thật táo bạo, vì đối với người Do Thái, tên một người là chính người ấy. Biết tên của ai tức là đã có quyền hành phần nào đó trên người ấy. Trong một số tôn giáo, người ta đọc tên của một vị thần như một câu thần chú, để bắt vị thần ấy thực hiện những nguyện vọng của mình.

Thiên Chúa cũng đã nhượng bộ và nói tên mình cho ông Môsê: "Ta là Đấng hiên hữu" (Xh 3,14). Tiếng Do thái "Giavê" ở đây rất súc tích, cho nên rất khó dịch (người ta đã nêu ra hơn 10 cách dịch). Chúng ta có thể ghi nhận hai ý nghĩa cơ bản:

a. Thiên Chúa không thể nói tên mình ra một cách rõ ràng cho người phàm được, vì Người là Đấng vô cùng cao cả, còn con người lại là một thụ tạo có giới hạn. Xưa kia ông Gia cóp cũng đã xin được biết tên Thiên Chúa và đã được Người trả lời: "Sao ngươi lại hỏi tên Ta" (St 32,30). Từ đó, người ta có thể dịch câu nói của Thiên Chúa như sau: "Ta có sao, Ta có vậy!" (x. Lm. Nguyễn Thế Thuấn, Kinh-thánh, 1976, tr.124). Thiên Chúa là Thiên Chúa, và con người không thể "đóng khung" Người trong một công thức hay trong một quan niệm nhân loại.

b. Việc Thiên Chúa mặc khải tên mình ra như vậy, biểu lộ một hồng ân: Người muốn trao ban sự hiện diện của mình cho con người. "Ta hiện hữu" ở đây mang một ư nghĩa đầy năng động vì Đấng mặc khải tên mình ra đây là một ngôi vị đang nói, đang hoạt động và đang quan tâm đến Dân Người. Vì thế "Ta hiện hữu" có nghĩa là "Ta hiện diện đó với các con". Ư nghĩa của Danh Thiên Chúa sau này sẽ được sáng tỏ hơn qua một lần mặc khải khác khi Thiên Chúa tuyên bố: "Giavê! Giavê! Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín" (Xh 34,6).

Lm. Norbert Nguyễn Văn Khanh, ofm


Trở về mục lục >>
 

Yêu Thương Theo Lời Của Chúa

Lạy Chúa, Chúa đã phán: "vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu."(1John 4:7-8). Xin Chúa giúp chúng con luôn biết: "yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương chúng con."(Gn 13:34) Xin cho chúng con biết rằng "Lòng bác ái không được giả hình giả bộ, và phải coi người khác đáng kính trọng hơn mình"(Rm12:9-10), biết "tha thiết yêu mến nhau với tất cả tâm hồn."(1Phêrô 1:22), "đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm."(1 Gn 3:18) Xin cho chúng con "có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hoà và nhẫn nại, chịu đựng và tha thứ cho nhau".(Col3:12-13) để "Mọi người sẽ nhận biết chúng con là môn đệ của Thầy."(Gn13:35). Amen.

Maria

 

Trở về mục lục >>
 

Đức Maria Trong Tuyền Thống Thần Học PS

II. DÒNG ANH EM HÈN MỌN VỚI TÍN ĐIỀU ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI

C. THÀNH QUẢ CUỐI CÙNG

Cuộc phấn đấu của Dòng Anh Em Hèn Mọn đã trải qua hơn 6 thế kỷ và đạt được kết thúc mỹ mãn vào ngày 8-12-1854, ngày mà Giáo Hội định tín đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội của Đức Mẹ. Chúa Quan phòng đã dành vinh dự ấy cho một người con của thánh Phanxicô; đó là Đức Giáo Hoàng Piô IX, thành viên của Dòng Ba Phanxicô.

Năm 1847, Vị Giáo hoàng này tới thăm nhà dòng thánh Bonaventura ở Rôma, và bắt gặp lá thư viết tay của thánh Léonard de Port-Maurice kêu gọi những người hữu trách hãy phát huy việc tôn sùng Đức Mẹ Vô nhiễm. Người cảm thấy rất được khích lệ, nên cho chép lại lá thư ấy. Theo gợi ý của thánh Léonard trong thư, Người xin tất cả các Giám mục trên thế giới hãy tường trình về các truyền thống trong giáo phận của mình liên hệ đến vấn đề Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Rồi Người lập một ủy ban đặc biệt nghiên cứu cẩn thận các truyền thống và các ý kiến đó. Công việc đã này kéo dài 5 năm. Sau đó Đức Giáo Hoàng ra thông điệp “Ineffabilis Deus”, tuyên bố đặc ân Đức Mẹ Vô nhiễm nguyên tội là một tín điều.

Trong thánh lễ trọng thể tuyên bố tín điều, ba vị Tổng Phục Vụ của ba nhánh Dòng Anh Em Hèn Mọn được Đức Thánh Cha chọn làm người chính thức đệ đơn thỉnh nguyện. Ngày hôm ấy là một ngày vui lớn lao cho Giáo Hội nói chung và cho Dòng Anh Em Hèn Mọn nói riêng.

Việc định tín ấy cũng là một lời chứng của Giáo Hội xác nhận quan điểm Thánh Mẫu Học của Duns Scot là đúng, trong lúc chờ đợi ngày mà Đức Giáo Hoàng Phaolô VI tuyên bố rằng toàn bộ học thuyết của nhà thần học Phan Sinh ấy không có gì sai lạc (1977).

Cũng vì đóng góp suy tư của mình mà Duns Scot được các thế hệ về sau gọi bằng những tước hiệu như “Tiến sĩ tinh vi” (doctor subtilis) và "Tiến sĩ của Đức Maria” (doctor marialis).

III. DÒNG ANH EM HÈN MỌN VỚI TÍN ĐIỀU ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI

Niềm tin vào việc Đức Maria được Thiên Chúa đưa về trời cả hồn lẫn xác, đã có từ lâu đời. Tại Giêrusalem đã có nhà thờ dâng kính Đức Mẹ lên trời vào giữa thế kỷ V, tức là nhiều thế kỷ trước khi người ta có ý niệm về đặc ân Đức Mẹ Vô nhiễm nguyên tội. Thế kỷ VI bên Đông phương, và thế kỷ VII tại Rôma đã có thánh lễ kính "Đức Maria ngủ” (Dormitio Mariae): lễ này về sau trở thành lễ "Đức Mẹ lên trời". Nhưng có thể nói là từ thế kỷ VIII tới thế kỷ XII, niềm tin vào đặc ân Đức Mẹ lên trời đã bị lu mờ đi phần nào do ảnh hưởng một tiểu phẩm nguỵ thư đội tên thánh Giêrôm; tiểu phẩm này (x. Epist. 9: Cogitis) cho rằng niềm tin vào việc Đức Mẹ lên trời quá lệ thuộc vào những câu chuyện dân gian. Dòng Anh Em Hèn Mọn sẽ đóng góp vào việc khơi dậy niềm tin ấy và cũng giữ một vai trò rất tích cực trong việc giúp đỡ Giáo Hội tiến tới việc định tín ấy.

Trước hết chúng ta cũng nên lưu ý tới một viễn cảnh mới mẻ trong khoa thần học về Đức Mẹ vào thời kỳ ấy. Cho tới cuối thế kỷ XI, người ta chỉ nhìn Đức Maria vào giây phút đầu tiên của công trình cứu chuộc, tức là vào giây phút Ngôi Lời Nhập thể. Từ nay người ta sẽ còn chú ý tới vai trò của Bà trong diễn tiến toàn bộ của công trình cứu chuộc. Bà đã được nhìn như là Mẹ của Đức Kitô, nhưng chưa được nhìn như là cộng sự viên thường xuyên của Người. Từ nay người ta bắt đầu chiêm ngắm Đức Maria luôn luôn hiệp thông với Đức Kitô trong các “sự thương” cũng như trong các “sự vui”, trong cuộc khổ nạn, cũng như trong vinh quang Phục Sinh. Trước đây người ta thường chỉ trình bày Đức Maria như mẫu mực nhân đức cho Giáo Hội, từ nay Bà còn được trình bày như là nữ hoàng, là mẹ, và là trung gian mọi ân sủng cho loài người. (còn tiếp)

 Lm. Norbert Nguyễn Văn Khanh, ofm
 

Trở về mục lục >>
 

Hãy Yêu Chúa vì Được Chúa Yêu

Các cháu thân mến,

Tuần này, trong nhà thờ mà cô đi dự lễ ngày Chủ nhật. Có mấy anh chị độ 15,16 tuổi ngồi phía sau cô nói cười khúc khích gần nữa giờ lễ làm những người xung quanh bị lo ra. Một người đàn bà Tây đã lớn tiếng rầy họ, tự nhiên cô nhớ đến các cháu, không biết có cháu nào trong những cháu của cô làm như vậy không nhỉ?

Các cháu biết không, cũng trong thánh lễ này, có mấy anh chị em nhỏ được Rước Chúa Lần Đầu. Cô quì bên dưới nhìn các anh chị trong những bộ đồ chỉnh tề, từng người, từng người lên rước Mình Thánh Chúa, nước mắt cô tuôn ra, trong lòng nghe nhớ và thương một cái gì đó, thật mãnh liệt! Không biết có phải cô nhớ lại cái cảm xúc hạnh phúc khi được Chúa ngự vào lòng mình lần đầu chăng? Hay cô đang thấy các anh chị bên bàn thờ đang may mắn quá. Họ đang yêu thương ôm ấp Chúa. Họ đang có niềm vui mà rất rất nhiều trẻ em trên thế giới này chưa, hay không bao giờ nhận được!

Các cháu thân mến của cô! Cô muốn chia sẻ với các cháu một chút về cảm nghĩ của mình vì suốt đời được làm con Chúa. Các cháu đọc những lời này của cô, rồi hỏi dò ông bà, cha mẹ của các cháu xem có giống nhau không nha. Nếu ông bà, cha mẹ các cháu trả lời giống như những gì cô đã tâm sự với các cháu thì sau này, khi các cháu trở thành người lớn, các cháu cũng sẽ cảm nhận như cô vậy!

Các cháu biết không. Lúc cô còn nhỏ, giữ đạo đối với cô là đến nhà thờ, dự lễ, đọc kinh, ca hát, giữ các điều răn thật kỹ, như là muốn nói với mọi người, tôi là người Công Giáo, một người Công Giáo tốt, và cô đã cố giữ như vậy. Nhưng dần dần, việc tranh sống, vất vả, vui có, buồn có, rải rác trong cuộc đời khiến cô bị ảnh hưởng, lúc chán nản xa rời, lúc than van chạy đến níu kéo Chúa -nơi nương tựa duy nhất của mình- Có khi quá kêu nài, cô đã hoảng hốt, sợ hãi khi không thấy kết quả như mình mong muốn.

Các cháu thân mến của cô. Trong cuộc sống, nếu chúng ta biết Chúa, yêu Chúa, cảm nhận có Chúa, và được Chúa yêu; và chỉ cần bấy nhiêu thôi, các cháu sẽ dễ dàng vượt qua những lúc gặp khó khăn, buồn chán mà cuộc sống của con người khó tránh khỏi. Nói cách khác, nếu các cháu hiểu rằng trong mỗi bước đường các cháu đi, mỗi việc các cháu làm, đều luôn có Chúa ở bên cạnh an ủi, vổ về. Các cháu hãy tâm sự với Ngài, phó thác ở Ngài, các cháu sẽ được sống hạnh phúc trọn đời với Ngài.

Cô thương chúc các cháu thân yêu của cô luôn sống trong tình yêu thương của Chúa. Mỗi giờ mỗi phút, các cháu phải biết trân trọng. Những chuyện cần đùa giỡn, các cháu vẫn đùa giỡn, nhưng nhất định không phải là nơi và giờ đang chúc tụng, thờ phượng Thiên Chúa Tình Yêu của chúng ta. Cho cô kính lời thăm tất cả gia đình các cháu. Mong mọi người đều qua một mùa hè vui và hạnh phúc.

Cô Thể Xuân

Trở về mục lục >>

 

 

Bài 9: Gia Đình;

Hạt Nhân và Nguồn Mạch của Thiện Ích Trong Xã Hội

1. Kinh Thánh: (Cv 9, 42-47) 42 Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng. 43 Mọi người đều kinh sợ vì các Tông Đồ làm nhiều điềm thiêng dấu lạ. 44 Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. 45 Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mọi người tuỳ theo nhu cầu. 46 Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền Thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. 47 Họ ca tụng Thiên Chúa và được toàn dân thương mến. Và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ.

2. Suy tư: Gia đình có những mối dây liên kết sinh động và hữu cơ với xã hội, bởi vì gia đình là nền tảng của xã hội và liên tục nuôi dưỡng nó qua vai trò phục vụ cho sự sống. Chính từ gia đình mà các công dân sinh ra, và chính trong gia đình mà lần đầu tiên họ được học những đức tính xã hội linh hoạt các nguyên tắc của cuộc sống và sự phát triển của chính xã hội. Vì thế, thay vì khép kín vào chính mình, gia đình, do bản tính và ơn gọi, cởi mở với các gia đình khác và với xã hội, và đảm nhận vai trò xã hội của mình.

3. Gia đình, một chủ thế xã hội: Quả vậy, gia đình là một cộng đoàn gồm những nhân vị mà cách thức riêng để hiện hữu và sống chung với nhau là hiệp thông: communio personnarum (hiệp thông của các nhân vị). Vì thế gia đình là ngôi trường đầu tiên và cơ bản của cuộc sống xã hội: là một cộng đoàn tình yêu, gia đình tìm thấy trong việc tự hiến lề luật hướng dẫn và làm cho tăng trưởng. Sự tự nhiên đã thúc đẩy người chồng và người vợ yêu mến lẫn nhau, là gương mẫu và quy phạm cho việc tự hiến cần được thực hiện trong mối tương quan giữa anh em và chị em và các thế hệ khác nhau đang chung sống trong gia đình. Sự hiệp thông và sự chia sẻ được sống mỗi ngày trong gia đình, khi vui cũng như lúc gặp khó khăn, là phương thức giáo dục cụ thể và có hiệu quả nhất cho việc tháp nhập tích cực, có trách nhiệm và có rất nhiều hoa trái của con cái vào chân trời rộng lớn của xã hội.

Mỗi người là một quà tặng cho anh em, chị em, cha mẹ và toàn thể gia đình. Cuộc sống của nó trở thành một quà tặng cho chính người đã ban cho nó sự sống và người ấy không thể không cảm thấy sự hiện diện, sự tham gia của nó vào trong cuộc sống của mình và sự đóng góp của nó vào sự thiện hảo chung và thiện hảo của cộng đoàn gia đình. Sự thật đó khá hiển nhiên trong sự đơn sơ và sâu sắc, dầu tính phức tạp và ngay cả bệnh lý có thể xảy ra do cơ cấu tâm lý của một vài người. Thiện ích chung của toàn thể xã hội ở nơi con người: như chúng ta đã nói, con người là "con đường của Hội Thánh”.

Chính kinh nghiệm hiệp thông và chia sẻ, vốn phải là đặc tính của cuộc sống gia đình mỗi ngày, là sự đóng góp đầu tiên và cơ bản cho xã hội. Mối tương quan giữa các thành viên của cộng đoàn gia đình được gợi hứng và được hướng dẫn bởi lề luật là "tình nhưng không". Bằng cách kính trọng và yêu quý phẩm giá riêng trong mỗi người và mọi người như nền tảng duy nhất của giá trị, tính nhưng không này mang hình thức của sự chấp nhận chân thành, gặp gỡ và trao đổi, sự sẵn sàng vô vị lợi, quảng đại phục vụ và liên đới sâu xa.

4. Ngôi trường đầu tiên của cuộc sống xã hội: Vì thế cổ võ một sự hiệp thông đích thực và trưởng thành giữa những người trong gia đình là ngôi trường đầu tiên và không thể thay thế được của cuộc sống xã hội, là một gương sáng và kích thích mở rộng mối tương quan của cộng đoàn với những đặc điểm như lòng kính trọng, công bình, trao đổi và tình yêu. Vì thế gia đình là cái nôi và phương thế hiệu quả nhất để nhân bản hoá và nhân cách hoá xã hội: chính gia đình góp phần cách độc đáo và sâu sắc vào việc xây dựng thế giới làm cho một cuộc sống thật sự nhân bản có thể có được, nhất là bằng cách bảo vệ và chuyển giao các đức tính và các "giá trị". Bởi vậy, khi đối diện với một xã hội có nguy cơ ngày càng mất nhân cách và trở nên vô danh, và vì thế vô nhân đạo và mất tính người, với những hậu quả tiêu cực là nhiều hình thức thoát ly thực tế -chẳng hạn như nghiện ngập, ma tuý và ngay cả khủng bố- gia đình sở hữu và vẫn tiếp tục toả lan những năng lực phi thường có khả năng lôi kéo con người ra khỏi sự vô danh, thức tỉnh con người chú ư đến phẩm giá nhân vị của mình, mặc cho con người một nhân tính sâu xa và tích cực đặt con người, với tính duy nhất và độc đáo của mình vào trong cơ cấu xã hội.

5. Các quyền của gia đình và quyền sống: Tính liên đới cũng cần được thực thi qua việc tham dự vào đời sống xã hội và chính trị. Vì thế, phục vụ cho Tin Mừng sự sống có nghĩa là gia đình, đặc biệt qua việc tham gia vào các hiệp hội gia đình, hành động để bảo đảm rằng luật lệ và thể chế của quốc gia không vi phạm quyền sống, từ lúc thụ thai cho đến cái chết tự nhiên, nhưng bảo vệ và cổ võ quyền ấy.

Lẽ dĩ nhiên Hiến Chương các quyền của gia đình cũng nhắm đến các gia đình: Mục tiêu của nó là làm cho các gia đình ý thức hơn nữa đến vai trò và vị trí không thể thay thế được của gia đình; nó muốn các gia đình liên kết với nhau để bảo vệ và thăng tiến các quyền gia đình; nó khuyến khích các gia đình chu toàn bổn phận thế nào để vai trò của gia đình được hiểu biết rõ ràng hơn và được nhìn nhận trong thế giới hôm nay.

6. Trao đổi:

a) Gia đình là một trường học của đời sống xã hội có nghĩa gì?

b) Đâu là vai trò của các gia đình trong việc tôn trọng các quyền gia đình và bảo vệ sự sống ngay từ lúc thụ thai?

(Trích tài liệu của Hội Đồng Giáo Hoàng về Gia Đình)

Lm. Irênê Nguyễn Thanh Minh, ofm

 

Trở về mục lục >>

 

Bài 9: Gia Đình;

Hạt Nhân và Nguồn Mạch của Thiện Ích Trong Xã Hội

1. Kinh Thánh: (Cv 9, 42-47) 42 Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng. 43 Mọi người đều kinh sợ vì các Tông Đồ làm nhiều điềm thiêng dấu lạ. 44 Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. 45 Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mọi người tuỳ theo nhu cầu. 46 Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền Thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. 47 Họ ca tụng Thiên Chúa và được toàn dân thương mến. Và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ.

2. Suy tư: Gia đình có những mối dây liên kết sinh động và hữu cơ với xã hội, bởi vì gia đình là nền tảng của xã hội và liên tục nuôi dưỡng nó qua vai trò phục vụ cho sự sống. Chính từ gia đình mà các công dân sinh ra, và chính trong gia đình mà lần đầu tiên họ được học những đức tính xã hội linh hoạt các nguyên tắc của cuộc sống và sự phát triển của chính xã hội. Vì thế, thay vì khép kín vào chính mình, gia đình, do bản tính và ơn gọi, cởi mở với các gia đình khác và với xã hội, và đảm nhận vai trò xã hội của mình.

3. Gia đình, một chủ thế xã hội: Quả vậy, gia đình là một cộng đoàn gồm những nhân vị mà cách thức riêng để hiện hữu và sống chung với nhau là hiệp thông: communio personnarum (hiệp thông của các nhân vị). Vì thế gia đình là ngôi trường đầu tiên và cơ bản của cuộc sống xã hội: là một cộng đoàn tình yêu, gia đình tìm thấy trong việc tự hiến lề luật hướng dẫn và làm cho tăng trưởng. Sự tự nhiên đã thúc đẩy người chồng và người vợ yêu mến lẫn nhau, là gương mẫu và quy phạm cho việc tự hiến cần được thực hiện trong mối tương quan giữa anh em và chị em và các thế hệ khác nhau đang chung sống trong gia đình. Sự hiệp thông và sự chia sẻ được sống mỗi ngày trong gia đình, khi vui cũng như lúc gặp khó khăn, là phương thức giáo dục cụ thể và có hiệu quả nhất cho việc tháp nhập tích cực, có trách nhiệm và có rất nhiều hoa trái của con cái vào chân trời rộng lớn của xã hội.

Mỗi người là một quà tặng cho anh em, chị em, cha mẹ và toàn thể gia đình. Cuộc sống của nó trở thành một quà tặng cho chính người đã ban cho nó sự sống và người ấy không thể không cảm thấy sự hiện diện, sự tham gia của nó vào trong cuộc sống của mình và sự đóng góp của nó vào sự thiện hảo chung và thiện hảo của cộng đoàn gia đình. Sự thật đó khá hiển nhiên trong sự đơn sơ và sâu sắc, dầu tính phức tạp và ngay cả bệnh lý có thể xảy ra do cơ cấu tâm lý của một vài người. Thiện ích chung của toàn thể xã hội ở nơi con người: như chúng ta đã nói, con người là "con đường của Hội Thánh”.

Chính kinh nghiệm hiệp thông và chia sẻ, vốn phải là đặc tính của cuộc sống gia đình mỗi ngày, là sự đóng góp đầu tiên và cơ bản cho xã hội. Mối tương quan giữa các thành viên của cộng đoàn gia đình được gợi hứng và được hướng dẫn bởi lề luật là "tình nhưng không". Bằng cách kính trọng và yêu quý phẩm giá riêng trong mỗi người và mọi người như nền tảng duy nhất của giá trị, tính nhưng không này mang hình thức của sự chấp nhận chân thành, gặp gỡ và trao đổi, sự sẵn sàng vô vị lợi, quảng đại phục vụ và liên đới sâu xa.

4. Ngôi trường đầu tiên của cuộc sống xã hội: Vì thế cổ võ một sự hiệp thông đích thực và trưởng thành giữa những người trong gia đình là ngôi trường đầu tiên và không thể thay thế được của cuộc sống xã hội, là một gương sáng và kích thích mở rộng mối tương quan của cộng đoàn với những đặc điểm như lòng kính trọng, công bình, trao đổi và tình yêu. Vì thế gia đình là cái nôi và phương thế hiệu quả nhất để nhân bản hoá và nhân cách hoá xã hội: chính gia đình góp phần cách độc đáo và sâu sắc vào việc xây dựng thế giới làm cho một cuộc sống thật sự nhân bản có thể có được, nhất là bằng cách bảo vệ và chuyển giao các đức tính và các "giá trị". Bởi vậy, khi đối diện với một xã hội có nguy cơ ngày càng mất nhân cách và trở nên vô danh, và vì thế vô nhân đạo và mất tính người, với những hậu quả tiêu cực là nhiều hình thức thoát ly thực tế -chẳng hạn như nghiện ngập, ma tuý và ngay cả khủng bố- gia đình sở hữu và vẫn tiếp tục toả lan những năng lực phi thường có khả năng lôi kéo con người ra khỏi sự vô danh, thức tỉnh con người chú ư đến phẩm giá nhân vị của mình, mặc cho con người một nhân tính sâu xa và tích cực đặt con người, với tính duy nhất và độc đáo của mình vào trong cơ cấu xã hội.

5. Các quyền của gia đình và quyền sống: Tính liên đới cũng cần được thực thi qua việc tham dự vào đời sống xã hội và chính trị. Vì thế, phục vụ cho Tin Mừng sự sống có nghĩa là gia đình, đặc biệt qua việc tham gia vào các hiệp hội gia đình, hành động để bảo đảm rằng luật lệ và thể chế của quốc gia không vi phạm quyền sống, từ lúc thụ thai cho đến cái chết tự nhiên, nhưng bảo vệ và cổ võ quyền ấy.

Lẽ dĩ nhiên Hiến Chương các quyền của gia đình cũng nhắm đến các gia đình: Mục tiêu của nó là làm cho các gia đình ý thức hơn nữa đến vai trò và vị trí không thể thay thế được của gia đình; nó muốn các gia đình liên kết với nhau để bảo vệ và thăng tiến các quyền gia đình; nó khuyến khích các gia đình chu toàn bổn phận thế nào để vai trò của gia đình được hiểu biết rõ ràng hơn và được nhìn nhận trong thế giới hôm nay.

6. Trao đổi:

a) Gia đình là một trường học của đời sống xã hội có nghĩa gì?

b) Đâu là vai trò của các gia đình trong việc tôn trọng các quyền gia đình và bảo vệ sự sống ngay từ lúc thụ thai?

(Trích tài liệu của Hội Đồng Giáo Hoàng về Gia Đình)

MK

Trở về mục lục >>
 

 
 

THƯ CHO ÁO NÂU

Quê Hương và Linh Đạo

Anh thân yêu,

Với khoảng thời gian hơn 30 năm dài dằng dặc, em mới có dịp trở về thăm quê hương, và cũng là dịp để dự buổi họp mặt với những cựu học sinh cùng lớp của thời con gái.

Thời thơ ấu ấy lại tái hiện trong tâm tư em. Một tình yêu mãnh liệt đối với quê hương, với bạn bè và với mọi người, cả với những ruộng lúa, vườn khoai, nương rau... lại ào ạt dâng tràn trong tim.

Hôm trở về, chiếc xe vừa ngừng, em chạy ngay vào nhà họ hàng, tay bắt mặt mừng, tỏ lời chào và thăm hỏi... Mùi thơm ngọt của hoa sứ thoang thoảng đưa em vào những kỷ niệm xưa. Rồi em chạy vội ra đồng, nơi đã ghi dấu chân em thời còn nhỏ. Trước mắt em, những ô ruộng lúa con gái xanh xanh, xen vào những đám lúa già hơn, toả ngát mùi sữa của thời chắc hạt. Cũng có những đám lúa đã ngả màu vàng rất thơ mộng. Dưới chân lúa, nước trong xanh, những em cá con, những cậu tép trắng đục tung tăng bơi lội. Đẹp mắt thật Anh ạ. Xa xa, những anh trâu gặm cỏ, thi thoảng ngước lên nghe ngóng tiếng sáo ai đang thổi, hay ngó người qua đường hoặc các anh ấy tìm bạn! Mấy em sáo giúp đuổi ruồi cho anh trâu.

Xa hơn, phía đồi núi, thác nước ào ào tuôn đổ, phủ một lớp bông trắng xoá xuống khoảng không bên dưới. Các "cụ" cổ thụ lớn cao chót vót, che chắn cho các em thấp hơn, tất cả hoà mình vào bầu trời trong xanh thật "An Bình và Thiện Hảo".

Ngoạn mục quá, cảm động quá. Cảm tạ công trình của Chúa. Em nghĩ ra được ư nghĩa của việc sống hợp đồng. Bản giao hưởng “Đồng Quê" này chỉ có một nhạc trưởng duy nhất -vừa là tác giả vừa là chỉ huy dàn nhạc- là Đấng Thượng Tôn Chí Thánh mà Anh luôn ca ngợi tung hô. Ngài không chỉ sáng tác, mà còn đặt vào tác phẩm linh hồn của vật thể, âm thanh của thinh lặng, yên tĩnh của náo động.

Thưa Anh, mời Anh về trong những ngôi "biệt thự" quê nhà; Nơi đây tay cầm tay, lời trao lời, người mến người, nụ cười nở trên môi, hầu hết mọi người đang thoả thích hưởng không khí đồng quê. Gia súc gia cầm cũng đang sống thanh bình thoải mái. Các bà gà mẹ cục cục gọi đàn con khi kiếm được tí thức ăn trong vườn; mấy chú cún con rượt đuổi nhau, vật lộn nhau, nhe răng trợn mắt rồi cười với nhau.

Không còn chiến tranh nữa Anh thân yêu ơi, không còn nghe tiếng súng đùng đùng, oàng oàng, không còn B52 trên bầu trời, không còn đạn pháo từ bóng tối hay từ rừng rậm chĩa vào thôn làng cách vô tội vạ. Thời ấy qua rồi; vết đau cũng được hàn gắn rồi, nhưng vết sẹo đã lành chưa thì tùy mỗi người cảm nhận, còn em thì thấy rõ là Chúa đã "xức dầu" cho những vết thương quê hương ấy.

Trong buổi họp lớp, bên cạnh các bạn cũ, với một số thầy cô, em mới nhận ra mình quá nhỏ bé -nhỏ bé về mọi mặt- mình chưa làm được việc gì khả dĩ có ích cho đồng loại, cho quê hương như anh chị em khác; Em thua kém bạn bè ở quê nhà quá nhiều. Trong thời gian em xa quê, những người bạn em đã làm được rất nhiều việc hữu ích và rất "Kitô Hữu" rất "phục vụ", mặc dù đa số họ là người lương, tỉ dụ như quan tâm giúp đỡ mọi người, nâng đỡ việc học hành cho con em, thăm viếng ủy lạo người già cả neo đơn, thăm viếng, chăm sóc phần mộ các thân nhân. Tình đoàn kết gắn bó thiêng liêng ấy đã giúp mọi người vượt qua giai đoạn khó khăn dai dẳng của đất nước. Đó! Anh ạ, em yêu quê hương là như vậy.

Trong niềm vui này, chợt em nghĩ đến bao người khác kém may mắn hơn em, chưa một lần được về thăm quê hương, cả những người ở nước ngoài, mà chưa một lần về toại nguyện. Chắc chắn họ cũng đang ray rứt, đang mơ ước một ngày đoàn tụ.

Em trao cho anh niềm tin cậy và phó thác. Xin Anh cho em được mạnh dạn làm những việc Anh đã dạy để thực thi “Sống Đạo Hôm Nay”. Xin tạm biệt Anh.

â Kim Gương

VẦN THƠ PHAN SINH

Sống Thánh Kinh Suốt Đời

Từ khi tôi bước vào Dòng,

Lúc nào cũng thấy cõi lòng bình-an.

Nụ cười Dòng đẹp vô vàn,

Mắt Dòng lóng-lánh muôn ngàn kim-cương

Tim Dòng là ngọc là vàng

Óc Dòng là một kho tàng khôn-ngoan.

Mẹ tôi tên gọi là Phan,

Phan sinh - phan cậy hoàn-toàn giống nhau

Cho nên tôi vẫn nguyện-cầu

Cho tôi được sống thiên-thu với Dòng.

Xin Vâng, tôi học làm lòng,

Khiêm-Nhường tôi tập để không cậy mình

Những gì Chúa dậy trong kinh,

Tôi tin là đúng, là linh vô-cùng

Với Phan-sinh, sống hào-hùng,

Cùng Phan-Sinh, dẹp bão-bùng quỉ ma.

Luật Dòng bảo-vệ chúng ta,

Thật là nghiệm-mật, thật là uy-nghi.

Dòng cho tôi mọi tiện-nghi.

Để tôi sống trọn nội-qui của Dòng.

Giữ- gìn tôi sống trắng trong,

Giúp tôi tích-cực đến cùng anh em.

Tiền tài, nhà cửa chẳng thèm,

Chỉ cần máng cỏ Bê-lem đủ rồi.

Nhà cao chẳng có Chúa ngồi,

Chỉ là đống gạch, đống vôi hôi rình.

Sống nghèo chẳng có cầu vinh,

Thật-thà đừng có giả hình, đãi – bôi

Làm thì theo ý Chúa Trời

Đừng làm để được người đời khen-lao

Đừng mong thiên-hạ nói vào

Đừng khoe vênh-váo mũ cao áo dài

Khi ăn cỗ, phải trông nồi

Vào nhà hội, tránh chớ ngồi ghế cao.

Chỗ đông, đừng đợi ai chào,

Đừng cho ai gọi, ai rao là Thầy.

Vào Dòng từ bầy lâu nay,

Ơn Dòng dậy dỗ ăn ngay ở lành.

Nguyện xin Thánh Cả Phan-Sinh

Cho tôi sống mãi Thánh Kinh suốt đời.

â Lê Hữu Mục, pstt

NHỮNG BÀI ĐỌC THÊM

Tình Huynh Đệ Phan Sinh

Tôi đến với Dòng Phan Sinh Tại Thế đã tròn phần tư thế kỷ; nhưng đây là lần đầu tiên tôi cầm viết để viết về Tình Huynh Đệ của người Phan Sinh. Quả thật, tôi có chút đắn đo pha lẫn ngại ngần vì tuổi dòng của tôi tuy khá cao nhưng cách sống Linh Đạo Phan Sinh của tôi thì vẫn còn trong trứng nước…

Thường thường, ai cũng có một thời kiếm tìm và chọn lựa cho mình một thần tượng để yêu thương, để học hỏi, để bắt chước… Tôi cũng thế! Chúng ta có cùng lý tưởng, cùng thần tượng. Nhưng có lẽ tôi may mắn hơn nhiều người khác vì Cha Thánh đã chọn tôi trước khi tôi biết Người, Người đã yêu tôi trước khi tôi yêu Người, Người đã nhờ Chúa Thánh Linh "buộc" tôi khắn khít với Linh Đạo của Người dù đã bao lần tôi muốn chối bỏ tình Người…

Mười bảy tuổi, tôi bước vào Dòng Phan Sinh Tại Thế theo lời mời của chị Phục Vụ đương thời. Thuở ấy (1980), đất nước còn quá nhiều khó khăn; Những buổi họp định kỳ cứ phải lén lén lút lút. Thường là họp trong nhà thờ, mỗi tuần họp một lần, họp lúc mười hai giờ trưa để ít ai dòm ngó… Nhà thờ của tôi giáp ranh với một Dòng tu Nữ. Dòng tu Nữ này lại giáp ranh với một Dòng tu Nam. Cùng lúc ấy, cả hai Dòng đều đang bị bắt bớ dữ dội, và đương nhiên, nhà thờ của tôi cũng "được chú ư” khá kỹ lưỡng. Dù hằng ngày cứ phải sống trong tâm trạng nơm nớ