Trong Số Này:
|
TÂM SỰ HẰNG THÁNG |
| |
Đối Với Tôi… Cầu Nguyện |
|
KITÔ HỘC |
| |
LỜI CHÚA: Sứ Mạng Phổ Quát
GIÁO LƯ: Bài 67: Lời Chúc Lành Miễn Cưỡng Của Một Thầy Chiêm
LỜI KINH: Xin Ơn Biết Cầu Nguyện
Cầu Nguyện Khi “Đọc” Và “Sống” Lời Chúa |
|
PHAN
SINH HỌC |
| |
Vai Tṛ và Nhiệm Vụ của Thủ Qũy
Huy Hiệu (Áo Ḍng của Người PSTT |
|
NHÂN BẢN
HỌC |
| |
Bài 22: Gia Đ́nh Là Một Giáo Hội Nhỏ |
|
NHỮNG BÀI ĐỌC THÊM |
| |
Thư Áo Nâu: B́nh Minh Đến Muộn
Thánh Tâm
T́nh Cha
T́nh Yêu |
|
CÙNG CẦU NGUYỆN |
| |
Tâm T́nh Tạ Ơn
Xin Ơn Chữa Lành Thể Xác
Xin Ơn Chữa Lành Tâm Hồn
Xin Cầu Nguyện Theo Ư Đặc Biệt
Xin Cầu Nguyện Cho Các Linh Hồn |
|
TIN NỘI BỘ |
| |
Ơn Toàn Xá
Hội Đồng Phục Vụ Quốc Gia Hoa Kỳ
Hội Đồng Trợ Úy Quốc Gia Hoa Kỳ
Hội Đồng Phục Vụ Miền
Hội Đồng Trợ Úy Miền
Huynh đệ đoàn Antôn, San Diego
Huynh đệ đoàn Agnes, Westminster
Huynh đệ đoàn Clara, Santa Ana
Tâm T́nh Của Ban Biên Tập
Mừng Tân Linh Mục
Chủ Đề Của Tháng 07-2009
|
|
|
|
“ Đối Với Tôi… Cầu Nguyện…”
Thưa quí anh chị,
“Đối với tôi, cầu nguyện là một sự hướng ḷng lên, một cái nh́n đơn sơ hướng lên trời, đó là một tiếng kêu của ḷng tri ân và của t́nh yêu trong cơn thử thách cũng như trong lúc hưởng niềm vui” Đó là lời tâm t́nh của Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng.
Cầu nguyện như là một hồng ân của Thiên Chúa ban cho chúng ta. Sự khiêm nhường là nền tảng của sự cầu nguyện, Thánh Augustinô cũng nhận định rằng “Khiêm nhường là tâm trạng để nhận được hồng ân của việc cầu nguyện: con người là kẻ ăn xin trước mặt Thiên Chúa.” (Giáo lư công giáo điều 2559)
Cầu nguyện như một giao ước phát xuất từ ḷng con người. Ta cầu nguyện bằng ḷng của ḿnh; nếu ḷng ta xa Chúa, lời cầu nguyện sẽ là vô nghĩa. Bồi v́ ḷng của ḿnh là nơi của sự gặp gỡ, v́ theo h́nh ảnh của Thiên Chúa, chúng ta sống trong tương quan, nó là nơi của giao ước. (Giáo lư công giáo điều 2562 – 2564)
Cầu nguyện như là sự hiệp thông, là tương quan sống động của con cái Thiên Chúa với Cha vô cùng tốt lành của ḿnh, cùng với Con Ngài là Đức Giêsu Kitô và Chúa Thánh thần. Sự hiệp thông này luôn có thể thực hiện được, v́ nhờ phép Rửa Tội chúng ta đă trở nên hữu thể với Đức Kitô. (Giáo lư công giáo điều 2565)
Chúa Giêsu đă cầu nguyện và dạy cho chúng ta biết cách cầu nguyện.
Phúc âm Thánh Luca nhấn mạnh về hành động của Chúa Thánh Linh và ư nghĩa của việc cầu nguyện trong tác vụ của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu cầu nguyện trước những giờ phút có tính cách quyết định cho sứ mạnh của Ngài: trước khi Chúa Cha là chứng về Ngài khi Ngài chịu phép Rửa, và khi có cuộc Biến h́nh của Ngài, rồi trước khi hoà thành ư định t́nh thương của Cha Ngài bằng cuộc khổ nạn của ḿnh. (Giáo lư Công Giáo điều 2600). Một hôm, Chúa Giêsu cầu nguyện ở một nơi nọ. Khi Ngài vừa xong, một trong các môn đệ Ngài xin Ngài: “Lạy Ngài, xin dạy cho chúng con biết cầu nguyện” (Lc 11, 1) Phải chăng chính v́ ḿnh cầu nguyện, nên người môn đệ Chúa Kitô đă ước ao cầu nguyện? Như vậy họ sẽ học được với Thầy của việc cầu nguyện, Chính nhờ nh́n ngắm và nghe Chúa Con mà con cái Chúa biết cầu khẩn Chúa Cha. (Giáo lư Công giáo điều 2601)
Mẹ Maria là một mẫu mực cho con cái Chúa noi theo bằng câu: “Này tôi là t́ nữ của Chúa, xin hăy làm cho tôi như lời Ngài nói”, và trong bài thánh ca Magnificat của Mẹ đă nêu rơ sự hiến dâng quảng đại tất cả bản thân Mẹ cho Thiên Chúa trong niềm tin.
Phúc âm cho chúng ta thấy Mẹ Maria cầu nguyện và chuyển cầu thế nào cho ta trong niềm tin: tại Cana, Mẹ của Chúa Giêsu đă xin Con ḿnh hăy thỏa măn những nhu cầu của một tiệc cước, dấu hiệu của một Bữa Tiệc khác, tiệc cưới của Chiên Con hiến Ḿnh và Máu ḿnh theo lời yêu cầu của Giáo Hội, Hiền thê của Ngài. Và chính vào giờ lập Giao Ước Mới, nơi chân Thập Giá, Mẹ Maria đă được nhậm lời như người Phụ Nữ, bà Evà mới, và đích thực là “mẹ của các sinh linh”. (Giáo lư công giáo điều 2619)
Cha Thánh Phanxicô đă cầu nguyện như thế nào? Là một con người có tâm hồn thi sĩ, Cha Thánh đă tận dụng các thánh vịnh để ca ngợi, cảm tạ Thiện Chúa, những chúc thư, bài ca mặt trời… là những mẫu mực cho chúng ta noi gương. Việc anh Berna đô Quintavalo trở thành người bạn đồng hành đầu tiên là do cung cách cầu nguyện của Cha Thánh đánh động. Sách Tiểu kỳ hoa do Cha Antôn Maria Nguyễn Văn Phổ, Ofm chuyển dịch viết: “Ông lập tâm ḍ xét cho biết Phanxicô nhân đức thật hay giả. Đến giờ đi ngủ, ông bảo dọn giường cho khách nằm chung trong pḥng ông. Suốt đêm chong một ngọn đèn mờ. Không muốn để ai biết ḿnh là thánh thiện, nên vừa vào pḥng là Phanxicô lên giường nằm và giả vờ ngủ say. Một lát sau ông Bécnađô cũng đi ngủ. Nằm một lát ông giả vờ ngáy kḥ kḥ như đă ngủ say. Ngỡ là chủ nhà đă ngon giấc, khách liền lặng lẽ chỗi dậy, qú gối dưới đất, mắt nh́n lên trời, hai tay giơ cao, miệng than thở: “Chúa ôi! Chúa ôi! Con lạy Chúa”. Đă quá nửa đêm rồi, Phanxicô vẫn nước mắt chảy ṛng ṛng, than đi thở lại có một câu: “Chúa ôi! Chúa ôi ! Con lạy Chúa!”. Không thêm ǵ nữa. Phanxicô than vắn thở dài như thế v́ Ngài nghĩ Chúa cao cả thương hại trần gian lâm cảnh lạc lỏng điêu vong. Chúa sắp dùng ngài là người hèn mọn tầm thường để cải tạo trần gian giúp nhiều người được rỗi, Ngài cảm động quá không nói nên lời. Linh cảm thấy Chúa sẽ dùng Ngài và nhóm anh em sau này theo Ngài để làm nhiều điều kỳ diệu, Phanxicô thấy bất lực, khuyết điểm nhiều, đức độ ít, nên Ngài tha thiết xin Chúa dùng quyền toàn năng Chúa bổ khuyết cho và làm thay Ngài những ǵ Ngài không làm được. Không có Chúa ủng hộ th́ sức người yếu đuối mong làm được việc ǵ.
Qua ánh đèn mờ, Bécnađô thấy hết cử chỉ người khách trẻ tuổi của ông. Ông lắng nghe măi lời than thở. Ḷng ông cảm động. Thêm có ơn Chúa Thánh Thần soi sáng, ông quyết thay đổi hướng đời.
Trong lời cầu nguyện kết thúc bức thư Ngài gửi toàn thể anh em trong Ḍng: “Lạy Thiên Chúa toàn năng, vĩnh cửu, công chính và từ bi, v́ vinh quang của Chúa, xin ban cho chúng con là những kẻ khốn nạn thực hiện được những điều chúng con biết là Chúa muốn, và luôn muốn những điều đẹp ḷng Chúa, để nhờ ngọn lửa Thánh Linh thanh luyện soi sáng và nung nấu tận tâm can, chúng con có thể bước theo vết chân Con Yêu dấu Chúa là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con, và chỉ nhờ ơn Chúa trợ giúp chúng con đến được với Chúa, là Thiên Chúa Tối cao, Ba ngôi trọn hảo, trong mối hiệp nhất tuyệt đối, là Thiên Chúa toàn năng, Đấng hằng sống, hằng trị, và hằng được tôn vinh đến muôn thuở, muôn đời. Amen.”
* Ư tưởng và văn từ được tóm tắt trong sách Giáo lư công giáo do Nguyệt san Trái Tim Đức Mẹ ấn hành năm 1996 tại Hoa Kỳ.
â
Jos Bạch, sfo
|

Trở về mục lục >>
|
|
|
|
LỜI CHÚA: Sứ Mạng Phổ Quát
(Mátthêu 28,16-20 – Thăng Thiên - A)
(16) Về phần mười một môn đệ đi tới miền Galilê, đến ngọn núi Đức Giêsu đă truyền cho các ông đến. (17) Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi. (18) Đức Giêsu đến gần, nói với các ông: "Thầy đă được trao toàn quyền trên trời dưới đất. (19) Vậy anh em hăy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, (20) dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đă truyền cho anh em. Này đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế".
1.- Ngữ cảnh
Ở đây, chúng ta chỉ đề cập đến ngữ cảnh trực tiếp, đó là mộ trống với hai sứ điệp, một tích cực, một tiêu cực:
a) Sứ điệp tích cực
Sứ điệp tích cực được gửi đến trong hai th́:
- bởi sứ thần khi ngài giao phó cho các phụ nữ hai sứ mạng là làm chứng về sự Phục Sinh của Đức Giêsu và loan báo cho các môn đệ lệnh triệu tập của Đức Giêsu (28,1-8); Đây là kinh nghiệm tiêu cực về sự Phục Sinh.
- bởi chính Đức Giêsu Phục Sinh (28,9-10): Người cho các phụ nữ sống một kinh nghiệm thực hữu về sự Phục Sinh của Người và giao cho họ cùng một sứ mạng, là triệu tập các môn đệ về Galilê.
Đoạn văn Mt 28,16-20 cho hiểu rằng các phụ nữ đă chu toàn hai sứ mạng được giao: khi quy tụ về quả núi đă được chỉ định tại Galilê, các môn đệ chứng tỏ các ông đă tin vào chứng tá của các phụ nữ liên hệ đến cuộc Phục Sinh để cũng có thể tin vào lệnh triệu tập được các bà chuyển cho.
b) Sứ điệp tiêu cực
Sứ điệp tiêu cực là truyện sai lạc về Đức Giêsu, được toán lính tung ra theo tṛ bịp bợm của các thủ lănh Do-thái. Đoạn văn này nêu bật sự tương phản (c. 16: de) giữa các thủ lănh Do-thái và toán lính một bên, và bên kia, là Đức Giêsu và các môn đệ Người, giữa sứ điệp do người Do-thái tung ra và thực tế; vậy đoạn văn này chính là một lời phi bác tin đồn thất thiệt đă được phổ biến. Đối với người Do-thái, Đức Giêsu là một xác chết, c̣n các môn đệ Người là những tên trộm cắp và dối trá; trong thực tế, Đức Giêsu đă chiến thắng cái chết, đă sống lại, được ban cho toàn quyền của Thiên Chúa và đảm bảo bằng sự hiện diện đầy uy lực của Người; các môn đệ Người không t́m cách đánh cắp thi hài, nhưng đă đi về Galilê, đi xa ngôi mộ, để gặp Đức Giêsu Phục Sinh. Tin Mừng sẽ đi đến với “mọi dân tộc”, chứ không như tin đồn thất thiệt kia, chỉ được loan truyền “giữa người Do-thái” mà thôi. Giáo huấn phổ quát (didaskontes) mà các môn đệ của Đức Giêsu, v́ Tôn Sư tuyệt đối (didaskalos, 23,8), sẽ cống hiến cho mọi dân tộc sẽ hoàn toàn vượt xa những ǵ toán lính phổ biến, v́ họ đă làm theo lời “các thượng tế dạy” (edidachthêsan, 28,15). Các môn đệ sẽ được che chở và nâng đỡ “cho đến tận thế”, không phải bởi một quyền bính nhân loại như quyền bính của các thượng tế, nhưng bởi uy quyền của Đấng Phục Sinh, Chúa tể vũ hoàn.
2.- Bố cục
Bản văn có thể chia thành hai phần:
1) Cuộc diện kiến của Nhóm Mười Một với Đức Giêsu (28,16-17);
2) Các lời nói của Đức Giêsu (28,18-20):
a) Mạc khải về quyền năng (18),
b) Lệnh truyền giáo (19-20a),
c) Hứa hiện diện hổ trợ (20b).
3.- Vài điểm chú giải
- Về phần mười một môn đệ (16 ): Ở đầu c. 16 này, có tiêu từ de (“và”, “rồi”; “nhưng”; “về phần”) hẳn là để nêu lên sự tương phản giữa báo cáo sai lạc của toán lính với sự thật về cuộc hiện ra của Đức Giêsu với mười một môn đệ.
- Mười một môn đệ (16): Trong Mt, Đức Giêsu có một nhóm các “môn đệ” (mathêtês: Mt 73 lần, Mc 46 lần, Lc 37 lần, Ga 78 lần. Có 65 trong Mt ở số phức) luôn luôn được xác định bằng quán từ (article) hoi (x. 5,1; 8,21; 9,10; 12,1; 13,10; 14,15; 15,2; 16,5; 28,7). Điều này khẳng định rằng họ được biết rơ trong tư cách đó và họ không phải là nhóm “bảy mươi hai” của Lc (vả lại, Lc không gán cho nhóm “bảy mươi hai” cái tên “môn đệ”, mà là “bảy mươi hai người khác”, x. Lc 10,1). Các ông là những người sống hiệp thông với Thầy ḿnh (“einai meta” [“ở với”]), tháp tùng Thầy trong sứ vụ của Người (9,19), cùng làm việc với Người để phục vụ các đám đông (9,36-37), được nêu ra làm gương cho các đám đông và được giới thiệu như là gia định đích thực của Đức Giêsu (12,46-50). Mt xác định rằng các ông là “mười hai môn đệ” (10,1; 11,1; hay là “Nhóm Mười Hai”: 20,17; 26,20; ở c. 10,2, các ông cũng được gọi là “mười hai tông đồ” cùng với tên của các ông).
Con số “mười một” nhắc đến sự vắng mặt thê thảm của Giuđa, “một trong Nhóm Mười Hai” (26,14.47; x. 10,2.4): sự hư hỏng đă xảy ra ngay trong nhóm, tức là đây không phải là một nhóm toàn vẹn; với lại, tất cả các ông khác đều đă té ngă (x. hoi mathêtai: 26,56b; Phêrô: 26,69-75). Nhưng sứ điệp mà Đức Giêsu ban cho các ông nhờ trung gian các phụ nữ đă là một dấu cho thấy Người tha thứ và ḥa giải; Người gọi các ông là “anh em của Thầy” (28,10). Bây giờ, cuộc hành tŕnh của các ông tiến về với Đức Giêsu và sự hiện diện của các ông tại nơi Người đă chỉ định là một dấu chứng tỏ các ông đón nhận sự tha thứ và ḥa giải.
-
ngọn núi (16): To oros (danh từ với quán từ) khẳng định rằng chính là trên một quả núi mà Đức Giêsu và các môn đệ đă biết, nhưng không cung cấp một xác định nào khác.
-
bái lạy (17): Mt chỉ dùng động từ proskyneô (Mt 13 lần; Mc 2 lần; Lc 2 lần) cho những ai đă nh́n nhận phẩm giá của Đức Giêsu và diễn tả sự nh́n nhận đó ra bằng hành vi này (x. các hiền sĩ: 2,2.8.11; người phong cùi: 8,2; ông trưởng hội đường: 9,18; các môn đệ trên thuyền: 14,33; bà Canaan: 15,25; mẹ các con ông Dêbêđê: 20,20; các phụ nữ tại mồ: 28,9).
-
nhưng có mấy ông lại hoài nghi (17): Trong Tân Ước, động từ distazein chỉ xuất hiện ở 14,31 (Phêrô đi trên mặt nước) và ở đây. Động từ này nhắc đến những ǵ Tin Mừng đă nói biết bao lần về phẩm chất của đức tin của các môn đệ: ở 6,30; 8,26-27; 14,31; 16,8; 17,20 (x. câu 17). Mt là tác giả duy nhất ghi nhận “đức tin lớn (megalê hê pistis)” của bà Canaan (15,28). Cùng với đề tài đức tin, Mt tŕnh bày đề tài sự hiểu biết (synienai) và không hiểu biết: ở 15,16; x. 16,12; 17,13.
- Thầy đă được trao toàn quyền trên trời dưới đất (18): Động từ edothê ở th́ aorist thái bị động trần thuật (passive indicative): Th́ aorist nhắm đến một sự kiện đă hoàn tất, chứ không phải là một lời hứa hay một niềm hy vọng; hẳn là ta có thể nghĩ đến một quan hệ mặc nhiên với sự phục sinh. Thái bị động đây là một thái bị động thay tên minh nhiên của Thiên Chúa. Hơn nữa, cách thức khẳng định cách tuyệt đối như thế gợi ư rằng Thiên Chúa là tác giả (so sánh c. 18b với 11,25).
Đề tài exousia cũng là một đề tài quan trọng của Mt (9 lần: 7,29; 8,9; 9,6; 9,8; 10,1; 21,23; 21,24; 21,27; 28,18). Từ ngữ có nghĩa là “quyền hành”, “uy quyền”, “quyền lợi”, “khả năng”, là những đặc tính của giáo huấn và cách hành động của Đức Giêsu: phân đoạn 5,1–7,29 (Bài Giảng trên núi) giới thiệu Đức Giêsu như là “Đấng Mêsia có uy quyền trong lời nói” (x. 7,28), c̣n phân đoạn 8,1–9,38 giới thiệu Người như là “Đấng Mêsia có uy quyền trong hành động” (x. 11,2) (Đức Giêsu khẳng định rằng Người có exousia này: 9,6; dân chúng: 7,29; viên sĩ quan: 8,9; khi thấy người bại liệt được chữa lành, dân chúng tôn vinh Thiên Chúa: 9,8; Đức Giêsu nói về quyền của Người và từ chối cho biết nguồn gốc của quyền ấy: 21,24.27). Câu 28,18 là như tổng hợp về đề tài này và là một câu trả lời cho nhà chức trách tôn giáo: Đức Giêsu không phải là một người mất trí hay một kẻ tiếm quyền; Người đă nhận được quyền bính này trọn vẹn, trên toàn vũ trụ, từ Thiên Chúa (chứ không phải từ tay ma quỉ, x. 9,34). Ở đây, điều được khẳng định là quyền (exousia) đă được Thiên Chúa ban.
-
hăy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ (19): Trong các Tin Mừng, động từ mathêteuein chỉ được sử dụng ở Mt (13,52; 27,57; 28,19) với hai nghĩa: 1) nghĩa ngoại động (intransitive): trở thành môn đệ (13,52; 27,57); 2) nghĩa nội động (transitive): làm thành môn đệ; làm cho ai thành môn đệ (28,19; x. Cv 14,21). Đây không phải là chỉ tŕnh bày, cống hiến sứ điệp, loan báo Tin Mừng, nhưng là kiến tạo một quan hệ chặt chẽ và riêng tư. Kiểu mẫu của quan hệ này chính là quan hệ của Đức Giêsu lịch sử với các môn đệ đă được Người kêu gọi (môn đệ đi theo [akolouthein, x. 4,20.22; 8,23; 19,27.28], Thầy đi trước [proagein , x. 26,32; 28,7]).
-
nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần (19): Công thức “nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần ” một công thức phép rửa. Qua công thức này, ta găp thực tại chúng ta có trong các Tin Mừng Nhất Lãm: đó là quan hệ chặt chẽ giữa đời sống và công tŕnh của Đức Giêsu với Cha Người trong Chúa Thánh Thần. Cựu Ước biết đến v́ Thiên Chúa tạo thành trời đất, đây là v́ Thiên Chúa mà họ đến tŕnh diện trong tư cách là các thọ tạo hoàn toàn khác với Ngài và không có quyền đi vào đối thoại với Ngài. Đức Giêsu loan báo v́ Thiên Chúa có một người đối thoại trong b́nh diện thần linh. Chúa Con ở trước mặt Chúa Cha, và hai Đấng được liên kết với nhau, biết nhau, hiểu nhau và yêu thương nhau trọn vẹn và hoàn hảo nhờ Chúa Thánh Thần. Bí tích Rửa tội nhận ch́m chúng ta vào trong vùng quyền lực của v́ Thiên Chúa này.
-
Này đây, Thầy (20): Mt chuộng thức mệnh lệnh idou này. Nên ghi nhận là công thức long trọng idou eǵ luôn luôn có quan hệ với ư tưởng sứ mạng: 10,16; 23,34 et 28,20.
-
Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế (20): Khi nói minh nhiên pasas tas hêmeras (tất cả các ngày), Đức Giêsu khẳng định Người sẽ ở thường trực và trọn vẹn với các môn đệ. Heôs tês synteleias tou aiônos (cho đến tận thế) có nghĩa mục tiêu, nơi đến: nhắm đến tận thế. Từ ngữ synteleia (hoàn tất; kết cục) luôn được sử dụng với aiôn có nghĩa là “thời gian hiện tại”, “t́nh trạng hiện nay của tạo thành” (x. 13,22; 12,31). Synteleia tou aiônos có nghĩa là “khi kết thúc thời gian của thế giới này”. Người ta chờ đợi một kết thúc thời gian này với việc Đức Giêsu ngự đến (x. 24,3).
4.- Ư nghĩa của bản văn
* Cuộc diện kiến của Nhóm Mười Một với Đức Giêsu
(16-17)
Phần thứ nhất kể lại các hành vi của các môn đệ trong quá khứ (aorist) (đi tới, c. 16; bái lạy, c. 17; hoài nghi, c. 17). Bản văn cũng ghi nhận một hành vi của Đức Giêsu, “đă truyền” (etaxato, c. 16), nhưng chắc chắn đây là một hành vi Đức Giêsu đă làm trước các hoạt động của các môn đệ được kể lại trong đoạn văn này; hành vi này lại chỉ là một mệnh lệnh, một hành vi nói. Ngược lại, trong các bản văn khác về hiện ra, Đức Giêsu hành động cùng nhịp với những người có mặt, chẳng hạn, ở Mt 28,9, Đức Giêsu đến gặp (hypêntêsen) các bà. Phải chờ đến c. 18 để gặp được một hành vi của Đức Giêsu, nhưng cả hành vi này cũng chỉ là một hành vi nói (elalêsen).
Các nhân vật chính của phần thứ nhất là hoi hendêka mathêtai, “mười một môn đệ”. Con số này nhắc đến sự phản bội của cả nhóm. Nhưng sứ điệp mà Đức Giêsu ban cho các ông nhờ trung gian các phụ nữ đă là một dấu cho thấy Người tha thứ và ḥa giải; Người gọi các ông là “anh em của Thầy” (28,10). Bây giờ, cuộc hành tŕnh của các ông tiến về với Đức Giêsu và sự hiện diện của các ông tại nơi Người đă chỉ định là một dấu chứng tỏ các ông đón nhận sự tha thứ và ḥa giải. Các môn đệ tiến về một nơi đă được Đức Giêsu xác định trước và theo thông tin của các phụ nữ (lệnh của sứ thần (28,7) và lệnh của Đức Giêsu ban cho các phụ nữ).
Trong Mt, ta không thấy có một lệnh minh nhiên của Đức Giêsu là đi đến một ngọn núi được xác định, nhưng có những chi tiết liên hệ đến Galilê. Tất cả các chi tiết này, khi được đặt vào trong bối cảnh là cuộc Thương Khó và Phục Sinh, th́ giống như những tia chớp hy vọng được ban cho các môn đệ (tại núi Ô-liu, Đức Giêsu đă nói đến Galilê: 26,32; tại mộ, v́ thiên thần đă nhắc đến Galilê: 28,7; Đức Giêsu xác nhận sứ điệp: 28,10). Chuyến đi đưa các ông về nơi Đức Giêsu đă chỉ định cho thấy rằng họ vừa thi hành lệnh Đức Giêsu truyền, họ vừa ư thức rằng họ đang được trở vào trong t́nh bằng hữu với Người, t́nh bằng hữu mà Người đă mời họ đến khi gọi họ là “anh em của Thầy” (28,10).
Như thế, câu truyện sẽ kết thúc ngay tại nơi mà sứ vụ của Đức Giêsu đă bắt đầu: tại “Galilê, miền đất của dân ngoại”, đă xuất hiện ánh sáng có sức thắng vượt bóng tối của tử thần (4,15-16) và giúp cho có thể bắt đầu việc rao giảng cho muôn dân (28,19). Ở đây tầm quan trọng của Galilê đặc biệt có tính thần học: Đấng Phục Sinh gặp lại các môn đệ Người tại nơi chính của hoạt động trần thế Người (nhất là theo Mc và Mt); điều này giả thiết có một sự tiếp nối giữa Đức Giêsu trần thế và Đức Kitô Phục Sinh, một sự tiếp nối mà c. 20a sẽ nêu bật minh nhiên (“[bằng cách] dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đă truyền cho anh em”). Do chính sự kiện này, Người xác nhận việc loan báo đầu tiên của Người, hoặc đơn giản hơn, xác nhận trọn vẹn sứ mạng của Người và giới thiệu sứ mạng ấy như mẫu mực cho các môn đệ.
Lời Đức Giêsu nói với các phụ nữ (28,10), “họ phải đi đến Galilê”, là một mệnh lệnh, c̣n “họ sẽ được thấy Thầy ở đó” là một lời hứa. Vậy bản văn của chúng ta là sự hoàn tất mệnh lệnh ấy và sự thực hiện lời hứa ấy.
“Ngọn núi” không phải là một nơi mà người ta hẳn là có thể xác định theo địa lư; đây là nơi tiêu biểu cho mạc khải (5,1: “Bài Giảng trên núi”; 15,29: mạc khải của Đấng cứu thế, Đấng nuôi dưỡng dân Người như Môsê xưa kia trong hoang địa; 28,16: “ngọn núi” xuất hiện lần thứ ba, để cũng nêu bật tầm quan trọng của mạc khải như thế).
Sự kiện các môn đệ “thấy” Đức Giêsu được kín đáo giới thiệu bằng một v́ tính từ (participle), lệ thuộc động từ chính: “các ông bái lạy”. Việc “thấy Đức Giêsu” chỉ được nhắc đến ngắn ngủi ở đây, khác với các bài tường thuật khác về hiện ra, nhưng nó chẳng c̣n giá trị ǵ khi nói về niềm tin Phục Sinh. Sự kiện quan trọng đối với Mt là “các ông bái lạy” (prosekynêsan), đây là cách tôn kính mang tính tôn giáo và thậm chí phụng vụ. Thái độ này diễn tả trước những ǵ sẽ được lời tuyên bố ở c. 18b loan báo về quyền của Đức Giêsu. “Nhưng có mấy ông lại hoài nghi” (c. 17). Ở đây, nỗi ngờ vực đă xảy đến idontes, “khi thấy Người” như là Đấng Phục Sinh. Chúng ta phải ngạc nhiên khi thấy phát sinh nỗi ngờ vực, nghĩa là một t́nh trạng ngần ngại, lưỡng lự, trong bối cảnh lại quá đậm đặc và tiêu biểu này. Phản ứng này xuất hiện nhiều lần trong các bài tường thuật khác về hiện ra. Nỗi hoài nghi được thắng vượt mỗi lần một cách: Đấng Phục Sinh xin các ông cho ăn (Lc 24,41tt); Đức Giêsu hiện ra một lần nữa với các môn đệ lúc đầu không tin (Mc 16,14tt); Tôma có thể chạm tới các vết thương của Đức Giêsu (Ga 20,24-29). Ta không thấy có ǵ tương tự ở đây cả. Có lẽ sự hoài nghi này liên hệ đến một thời đại muộn màng hơn: cộng đoàn hôm nay không c̣n thấy Đức Giêsu bằng mắt thịt nữa, họ có thể rơi vào hoài nghi; họ phải thắng vượt khó khăn này nhờ dựa vào lời của Đấng Phục Sinh. Các lời nói của Đức Kitô Phục Sinh và sự vâng phục của các môn đệ với lời Người là cách thế duy nhất giúp vượt qua nỗi hoài nghi.
* Các lời nói của Đức Giêsu (18-20)
Đứng trước đức tin xen lẫn hoài nghi của các môn đệ, lời Đức Giêsu nói cung cấp câu trả lời. Đấng Phục Sinh không trách các ông về sự bất trung hoặc về nỗi hoài nghi; thậm chí Người cũng không xua tan nỗi hoài nghi bằng một cử chỉ hoặc một chứng từ bổ sung. Người đến gần các ông và nói. Người từ xa đến với những người là các môn đệ Người, vâng phục Người và đang cung kính bái lạy Người. Chỉ ḿnh Người có thể vượt qua khoảng cách bằng cách đi đến với các ông. Proserchomai là một động từ được Mt ưa chuộng (Mt 52x; Mc 5x; Lc 10x; Ga 1x), nhưng chỉ có hai lần ông diễn tả một hành vi chủ động của Đức Giêsu (ở đây và ở 17,6-7: hai đoạn riêng của Mt): trong trường hợp này, Đức Giêsu đến gần là để nâng đỡ những người đang hoài nghi hoặc đang sợ.
Vấn đề ở đây là một lời nói, vấn đề ở đây là nghe chứ không phải là thấy. Chính lời nói của Đức Giêsu tạo được sự trấn an diễn tả ra bằng hành vi đến gần: Người tự tỏ ḿnh ra trong lời Người nói như là Đấng được đặt để trong quyền bính và nói với uy quyền. Trong tư cách đó, Người hiện diện trong thời gian của thế giới, trong Giáo Hội cho đến tận thế.
Thầy đă được trao toàn quyền trên trời dưới đất (18b). Được đặt ở đầu bài diễn từ, mạc khải này đỡ nâng các khẳng định tiếp sau: lệnh truyền và lời hứa. Đức Giêsu khẳng định quan hệ của Người với Thiên Chúa và v́ trí hiện nay của Người: chính Thiên Chúa, Cha của Đức Giêsu (so sánh với 9,6.8; 11,27 và Đn 7,14), đă ban cho Người tất cả các quyền hành trên trời dưới đất.
Theo lời rao giảng tiên khởi (kêrygma) của các tông đồ, do Phục Sinh, Người đă được đặt làm Đức Chúa (Kyrios) trên vũ trụ và làm Thẩm phán vào lúc tận thế. Trong thực tế, bản văn không nói cho biết là Người đă được Chúa Cha đặt để như thế khi nào, nhưng nhấn mạnh rằng quyền lực tối thượng này của Đấng Phục Sinh là vô biên (pasa) tự nó trong sự viên măn và trong cường độ của nó: trong không gian, Đấng Phục Sinh hiển trị trên vũ hoàn (trời và đất), như trong Cựu Ước, Thiên Chúa được nh́n nhận là Chúa tể trời đất, nghĩa là Đấng Tạo hóa và Bảo toàn tất cả vũ trụ; và trong thời gian, Người hiển trị bây giờ và cho đến tận thế.
Bây giờ, trong tư cách là Đấng đại diện toàn quyền của Thiên Chúa, Đức Giêsu là Đấng mạc khải cánh chung cho biết ư muốn của Thiên Chúa và là Đấng thực hiện dự phóng cứu độ của Ngài. Các môn đệ có thể hoàn toàn chắc chắn rằng họ được ban cho quyền này.
Từ oun, “vậy”, gợi ư là lệnh truyền này là hậu quả của tuyên bố về quyền vũ hoàn của Đức Giêsu, là sứ mạng của Nhóm Mười Một phát xuất từ quyền bính của Đức Kitô. Tuy nhiên, lệnh truyền được ban cho toàn nhóm, điều này cho thấy rằng bổn phận truyền giáo là một nhiệm vụ của toàn thể cộng đoàn chứ không của một vài cá nhân. Uy quyền (c. 18) và sự hiện diện của Đức Giêsu (c. 20) sẽ cho các ông đủ tư cách và uy tín mà chu toàn bổn phận này.
Khi đi rao giảng, các môn đệ không chỉ tŕnh bày, chỉ cống hiến sứ điệp, loan báo Tin Mừng (keryssein), nhưng là kiến tạo một cộng đoàn có quan hệ chặt chẽ và riêng tư. Tương quan của các môn đệ với Đức Giêsu là kiểu mẫu cho sự hiệp thông với Người mà mọi dân tộc đang được đưa dẫn tới. Kể từ nay, kiểu mẫu này là chuẩn mực cho mọi ki-tô hữu: “môn đệ” có thể nói là định nghĩa ngắn nhất của ki-tô hữu. Được giao sứ mạng “làm ra các môn đệ”, Nhóm Mười Một đang hiện diện ở đây sẽ có thể rút ra từ đó biết bao hệ luận: một đàng, kinh nghiệm sống với Đức Giêsu phải luôn luôn là điểm qui chiếu cho họ trong hoạt động; đàng khác, tư cách môn đệ không phải là của riêng thuộc về những bạn đồng hành lịch sử của Đức Giêsu trần thế, trái lại đây là tư cách mà kể từ nay mỗi người được mời gọi đi vào. Tất cả đều được mời gọi trở thành”môn đệ Đức Giêsu”, v́ Thầy duy nhất (x. 23,8.10).
Chiều hướng phổ quát đă được báo trước trong lời nhắc đến Abraham (1,1), trong truyện các đạo sĩ (2,1-12), v́ sĩ quan Caphácnaum (8,5-13), bà Canaan (15,21-28), viên sĩ quan canh giữ Đức Giêsu trên đồi Sọ (27,54). Đi đến với các dân tộc đă là chọn lựa của Đức Giêsu, cho dù trong diễn từ truyền giáo (ch. 10), Người đă truyền các môn đệ là chỉ đi đến với các chiên lạc Israel thôi. Tính phổ quát truyền giáo này c̣n được báo trước ở 24,4 và 26,13, và bây giờ được khẳng định như là ư muốn chính xác của Đức Giêsu. Điều bị cấm trước đây ở 10,5 (anh em đừng đi tới vùng các dân ngoại ) bây giờ được khuyến cáo thi hành (hăy làm cho muôn dân trở thành môn đệ): như đại đa số các lần xuất hiện, từ ethne trong Mt có nghĩa chữ là Dân ngoại, lệnh này chỉ liên hệ đến Dân ngoại. Nhưng nếu Israel không c̣n là đối tượng của một sứ mạng đặc biệt, điều này không có nghĩa là Israel bị loại ra khỏi chân trời Phục Sinh. Rất có thể vào thời của cộng đoàn Mt, đă có một sự đoạn tuyệt giữa Giáo Hội và Hội đường; nhưng người Do-thái tiếp tục là một thực tại của cộng đoàn Mt . Nếu Israel bị kết án, mỗi người Do-thái vẫn có thể đến với cộng đoàn các môn đệ. Sẽ xuất hiện một cộng đoàn phổ quát trong đó mỗi người có một quan hệ trực tiếp và thân t́nh vừa với Đức Giêsu vừa với những người khác. Hoạt động của các môn đệ là một sự tiếp nối hoạt động của Đức Giêsu (4,23; 9,35; 11,1).
Để làm cho muôn dân thành môn đệ, hai việc các môn đệ phải làm là “làm phép rửa” nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi và “giảng dạy”. Căn tính mới của Thiên Chúa là căn tính Cha, Con và Thánh Thần, mà người môn đệ bắt đầu quan hệ với qua bí tích thánh tẩy. Lệnh truyền giảng dạy đă được đặt vào cuối Tin Mừng, có thể là v́ Mt coi nhiệm vụ giảng dạy như là nhiệm vụ cao nhất trong Hội Thánh. Nhóm Mười Một không được phép mở trường, nhưng tiếp tục học ở “trường” Đức Giêsu: các ông phải giảng dạy, như chính Đức Giêsu đă giảng dạy. Cho dù các ông đă nhận lănh bổn phận giảng dạy, các ông sẽ phải măi măi duy trị chân tính môn đệ, bằng cách nh́n nhận và chấp nhận uy quyền của Đức Giêsu, bằng cách bây giờ tin vào Đức Giêsu như tin vào chính Thiên Chúa.
Đề tài giảng dạy đă có sẵn: các lệnh truyền của Đức Giêsu. TM Mt chứa biết bao lời giảng dạy của Đức Giêsu (trong năm diễn từ), nhưng nhất là giáo huấn của Bài giảng trên núi đáng được xét đến. Trong lệnh truyền giáo, Đấng Phục Sinh đă nói với các môn đệ là “dạy bảo họ mọi điều Thầy đă truyền cho anh em” (c. 20). Câu này chắc chắn qui về tất cả mọi lời nhắn nhủ, tất cả giáo huấn của Đức Giêsu trong TM Mt, nhưng đặc biệt qui về các lời nhắn nhủ trong Bài Giảng trên núi bởi v́ Bài Giảng này chứa phần lớn những ǵ Đức Giêsu đă dạy các môn đệ và có một giọng thôi thúc người ta thực hiện các lời nhắn nhủ này (x. 7,13-27).
Tuy nhiên, Đấng nói đây không c̣n là v́ Thầy trần thế nữ a, nhưng là Đức Chúa Phục Sinh, “Đấng đă được ban cho toàn quyền trên trời dưới đất”. Bây giờ, với uy quyền của Đấng là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta” trong mức viên măn của sự Phục Sinh, Đức-Giêsu-đang-sống lấy lại giáo huấn của Bài Giảng trên núi và nhắc lại cho các thế hệ tương lai.
Mục tiêu không c̣n phải là chu toàn Lề Luật hoặc các Ngôn sứ, nhưng tuân giữ “tất cả những ǵ Thầy đă truyền cho anh em”. Như thế, chính Đức Giêsu đặt ḿnh vào v́ trí của “Lề Luật hoặc các Ngôn sứ” (x. ngay ở 5,21-48 với các công thức “Anh em đă nghe [Luật] dạy người xưa / C̣n Thầy, Thầy bảo cho anh em biết”), Người là Đấng lập pháp tối cao, diễn tả trọn vẹn ư muốn của Thiên Chúa. Thái độ này khi đó và lệnh truyền hiện nay gửi trở lại với các công thức khác nhau của Cựu Ước trong đó chính Yhwh truyền lệnh cho dân Ngài là tuân giữ điều răn của Ngài (x. 2 Sb 33,8; Xh 34,32; Đnl 4,2; 12,14). Bây giờ Đức Giêsu thay thế Yhwh khi khẳng định ư muốn của Người. Và chắc chắn ư muốn thần linh này được tập trung nơi điều răn yêu thương, đỉnh cao và sự hoàn tất của Kinh Thánh (“Lề Luật hoặc các Ngôn sứ”: x. 22,40).
Tuy nhiên, hẳn là ta có thể nới rộng ư nghĩa của “tất cả những ǵ Thầy đă truyền cho anh em” cho cả bốn bài diễn từ khác, bởi v́ tác giả đă xác định rằng chúng cũng là những “chỉ thị/dụ ngôn/những điều” của Đức Giêsu (x. công thức kết luận mỗi bài diễn từ: 11,1; 13,53; 19,1; 26,1; x. 7,28-29). Vấn đề ở đây là các giáo huấn của Thầy về các điều kiện và bản chất của đời sống đích thực của người môn đệ và về nẻo đường thánh ư chân thực của Thiên Chúa, “nẻo đường công chính” (21,32).
Khi nói “tất cả những ǵ Thầy đă truyền cho anh em”, Đức Giêsu xác định giáo huấn của Người là như một lệnh truyền, như một đ̣i hỏi cấp bách (trong một ngữ cảnh tương tự, Mc nói đến “tin mừng”: 13,10; 14,9; Lc th́ nói đến “hoán cải và tha thứ tội lỗi”: 24,47). Đấng Phục Sinh biến lời của Đức Giêsu trần thế thành chuẩn mực cho Hội Thánh mọi thời và “cho đến tận thế”. Sứ điệp của Đấng Phục Sinh được coi là đồng nhất với sứ điệp của Đức Giêsu trần thế.
Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế (20b). Egô meth’ hymôn eimi. Giới từ meta + thuộc cách có nghĩa là “với” nhằm diễn tả sự hiệp thông, sự hiệp nhất (cơ bản là riêng tư cá nhân), sự cộng tác, khi đó là tương quan của Đức Giêsu với những người khác: Đặc biệt 28,20 đáp lại khởi đầu Tin Mừng, khi mà Đức Giêsu được giới thiệu lúc chào đời như là Đấng mà “người ta sẽ gọi tên là Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta ” (1,23). Ở đây chúng ta có một thể đóng khung rất lớn bung mở ra chiều kích vũ hoàn của bản thân Đức Giêsu trên toàn thể lịch sử nhân loại, đồng thời vẫn nêu bật sự bám rể của Người về phương diện xác thịt trong thời gian và không gian. Thực tại Emmanuel này được diễn tả xuyên qua toàn thể Tin Mừng: Vào lúc chào đời của Đức Giêsu (1,23); trong khi hoạt động, Người hiện diện giữa nhóm môn đệ (9,15; 26,18.20.36.38.40; x. “Đức Giêsu dẹp yên biển động”, 8,23-27; egô eimi , 14,27); những lần Người tiếp xúc với người tội lỗi (9,11) và qua cái chết ban ơn cứu chuộc (26,28; x. 1,21; 17,17 so với Mc 9,19). Mt 28,20 hẳn là câu trả lời chung cuộc cho câu hỏi ấy. Bây giờ Người hứa ở với họ măi măi.
Trong Cựu Ước, bằng những thuật ngữ tương tự Ta sẽ ở với các ngươi măi măi, Yhwh thường đảm bảo với một tín hữu, một ngôn sứ, một thủ lănh, toàn dân, nhất là trong bối cảnh một cuộc sai phái, là Người sẽ hiện diện, nghĩa là giúp đỡ tận t́nh, với ḷng từ bi thương xót, để cứu độ. Đấng Kyrios ban cho các môn đệ cũng một đảm bảo như Yhwh đă ban cho dân Ngài trong Cựu Ước. Người không thế chờ cho các môn đệ, nhưng sẽ hiện diện với họ để nâng đỡ họ bằng sức mạnh, không do các đức tính hay các thành tích của các môn đệ, nhưng do sự trung tín hữu hiệu của Đấng đă đưa các lời hứa trong Kinh Thánh đến chờ hoàn tất. Khi nói “tất cả các ngày”, Đức Giêsu khẳng định Người sẽ ở thường trực và trọn vẹn với các môn đệ, và nhắm đến tận thế, “lúc kết thúc thời gian của thế giới này”.
+ Kết luận
Trên núi Galilê (28,16; x. 5,1), Đức Giêsu Phục Sinh, đại diện toàn quyền của Thiên Chúa, tỏ ḿnh ra như là Đấng mạc khải tối hậu của Thiên Chúa và Đấng lập pháp vĩnh viễn, nay cử các môn đệ đi đến với mọi dân tộc. Trong Cựu Ước, núi Sinai xuất hiện ra như là quả núi của mạc khải và của Giao ước, trên đó Thiên Chúa tự tỏ ḿnh ra và thông ban các điều răn của Ngài (Xh 19,1–24,11). Từ Sinai, dân Israel bắt đầu cuộc hành tŕnh tiến về Đất hứa; trên núi Galilê, Đức Giêsu đích thân, trong tư cách Đấng Phục Sinh, tức đă đi vào trong đời sống Thiên Chúa, cho thấy đâu là mục tiêu của mỗi người trong “tất cả các dân tộc”.
Các lời kết thúc của Đức Giêsu đă đón nhận lấy các nội dung chính của TM Mt về sứ vụ không biên giới của các môn đệ. Điều này c̣n cho thấy một lần nữa chiều hướng tổng hợp hướng về sứ vụ phổ quát như là nét tiêu biểu của Tin Mừng này.
5.- Gợi ư suy niệm
1. Nhóm môn đệ có một vết thương, gây ra do sự phản bội và sự biến mất của Giuđa. Họ không c̣n là mười hai, là là mười một. Vết thương này nhắc nhớ rằng tất cả đă bất trung với Đức Giêsu. Khi Người bắt đầu chuyến đi vào Thương Khó, các ông đă cắt đứt việc đi theo Người hoặc bằng cách chạy trốn (26,56) hoặc bằng cách giữ khoảng cách trong ba lần chối (26,69-75). Tuy nhiên, Đức Giêsu đă chữa lành vết đứt này. Người không gọi những môn đệ mới, nhưng gọi chính những người đă thất bại trong thử thách Khổ Nạn. Khi các môn đệ đến nơi hẹn, Đức Giêsu không hề thốt ra một lời trách móc, mà lại c̣n giao sứ vụ, là sứ vụ của chính Người.
2. Nhận biết và hoài nghi là hai thái độ có thể đi với nhau, như lời xin của cha đứa bé trong Tin Mừng Máccô: “Tôi tin! Nhưng xin Thầy giúp ḷng tin yếu kém của tôi” (Mc 9,24). Do đó, cần phải nh́n lại tất cả hoạt động công khai của Đức Giêsu dưới ánh sáng của biến cố Phục Sinh. Bây giờ Đức Giêsu mạc khải cho các môn đệ biết Người có toàn quyền, Người là Chúa tể không giới hạn, do quyền Chúa Cha ban cho Người. Người đă gọi các ông, các ông đă đi theo Người, đă nghe lời Người giảng dạy; Người đă chết trên thập giá, nhưng nay Người đang sống trước mắt các ông và là Chúa tể tuyệt đối, các ông hãy tin trọn vẹn vào Người.
3. Các môn đệ của Đức Giêsu phải ra đi để làm cho muôn dân “trở thành môn đệ” Người, chứ không phải trở thành môn đệ của chính ḿnh. Các môn đệ mới sẽ cùng các ông bước theo Đức Giêsu, nghĩa là liên kết với Đức Giêsu, hiệp thông cuộc sống với Người, chấp nhận Người chỉ cho ḿnh lộ tŕnh phải theo, xác định h́nh thái và chiều hướng sống, kư thác trọn vẹn nơi Người.
4. Những người được nhận lời hứa hiện diện thường trực cho đến tận thế, không chỉ là các môn đệ ở trên núi Galilê ấy mà thôi. Chân trời mở rất rộng: Đấng Kyrios không hiện diện giữa dân Người như trong mầu nhiệm nội tại và trong thực tại thần bí của Người, nhưng đúng ra, tại mọi thời và trong mọi t́nh huống, Người ở bên cạnh dân để trợ giúp và an ủi họ, để khích lệ và kêu gọi họ, và Người luôn luôn tháp tùng hoạt động của các sứ giả Người. Mt không nhắc đến Thăng thiên để không đưa Đức Giêsu đi xa cộng đoàn của Người: Người tháp tùng họ trong cuộc hành hương trần thế “cho đến tận thế”.
â
Lm. F.X. Vũ Phan Long, ofm
GIÁO LƯ: Bài 67: Lời Chúc Lành Miễn Cưỡng Của Một Thầy Chiêm
Khi dân It-ra-en tiến tới gần biên giới nước Mo-áp, th́ vua nước này là Ba-lác cho người đi mời một Thầy Chiêm tên là Bi-lơ-am đến để chúc dữ cho It-ra-en; vị Thầy Chiêm này nổi tiếng trong dân gian là người đă được thấy các thần linh; nhưng Thiên Chúa đă biến thầy chiêm này thành ngôn sứ của Người. V́ thế, thay v́ nguyền rủa theo lệnh của vua Ba-lác, thầy chiêm này lại chúc lành cho dân It-ra-en đến ba lần. Khi vua Ba-lác bảo Bi-lơ-am phải chúc dữ, th́ ông này trả lời: "Làm sao tôi trù được kẻ Thượng Đế không trù; Làm sao tôi rủa được kẻ Thượng Đế không rủa?" (Ds 23,8).
Qua câu chuyện này chúng ta thấy một điều rơ ràng: Mặc dầu dân It-ra-en đă bao phen phạm tội, phản nghịch Thiên Chúa, nhưng không bao giờ Thiên Chúa nguyền rủa Dân Người. Người đă không cho phép Thầy Chiêm Bi-lơ-am làm theo ư của vua Ba-lác: v́ thế thay v́ nguyền rủa, Bi-lơ-am đă phải thốt ra toàn là những lời chúc lành.
Cùng với những lời chúc lành Bi-lơ-am c̣n tuyên một lời sấm liên hệ đến tương lai của It-ra-en: "Tôi thấy nó, nhưng bây giờ chưa phải lúc; tôi nh́n nhưng chưa thấy nó kề bên: Một v́ sao xuất hiện từ Gia-cóp, một vương trượng chỗi dậy từ It-ra-en" (Ds 24,17); Đó là lời sấm về vị vua danh tiếng của It-ra-en là Đa-vít, và xa hơn nữa, về Đấng Cứu thế thuộc ḍng dơi Đa-vít.
Sau này, khi thánh Matthêu nói là một ngôi sao xuất hiện ở phương đông và dẫn đường cho ba đạo sĩ đến thờ lạy Chúa Giê-su (Mt 2,29), th́ người có ư nói là lời sấm của tiên tri Bi-lơ-am đă được ứng nghiệm. (C̣n tiếp)
â
Lm. Norbert Nguyễn Văn Khanh, ofm
LỜI KINH: Xin Ơn Biết Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu, Chúa là mẫu gương của đời sống cầu nguyện, là Thầy dạy cho chúng con về sự cầu nguyện.
Chúa luôn nhắc nhở chúng con phải tỉnh thức và cầu nguyện. V́ cầu nguyện là nhu cầu của tâm linh, là hơi thở của linh hồn, là vũ khí đánh tan mọi mưu mô của ma quỷ, là sự nối kết hiệp thông giữa Chúa và con.
Cầu nguyện cũng là nền tảng cho những ai muốn theo Chúa; Thế nhưng, đây lại là điều mà chúng con thường lười biếng bỏ qua… Xin Chúa tha thứ những yếu đuối của con, và dạy con biết cầu nguyện trong mọi lúc mọi nơi, cầu nguyện bằng lời nói lẫn việc làm như Ngài vậy…
Lại nữa, xin Chúa giúp con ư thức rằng: mỗi lời nói đem niềm vui, nụ cười, mỗi việc làm mang lại lợi ích cho anh em, đều là những lời cầu nguyện đẹp ḷng Chúa; Amen.
â
Maria
Cầu Nguyện Khi “ Đọc” Và “Sống” Lời Chúa
Người giáo dân có rất nhiều cách thức để cầu nguyện, đọc, và sống Lời Chúa, riêng người phan sinh tại thế đă chọn bước theo Chúa Kitô bằng linh đạo Phan Sinh, là chọn theo lư tưởng sống “từ Phúc Âm đến cuộc sống, và từ cuộc sống đến với Phúc Âm” cho ta thấy rằng: Nền tảng của nếp sống người phan sinh tại thế phải được xây đắp trên “Lời của Chúa”; Ở đây, chúng tôi xin chia sẻ một kinh nghiệm nhỏ về việc “Cầu nguyện khi đọc và sống Lời Chúa” mỗi ngày.
Có người thích đọc Lời Chúa theo thứ tự từng tác phẩm hay tác giả Kinh Thánh để học hỏi nghiên cứu, có người thích đọc Lời Chúa theo từng chủ đề hay mục đích riêng tùy theo hoàn cảnh hay tâm trạng của họ, có người đọc Lời Chúa theo các bài đọc trong trong thánh lễ Misa được in trong sách lễ Roma, với cách này, việc đọc Lời Chúa hằng ngày giúp họ lướt qua trọn năm phụng vụ nói về các mầu nhiệm của Chúa Cứu Thế cách đầy đủ nhất… Tuy nhiên, nếu chỉ đọc thoáng qua một lần rồi ngày hôm sau lại đọc đoạn khác th́ e rằng chúng ta chỉ đọc để “biết” Lời Chúa cách thoáng qua chứ chưa thật sự sống Lời Chúa; Nhưng, nếu được, chúng ta nên đọc Lời Chúa theo tŕnh tự từ “biết” (biết người, biết việc, biết bối cảnh đang nói tới trong đoạn Kinh Thánh), chuyển sang “thuộc” (nhớ những t́nh tiết, nhớ những câu nói đáng lưu ư trong đoạn Kinh Thánh ấy) rồi “hiểu” (để có thể tŕnh bày lại hay lập lại đoạn Kinh Thánh ấy theo ngôn từ và văn cách của ḿnh) và cần một khoảng thời gian cần thiết để “nhai lại” đoạn Kinh Thánh trước khi “tiêu hóa” và “chuyển hóa” Lời Chúa thành “chất bổ dưỡng” nuôi sống, biến đổi, canh tân đời sống của ḿnh… nếu chúng ta tập đọc và suy niệm Lời Chúa ở mức độ này mới có thể nói là “đang tập sống Lời Chúa”.
Thật vậy, giáo hội sắp xếp “năm phụng vụ” theo 52 Chúa Nhật của 3 năm A, B, C, nghĩa là mỗi Chúa Nhật chúng ta sẽ được nghe hay đọc một bài Tin Mừng nhắc nhớ những ǵ mà Đức Kitô đă nói đă làm theo tin mừng nhất lăm; Nếu chúng ta sống và cầu nguyện với bài tin mừng ấy suốt cả tuần lễ th́ chắc chắn Lời Chúa sẽ từ từ thấm vào tâm-trí-xác-hồn của ḿnh như muối mặn ướp vào thức ăn, như men dậy lên trong thúng bột, nghĩa là Lời Chúa sẽ từ từ biến thành thịt, máu, và sức sống của ḿnh để “ḷng ḿnh chất chứa sự ǵ, th́ miệng ḿnh sẽ nói ra điều ấy” và “tư tưởng phát xuất ra hành động” theo tinh thần của Lời Chúa.
Nói cách cụ thể là nếu mỗi ngày đọc đoạn Kinh Thánh của Chúa Nhật hôm ấy 3 lần với 3 bước suy tư và cầu nguyện mất khoảng 15 phút, th́ sau mỗi tuần (7 ngày), chúng ta sẽ có cơ hội để đọc và suy tư đoạn Kinh Thánh ấy đến 21 lần với sự “khám phá Lời Chúa” cách thích thú và phong phú chứ không nhàm chán hay gượng ép. Tŕnh tự ấy tóm gọn như sau:
Bước 1: Mỗi ngày, vào giờ thuận tiện, dành ra ít phút hồi tâm cầu nguyện với Chúa Thánh Thần để xin ơn soi sáng cho ta biết mở ḷng mở trí đón nhận Lời Chúa cách tốt đẹp và thuận theo thánh ư Chúa.
Bước 2: Chậm rải đọc đoạn Lời Chúa ấy, nếu có thể th́ đọc thành tiếng cách diễn cảm, đồng thời tự chọn một từ, câu, hay h́nh ảnh mà ḿnh chú ư hay ưa thích ghi trong đoạn Lời Chúa ấy.
Bước 3: Sau khi đă chọn từ, câu, hay h́nh ảnh mà ḿnh ưa thích th́ chậm rải đọc lại đoạn Lời Chúa ấy lần thứ 2 theo cách nói trên, sau đó suy tư xem lư do nào (tại sao, hay v́ đâu) mà ta đă chọn từ, câu, hay h́nh ảnh ấy; Cũng có thể dùng thời gian này để suy diễn từ, câu, hay h́nh ảnh ḿnh đă chọn theo cách hiểu của riêng ḿnh (Xin lưu ư là chỉ suy tư theo tinh thần của từ, câu, hay h́nh ảnh mới chọn mà thôi; phần c̣n lại của bài Tin Mừng nên để dành cho những ngày khác).
Bước 4: Khi đă hài ḷng với câu trả lời của ḿnh th́ chậm rải đọc lại đoạn Lời Chúa ấy theo cách nói trên lần thứ 3; Sau đó, suy tư xem Chúa muốn ta suy nghĩ thế nào, nên thay đổi ra sao, hay nên thực hiện điều ǵ cho thuận theo thánh ư Chúa?
Bước 5: Khi đă hài ḷng với câu trả lời của ḿnh th́ dâng lên Chúa những lời nguyện tự phát với câu mở đầu như: “Lạy Chúa, con cảm tạ Chúa…” hay “Lạy Chúa, con cầu xin Chúa…” với tâm t́nh “thờ lạy”, “cảm tạ”, “xin ơn” hay “thống hối”… Đây là lúc chúng ta tâm sự với Chúa những cảm nghiệm, những ước muốn, những âu lo theo cảm quan của Lời Chúa rọi soi cho chúng ta qua những phút suy tư và cảm nghiệm Lời Chúa vừa rồi.
Xin lưu ư: Nên bắt đầu việc này ngay tối Chúa Nhật có bài Tin Mừng ấy, các ngày c̣n lại từ thứ Hai đến thứ Bảy cũng thực hiện các bước như đă nói trên; nhưng mỗi ngày nên chọn một từ, câu, hay h́nh ảnh mới để làm chủ đề cho việc suy tư, và cầu nguyện.
Ước mong kinh nghiệm nhỏ bé này sẽ đem đến cho quí anh chị một phương thức “Cầu nguyện khi đọc và sống Lời Chúa”.
â
Ant. lvh, sfo
|
|

Trở về mục lục >>
Vai Tṛ và Nhiệm Vụ của Thủ Qũy
Dẫn nhập:
Đồng tiền vẫn là chỗ khó khăn cho mọi tổ chức, nhất là các tổ chức tôn giáo, và càng khó khăn hơn cho chúng ta là những người Phan Sinh Tại Thế: Chẳng những là người muốn theo sống tinh thần nghèo khó, mà thực tế, chúng ta cũng là những người rất nghèo; v́ vậy vai tṛ của a/c thủ quỹ trong huynh đệ đoàn thật là quan trọng. Chúng ta hăy t́m hiểu một số kỹ năng dành cho người thủ quỹ:
Hiến Chương nói ǵ về Thủ Quỹ: Ta hăy đọc điều 52.4
Dẫn giải:
Hiến Chương nói đến 3 nhiệm vụ của Thủ Quỹ:
a.- Giữ ǵn tài sản bằng cách ghi vào sổ
b.- Ghi mục đích xử dụng tài sản
c.- Báo cáo cho Đại Hội.
Vậy th́ cụ thể ta phải làm ǵ?
Trước hết ta hăy nói đến nguyên tắc an toàn cho việc quản lư tiền bạc, và tài sản.
Tài sản ở đây có thể lớn, như nhà cửa, ruộng đất, hay là đàn gia súc, cơ sở sản xuất... Có thể là nhỏ như dụng cụ thường nhật, văn pḥng, máy móc... Tài sản c̣n có thể là tiền bạc như tiền quyên cúng, tiền đóng góp, tiền sinh lợi… Vậy ta hăy phân tích các loại tiền ấy mà làm sổ sách cho phù hợp. Ta làm một cuốn sổ, có 2 phần riêng biệt như sau:
Phần Nhật Kư Chi Thu
Ghi vào phần này các sự kiện liên quan đến thu và chi theo các mục: Ngày, khoản thu (hoặc) chi, tiền thu, tiền chi, cân đối, ghi chú, Kư (kư nhận hoặc kư giao).
Giải thích:
Mục cân đối là để thấy ngay số tiền c̣n trong quỹ, mục ghi chú có thể dùng để ghi kèm lệnh thu, lệnh chi hoặc kèm danh sách giao nộp, hay những chi tiết đặc biệt khác.
Nguyên tắc là khi chi th́ phải có tiền; a/c thủ quỹ có quyền từ chối lệnh chi, cần trao đổi với a/c phục vụ, nếu số tồn quỹ là nhỏ hơn số cần chi. Trường hợp ấy muốn chi th́ phải có người ứng (cho vay), để có tiền mà xuất chi; tiền tạm ứng ấy cũng ghi vào sổ nầy. Mọi thu chi đều phải có lệnh của a/c phục vụ (là người duy nhất có quyền kư lệnh chi), a/c phục vụ có thể uỷ quyền cho một người khác, bằng giấy tờ và có thời hạn). A/c thủ quỹ có quyền từ chối xuất chi, nếu không có lệnh của a/c phục vụ.
Ngoài ra, tuy Hiến Chương không đ̣i buộc, nhưng để dễ dàng theo dơi, a/c thủ quỹ nên có sổ riêng cho việc thu, và sổ riêng cho việc chi. (như vậy tổng cộng là 3 cuốn sổ.)
2. Phần Ghi Tài Sản
Ghi vào phần này các vấn đề liên quan đến tài sản: động sản và bất động sản; ngoại trừ tiền của huynh đệ đoàn gồm các mục: số thứ tự, ngày, loại tài sản, ghi những sự kiện mua sắm, hoặc hoán chuyển, giá trị (khi nhận), mục đích sử dụng, hiện trang sử dụng, ghi chú.
Ngoài ra, do t́nh h́nh chung của những người sống tinh thần nghèo khó, a/c thủ quỹ c̣n có nhiệm vụ đề xuất các phương án làm lợi cho huynh đệ đoàn, và t́m cách tiết giảm việc chi tiêu, nghiêm túc góp ư và thẳng thắn từ chối các xuất chi không thật sự cần thiết, không tiết kiệm. Những thói quen cũ, ai cũng có thể tới a/c thủ quỹ để xin xuất chi, ta cần sửa lại cho đúng; Cũng vậy, việc làm lợi (kinh tài) cho huynh đệ đoàn th́ cần có thủ quỹ thường xuyên theo dơi, để nắm vững t́nh h́nh tài chánh của huynh đệ đoàn.
A/c thủ quỹ cần báo cáo với ban thường vụ trong những lần họp ban thường vụ để mọi người đều thấy hiện t́nh, và đồng trách nhiệm; Ngoài ra, mỗi lần họp hội đồng, a/c thủ quỹ cũng cần báo cáo rành mạch cho hội đồng; Nên nhớ sổ sách là tài liệu mật, chỉ có những người có trách nhiệm mới được tham khảo.
Kết luận:
A/c thủ quỹ hăy cố gắng làm sổ sách cho rành mạch rơ ràng, th́ mới tránh được những khó khăn không đáng có về mặt tài chánh, và thu hút sự hy sinh quyên góp của anh chị em trong và ngoài huynh đệ đoàn, mong sao túi tiền của ta bao giờ cũng là số dương. (C̣n tiếp)
â
Pet. Nguyễn Đức Tiến
Huy Hiệu (Áo Ḍng của Người PSTT)
Theo yêu cầu của một số bạn đọc, chúng tôi xin trích đăng lại đề tài nói về huy hiệu chữ T (Tau) thay thế cho áo ḍng của người PSTT.
Văn Bản Pháp Qui:
Theo Tổng Hiến Chương Ḍng Phan Sinh Tại Thế, bản văn chính thức ban hành ngày 06 tháng 12 năm 2001, điều 43 giải thích “huy hiệu đặc trưng thuộc về Ḍng Phan Sinh Tại Thế là chữ “Tau” hay một biểu tượng tương tự khác.
Nguồn Gốc và Ư Nghĩa Của Chữ T:
Một dấu hiệu thường thấy của đại gia đ́nh Phan Sinh là h́nh chữ T mà đọc theo tiếng Hy Lạp là chữ Tau (phiên âm theo tiếng Việt đọc là Tô, tiếng Anh đọc la Thao) có nguồn gốc như sau:
Thánh Phanxicô thường dùng chữ T để kư tên của ngài. Một lần trên đường đi Rôma để hội kiến Đức Giáo Hoàng Innôcentiô III về Ḍng của ḿnh mới thành lập, ngài ghé vào nhà thờ Thánh Gioan Latêranô và nghe đọc đoạn sách Êdêkien (9,4-6) nói rằng: “Hăy rảo khắp thành, khắp Giê-ru-sa-lem. Hăy ghi dấu chữ T trên trán những người đang rên xiết khóc than về mọi điều ghê tởm đang xảy ra trong khắp thành”. Tôi lại nghe Đức Chúa phán với năm người kia: “Hăy đi theo người ấy vào thành mà chém giết… nhưng tất cả những ai mang dấu trên ḿnh, các ngươi chớ đụng đến”.
Cảm động trước thị kiến của tiên tri về người tín hữu được khắc dấu trên trán, Thánh Phanxicô kêu lên: “Đây phải là dấu hiệu của Anh Em Hèn Mọn, những kẻ tin vào Cha trên trời”…
Trong sách Didachê, một bản văn của thời giáo hội sơ khai, chữ TAU có nghĩa là Lời Chúa.
Thánh Antôn, một vị ẩn tu ở sa mạc Ai Cập đă xua đuổi ma quỷ với một Thánh giá có h́nh chữ T.
Đôi khi Thánh giá này được gọi là “Thánh giá của kẻ trộm” v́ người ta cho rằng hai tên ăn trộm bị treo trên thập giá h́nh chữ T bên cạnh Chúa Giêsu.
Thánh giá T được dùng làm cờ hiệu cho Đoàn Hiệp sĩ trong thế kỷ 14. Đối với Phanxicô, đó là dấu hiệu thuộc về Đức Kitô.
Trong Thánh Vịnh Winchester ở thế kỷ 12, có một bức tranh vẽ Chúa Giêsu chịu phép rửa bởi Gioan Tẩy Giả, một thiên thần ngồi trên bờ, tay cầm chiếc áo tượng trưng cho “Sự sống mới” nhờ phép rửa. Áo có h́nh chữ T. Đó là dấu hiệu hành động theo hành động của Đức Giêsu trên thánh giá và xác định người mang áo là tín hữu hoàn toàn đi theo con đường của Chúa. Ngày nay dấu hiệu chữ T là dấu hiệu hiến thánh của tín hữu Đức Kitô trong đoàn sủng của Thánh Phanxicô. (Trích và chuyển ngữ từ The ways of Francis, 10-96).
Cũng như các nền văn hóa khác, nền văn hóa Do Thái xưa đă dần dần chế định một khoa thần bí, một lối suy diễn thiêng liêng về mỗi chữ trong bộ chữ cái của họ. Chữ viết Do Thái xưa, trên thực tế, chỉ được mă hóa 2 thế kỷ sau Chúa giáng sinh; Nhiều chữ cái được vẽ nhiều h́nh thức khác nhau, tuỳ thời đại, tuỳ địa phương, nơi dân Do Thái sinh sống.
Trong biểu tượng của bộ chữ ấy, chữ cuối cùng của bộ chữ Do Thái xưa có nghĩa là “chung cuộc, là sự viên măn của Mạc Khải” Chữ này được gọi là “Tau” và được viết bằng các nét /\, X, +, T. Khi ngôn sứ Ê-dê-kien (9,4) vẽ h́nh chữ T trên trán những người đang than khóc, Người muốn nhắc nhớ họ trung tín với Chúa cho đến cùng.
Mặc dầu trong tiếng Do Thái về thời sau này, chữ cuối cùng trong bộ chữ cái không c̣n dáng dấp của cây thập giá, nhưng trong bản dịch Thánh Kinh từ tiếng Do Thái sang tiếng Hy Lạp, chữ “Tau” vẫn được viết như h́nh chữ T.
Đối với người Kitô hữu vào thời đầu của Giáo Hội, chữ T đă gợi lên h́nh ảnh của cây Thánh giá, và là biểu tượng cho sự đau khổ và sự trung tín cho đến tận cùng.
Vào thời Trung Cổ, các tu sĩ Ḍng Thánh Antôn ẩn tu, một cộng đoàn mà Thánh Phanxicô biết rất rơ, xả thân chăm sóc người cùi. Họ thường mang trên người cây Thánh giá h́nh chữ T để tránh bị lây nhiễm bệnh cùi ; Có thể là Thánh Phanxicô đă lấy hứng từ đó. Ngài dùng cây Thánh giá h́nh chữ T như một dấu ấn riêng thay cho chữ kư, một đằng để nhớ tới Chúa Giêsu chịu đóng đinh, một đằng để nhớ tới người phong hủi mà người ước ao được phục vụ.
Năm 1215, sau 5 năm bản Luật Ḍng Anh Em Hèn Mọn được Đức Giáo Hoàng Innôcentê III phê chuẩn, đă có một lời kêu gọi hoán cải của Vị Chủ Chăn này được ghi lại: “Chung ta được kêu gọi hoán cải đời sống và sống trước mặt Chúa như một cộng đoàn giáo dân công chính, Chúa sẽ nhận biết chúng ta nhờ vào dấu chữ T ghi trên trán chúng ta.”
Về phần Thánh Phanxicô, hai cánh tay giang rộng, ngài thường nói với các tu sĩ đầu tiên là họ đang mang trên ḿnh áo Ḍng h́nh chữ T. Họ phải luôn thể hiện là những cây Thánh giá sống động.
Ngày nay các môn đệ của Thánh Phanxicô, tu sĩ hay giáo dân thường mang cây Thánh giá h́nh chữ T., Liệu chúng ta có ư thức rằng chúng ta đang mang cây Thánh giá của sự sống và của ḷng trung tín muôn đời hay không?
(Trích và chuyển ư từ Tập San HĐQT/PSTT, 1997, Quư 2)

Trở về mục lục >>
 |
|
Bài 22: Gia
Đ́nh Là Một Giáo Hội Nhỏ
Công Đồng Vaticanô II đă gọi gia đ́nh là một giáo hội nhỏ v́ chính ở đó, Thiên Chúa đến với chúng ta, nâng chúng ta lên làm con cái Người, đồng thời cũng chính ở đó, con người được học biết, kính mến và vâng phục Thiên Chúa. Ở đây, chúng ta hăy để ư nghe giáo huấn của Công Đồng: “Trong gia đ́nh cũng như trong một giáo hội nhỏ, ước ǵ cha mẹ là những người đầu tiên dùng gương lành và lời nói mà truyền dạy đức tin cho con cái” (GH 4)
Gia đ́nh, nhất là cha mẹ, phải là người đầu tiên truyền đạo cho con cái, nhiệm vụ này rất quan trọng, nhất là ở những nơi xa thánh đường hay xa linh mục; Theo Công Đồng Vaticanô II, th́ nhiệm vụ hàng đầu của Giáo Hội là rao giảng Tin Mừng. Vậy, khi gia đ́nh là một giáo hội nhỏ, Công Đồng cũng có ư nói gia đ́nh có bổn phận dạy đạo cho con cái ḿnh. Khoán trắng cho linh mục hay tu sĩ việc dạy giáo lư là một thiếu sót đáng tiếc và đáng trách. Ước ǵ theo giáo lư của Công Đồng, cha mẹ là những người đầu tiên dùng gương lành mà truyền dạy đức tin cho con cái. Vậy, trước hết anh chị em hăy làm gương cho các em bằng sự siêng năng bổ túc những kiến thức của ḿnh như: học hỏi Lời Chúa, nghe giảng, đọc Thánh Kinh và sách thiêng liêng... Kế đến mỗi người tuỳ khả năng và th́ giờ, nhắc nhở, đôn đốc và khuyến khích các em học giáo lư. Anh chị em phụ huynh nên làm một vài việc cụ thể sau đây:
- Mua sách giáo lư, chỉ dẫn và kiểm soát việc học của các em
- Đọc và giải thích các bài Kinh Thánh trong tuần cho các em, nhất là bài Phúa Âm các ngày Chúa nhật.
- Thảo luận chung trong gia đ́nh về bài giảng Chúa nhật của linh mục quản xứ
- Dọn sơ bộ các em xưng tội, rước lễ lần đầu, trước khi giới thiệu chúng học với cha xứ.
- Ghi một vài câu Phúa Âm trên bảng, trên vách, trên cửa để nhắc nhở nhau sống lương thiện, bác ái, quảng đại và hy sinh.
â
ĐGM Nicolas Huỳnh Văn Nghi
|

Trở về mục lục >>
 |
|
|
Thư Áo Nâu: B́nh Minh
Đến Muộn
Áo Nâu, anh thân yêu,
Sáng nay trời rả rích mưa, những giọt mưa cuối cùng mong manh lạnh giá kéo dài từ đêm qua; Tâm hồn em cũng rối bời v́ qua một đêm suy tư về sự sống, sự chết, và “văn hoá sự chết” đang hoành hành trên khắp cùng trái đất, nhất là trên đất nước chúng ta: Các thai nhi bị giết và kéo ra khỏi cung ḷng người mẹ, một số thai nhi lớn tháng bị đem đi bán cho những “người khách không có nhân bản” hưởng dùng như là món ăn bổ dưỡng, kéo dài sinh lực và t́nh dục... những tấm h́nh “ăn thai nhi” cứ ám ảnh em măi, em đă cầu nguyện thật nhiều cho con người sống nhân bản hơn…
Đă hơn 8giờ sáng, ông mặt trời mới ló dạng, nh́n qua các cụm mây mù mù ảo ảo. B́nh minh chăng? B́nh ḿnh đến muộn thế!
Chợt phía sau em một tiếng nức nở và tiếng bước chân đến gần; Hoàn, một nhân viên cửa hàng, vốn là bạn cũ, t́m em để tâm sự về những khủng hoảng tinh thần.
***
- Hai hôm nay ḿnh toàn thấy ma, ḿnh thấy ngay giữa ban ngày, khi ḿnh đang c̣n thức chị ạ.
- Bạn có nhớ lầm không? Có mơ ngủ không?
- Không, ḿnh thức, ḿnh ngồi bên cạnh quầy hàng th́ thấy những đứa trẻ xuất hiện, trờ mặt ra, lè lưỡi ra, khóc lóc, nghiến răng; Chúng rên rỉ và kêu la thảm thiết chợt biến, chợt hiện làm ḿnh rất bối rối và lo sợ....
- Bạn có đi khám bệnh chưa?
- Chưa chị ạ; ḿnh không có bệnh ǵ hết, ḿnh nghĩ có khám cũng chẳng được tích sự ǵ, chuyện này lâu nay cứ ám ảnh ḿnh mà nay mới xuất hiện như là ma thực đó.
Nói đến đây Hoàn bỗng nấc lên; nh́n khuôn mặt của Hoàn em đọc được những lo lắng và sợ hăi nơi cô ấy, nhưng em không hiểu tại sao bạn lại khóc…
- Đừng khóc nữa Hoàn! Nói cho ḿnh biết chuyện gi đă xảy đi! Có thể ḿnh sẽ giúp bạn được điều ǵ chăng!
- Không phải một lần đâu chị ạ, chúng quấy phá ḿnh suốt cả tuần qua, ḿnh van lạy chúng, nhưng chúng không tha, chúng cứ quấn lấy ḿnh, ḿnh thấy chúng ngay giữa ban ngày ban mặt...
- Bạn có làm điều ǵ sai quấy không, cứ đơn sơ nói cho ḿnh biết đi.
- Đă nhiều lần muốn tâm sự với chị nhưng ngại quá; ḿnh bị áp lực phải “điều hoà sinh sản” tới hai lần
Nói đến đây Hoàn nín thinh, hai vai rung động mạnh, mặt cúi gầm xuống; Em nhẹ nhàng nắm lấy tay bạn và vuốt vai bạn để trấn an được phần nào.
- Lần thứ nhất vào những năm 80, khi mới t́m được việc làm ở cửa hàng quốc doanh, họ ép ḿnh phải nạo bỏ nếu muốn tiếp tục đi làm. Ḿnh đă không c̣n lựa chọn, v́ hai đứa kia c̣n nhỏ dại, và cần tiền cho chúng ăn học. Ba năm sau, ḿnh lại mang thai lần thứ tư, khi ấy ḿnh đang làm ở ngân hàng này. Lúc ấy ḿnh nghĩ đă một lần rồi, có “điều hoà” thêm một lần nữa chắc cũng chẳng sao, hơn nữa, ḿnh muốn giữ thân thể trẻ trung...
Cầm ly nước lọc trong tay, em trao cho Hoàn và nâng khuôn mặt bạn ướt đẫm lệ
- Uống đi Hoàn; ḿnh đang cảm thông với bạn đây, người Công Giáo chúng ḿnh luôn có niềm vui khi được chia sẻ với anh chị em chung quanh, nói nữa đi Hoàn, ḿnh sẽ đặt Hoàn vào Trái Tim Chúa Giêsu.
- Đă hai mươi năm rồi, tâm trí ḿnh luôn bị ám ảnh là ḿnh đă giết hai đứa con, và cứ thế, càng ngày ḿnh càng lưu tâm đến chuyện này nhiều hơn. Ở cái tuổi 50 này, ḿnh hết đường trốn chạy rồi. Trong khi hai đứa lớn đă được sinh ra, được sống với ḿnh mà chẳng ra ǵ, th́ ḿnh lại nghĩ về hai đứa đă bị bỏ đi; Tâm tư ḿnh ngày càng rối loạn, ḿnh cảm thấy ân hận vô cùng. Ban đầu, ḿnh tưởng là chỉ khi nhàn rỗi mới nghĩ đến chúng; Nào ngờ bất cứ lúc nào, nơi đâu, ḿnh cũng có thể hú hoạ nh́n thấy chúng đến khóc lóc, rên rỉ và hù doạ nữa.
- Hoàn ạ, rất tiếc là vào lúc ấy, bạn không được chuẩn bị để có thêm con, và đáng tiếc là bên cạnh bạn không có những người thực ḷng muốn giúp bạn. Nay, th́ ḿnh cũng không biết làm cách ǵ để giúp bạn an ḷng. Nếu là người công giáo, chúng ḿnh sẽ đến với Chúa là nguồn an ủi; Chúa tha thứ cho ḿnh, giúp ḿnh tha thứ cho bản thân, và giúp cho các con được siêu thoát như cách nói của tôn giáo của bạn. Thôi! Ḿnh sẽ cầu nguyện cho Hoàn; sẽ dâng sự đau khổ và nỗi ám ảnh của bạn vào Trái Tim Chúa, và mọi người mọi việc sẽ được b́nh yên trở lại…
- Vậy ḿnh có thể ‘nhờ vả’ Công Giáo không, ḿnh có thể ‘vào đạo’ được không…
Anh thân yêu; b́nh minh đă đến muộn, nhưng vẫn c̣n kịp…
â
Agnès Kim Gương
Thánh Tâm
Mỗi trái tim là quê hương, là mái nhà, là bến bờ rất đổi riêng tư của mỗi người, nơi ấy là chốn b́nh yên nhưng ít ai biết t́m về nghĩ ngơi khi bị cuộc đời với lắm gian nan vất vả vùi dập. Là chốn b́nh yên bởi v́ trái tim là nguồn cội yêu thương, là nơi luôn vang vọng những lời yêu thương cho giai điệu cuộc sống mỗi ngày thêm hạnh phúc; Cũng vậy, Thánh Tâm Chúa Giêsu chính là nguồn cội của muôn nguồn cội, là nguồn cội phát sinh mọi nguồn mạch yêu thương.
Tôi gọi tháng Sáu là tháng “Yêu Thương”, v́ đây là thời khắc giáo hội dành riêng để nhắc nhở chúng ta tôn thờ, suy niệm, cảm mến, kính nhớ Thánh Tâm Chúa Giêsu, kính nhớ t́nh yêu bao la đến vô biên vô tận của Thiên Chúa tặng ban cho con người, và mỗi khi tháng Sáu trở về th́ tôi lại “đi t́m” Chúa.
Quay về những ngàn năm trước, thuở Thầy Giêsu chí thánh c̣n xuôi ngược, bôn ba, trên những nẽo đường quê hương, và với t́nh yêu bao la mà Thầy tuôn đổ trên muôn người tội lỗi qua những gịng Kinh Thánh thân thương: Sớm tinh mơ, khi mặt trời c̣n say ngủ, sương vẫn c̣n vươn vấn trên cành lá, tôi đă thấy Thầy ngồi nơi đền thờ, và tôi thấy có rất nhiều người đang hùng hổ lôi kéo một người phụ nữ đến, và nói với Thầy rằng: “Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại t́nh. Trong sách Luật, ông Môsê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. C̣n Thầy, Thầy nghĩ sao?” (Gn 8,4-5), Thầy im lặng, cúi xuống, lấy ngón tay viết trên đất (Gn 8,6) Đám đông như phẫn nộ trước thái độ im lặng của Thầy, họ càng la lối, ồn ào, bát nháo hơn. Và trước những cá tính ích kỷ, hẹp ḥi, độc ác, chai đá, Thầy ngẩng lên và bảo họ: “Ai trong các ông sạch tội, th́ cứ lấy đá mà ném trước đi! Rồi Thầy lại cúi xuống viết trên đất (Gn 8,7-8). Thế là họ tịt ng̣i! Cả một đám người ḷng dạ đang hừng hực, tay cầm đá đang chực hờ để ném kẻ có tội bỗng nhiên lặng xuống như chiếc phao căng tṛn bất chợt bị vật nhọn đâm thủng; Lời của Thầy, như một trận mưa rào dội xuống khu rừng đang ngùn ngụt lửa thù ghét, những kẻ hung hăng chợt bẻn lẻn, cúi đầu rút lui cách lặng lẽ.
Khi đám đông đă đi hết, Chúa Giêsu vẫn ngồi đó và cúi đầu, người phụ nữ tội lỗi cũng vẫn đứng đó yên lặng với gương mặt vẫn c̣n đầy nét kinh hoàng; Bất chợt Thầy ngẩng lên và nói: “Này chị, họ đi đâu cả rồi? Không ai lên án chị sao? Người phụ nữ đáp: Thưa ông, không có ai cả! Thầy tiếp lời: Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi, chị về đi và từ nay đừng phạm tội nữa” (Gn 8,10-11). Người phụ nữ ấy nh́n Thầy với đầy vẻ ngạc nhiên, ngơ ngác đến ngớ ngẩn, lần đầu trong đời chị, mà có lẽ cũng là lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc của chị có người dám đi ngược lại lề luật của Môsê, sẵn sàng tha thứ, dám tha thứ và cho chị ra về với lời nhắc nhở thật nhỏ nhẹ tràn ngập tŕu mến yêu thương. Niềm vui và hạnh phúc bất chợt ào ạt tuôn đổ trong tâm hồn người phụ nữ, chị ra về trong b́nh an và tấm ḷng biết ơn Thầy cho đến chết. Bóng người phụ nữ ấy đă xa mờ, Thầy vẫn con ngồi đó dơi mắt trông theo. Tôi cũng nh́n theo người phụ nữ ấy, rồi quay lại nh́n Thầy Giêsu, tôi cũng đầy ngạc nhiên và ngớ ngẩn trước t́nh yêu bao la của Thầy. Tôi chợt nghĩ: Thánh Tâm của Thầy và trái tim người tội lỗi có cùng một nhịp đập, Thầy đang mang trái tim của người tội lỗi, Thầy đă lắng nghe những nhịp tim đập rối loạn v́ sợ hăi, lắng nghe tiếng tâm hồn than khóc v́ không lối thoát, Thầy thương xót một con người yếu đuối cô độc bị dồn ép đến đường cùng nên Thầy đă tặng cho người phụ nữ ấy Thánh Tâm của Thầy, Thánh Tâm ấy chính là ḷng dung thứ bao la, là biển trời êm ái, nồng nàn yêu thương, cho kẻ tội lỗi có bến để đến, có nơi để t́m về, có lối thoát để vươn tới sự sống, và để cho người phụ nữ ấy đă ra về trong t́nh yêu thương của Thầy… Mặt trời đă lên cao, một ngày mới đă bắt đầu, chắc chắn người phụ nữ ấy cũng sẽ bắt đầu một ngày mới cách tốt lành khi được sống trọn vẹn trong t́nh yêu thương của Thầy, và có lẽ chị sẽ luôn bắt đầu và lại bắt đầu, bởi v́ h́nh ảnh, lời nói, việc làm của Thầy hôm nay sẽ ở lại trong đáy tim của chị suốt đời.
Tôi chứng kiến từ đầu tới cuối sự kiện ấy, tôi cảm phục và kính ái Thầy biết bao; Quả thật, đường lối của Thầy rợp bóng yêu thương, ai đi theo đường lối của Thầy đều được Thầy tặng ban t́nh yêu của chính Thầy, ai muốn theo Thầy th́ cũng phải học hỏi và bắt chước theo gương của Thầy tập sống yêu thương; Ai không biết yêu thương th́ không thể bước chung đường với Thầy.
Thầy ơi, con theo Thầy đă mấy mươi năm, con luôn tự hào ḿnh là môn đệ của Thầy, mang danh Thầy trong cuộc đời mỗi ngày, mỗi giờ, vậy mà bấy lâu nay, ngày nào con cũng hùa theo đám đông để kết tội những người chung quanh con. Con tố cáo anh chị em ḿnh một cách không thương xót, con nói như chưa bao giờ được nói, nói không chút ngượng miệng. Miệng lưỡi con tuôn ra biết bao ngôn từ nhục mạ, dèm xiểm, chê bai kẻ khác. Hôm qua con nói xấu người này ở giữa chợ, hôm nay con chỉ trích người kia với xóm làng, ngày nọ con xét đoán, kết tội người khác giữa cộng đoàn. Những lời nói của con là những ḥn đá to tướng ném vào cuộc đời của anh em, gây thương tích cùng muôn nỗi đau đớn, nhức nhối cho anh em mà con vẫn cứ ung dung nói, vẫn cứ tự tôn, tự đại cho ḿnh là đúng trong khi bản thân con có muôn muôn vàn lầm lỗi.
Lạy Thầy, con sấp ḿnh trước mặt Thầy để tạ tội và xin ơn tha thứ; Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu, xin dạy con biết yêu thương người…
â
T.CT
T́nh Cha
(Cảm hứng từ Lc 15, 11-31)
Mặt trời ngă bóng, ánh nắng vàng như mờ nhạt cho cái nóng nung người của mùa Hè lui bước; và trong tích tắc, hoàng hôn rũ bóng, màu tím của hoàng hôn phủ ngập mọi nơi, đồng cỏ xanh um dần dần trở nên đen sậm, một ngày sắp hết, giờ lao động của mọi người cũng xong; Trên cao, những cánh chim vội vă t́m bay về tổ, dưới đất, những bác nông dân thong thả gọi nhau về nhà.
“Thằng Út” lầm lũi bước sau bầy heo, nó lặng lẽ cho heo vào chuồng rồi đến ngồi tựa gốc cây bên cạnh chuồng heo, mắt ngó mênh mông vào khoảng không bao la tăm tối trước mắt; tăm tối như giây phút hiện tại của cuộc đời nó với ḷng ngỗn ngang muôn nỗi buồn tủi, nhớ thương, ray rứt…
Ngày xưa ấy, ở gia đ́nh, chẳng ai dám gọi nó là “thằng”, một tiếng cũng thưa cậu, hai tiếng cũng thưa cậu bởi v́ nó là vua, nó đươc cha yêu nó hơn hết mọi thứ quư giá trên trần gian này. Trong nhà cha, nó có hàng tá gia nhân, có cả một thế giới yêu thương, một vũ trụ tự do bay nhảy; Ngày ngày được hưởng nếm hạnh phúc ngọt ngào của cha luôn dành sẵn cho nó. Dù nó khôn lớn, nhưng trong đôi mắt cha, nó măi măi là trẻ thơ, bởi thế, cha luôn ấp ủ nó trong ṿng tay, mỗi khi nó muốn được cha yêu ch́u, là nó sà vào ḷng cha nũng nịu, ṿi vỉnh.
Rồi một ngày kia, đứng bên trong khu vườn hạnh phúc mà nh́n ra bên ngoài, nó nh́n thấy có nhiều người, nhiều thứ, nhiều tiếng gọi khác nhau. Người bên ngoài mĩm cười thân thiện, vật chất vẫy tay lă lơi mời gọi, bạc tiền, danh vọng, quyền lực níu kéo, t́nh đời đẹp lấp lánh, lung linh, Những lời mời mọc ấy gợi lên sự ṭ ṃ, kích thích nỗi ham muốn, nó bắt đầu suy nghĩ: Nếu đi theo những người ở ngoài kia th́ nó phải xa gia đ́nh, xa mái nhà thân yêu một thời vui sống; Nếu được tất cả những thứ ấy th́ nó sẽ mất cha. Nhiều đêm nó trăn trở, và rồi, sự ham muốn của bản thân như sóng trào dâng ập xuống trái tim, cho nhịp đập không c̣n tơ vương; Vật chất bên ngoài như băo tố cuống trôi t́nh phụ tử thiêng liêng cao quư, nó đến trước mặt cha, ngẩn cao đầu đ̣i buộc cha chia gia tài. Người cha nh́n con ngỡ ngàng trong đau đớn, trái tim cha như có muôn mũi kim châm chích, đôi mắt cha chợt sâu thẳm ân t́nh, tha thiết nh́n con với gịng nước mắt. Nhưng đứa con chẳng hề bận tâm, tuy đứng trước mặt cha nhưng tâm trí nó chỉ nghĩ đến món gia tài kếch sù sắp nhận, đứng trong nhà cha nhưng tâm trí lại để bên ngoài; Tiếng gọi từ bên ngoài vẫn vang vọng và lôi cuốn. Lời khuyên bảo tha thiết của cha, t́nh yêu của cha dành cho nó giờ đây bỗng trở nên thừa thải; Và rồi, ôm mớ tài sản kếch sù, nó cất bước ra đi không một chút vấn vương, người cha lẵng lẽ dơi mắt trông theo, mỗi bước đi của con là một nhát dao đâm thấu tâm hồn cha; bóng con đă khuất nhưng người cha vẫn đứng đó…
Bạc tiền chỉ là phù vân, danh vọng chỉ là hư vô, cội nguồn của con người là yếu đuối, bất toàn… Chỉ trong một thời gian ngắn ngủi, tiền bạc mang theo đă hết, gia sản của cha cho chẳng c̣n một xu dính túi, bạn bè xa lánh, người người cười chê, nó chẳng c̣n tiền để sống, chẳng c̣n nơi để ở, không có ǵ để ăn, chẳng c̣n ai để bám víu. Nó đành mang tấm thân đi làm thuê để kiếm sống, nhưng làm việc ở đây bất công quá! Họ thương thú vật hơn thương người, họ cho heo ăn uống no nê nhưng bản thân nó th́ phải nhịn đói đến meo mốc bao tử.
Bóng tối đă bủa vây, nhà nhà đều lên đèn, người người cùng quây quần bên mâm cơm, bên chén trà, cùng vui cười kể chuyện nhau nghe những vui buồn, nhọc nhằn sướng khổ của một ngày qua; Tiếng cười nói của nhà ai đó vọng đến, mùi xào nấu thức ăn từ đâu bay vào mũi làm nó càng nhớ cha da diết. Những ngày được sống hạnh phúc trong nhà cha như muôn ngàn con sóng dâng trào trong đáy ḷng. Bao món ngon vật lạ hiện ra trước mắt nó và nó cảm thấy cơn đói khát hoành hành dữ dội! Đói từ thể xác đến tinh thần! Đói t́nh yêu thương của cha, khát khao ṿng tay nồng ấm của cha đến da diết, nó thèm chén cơm thơm trắng dẽo nơi nhà cha quá đổi; Bất chợt, nước mắt nó chảy dài trên gương mặt hốc hác, những giọt nước mắt ấy chảy vào tận tâm hồn rồi đọng lại nơi ấy cho nỗi nhớ cha đến quay quắt điên cuồng.
Gió ào ạt thổi đến, nó ngẩn mặt nh́n trời, mây đen đă giăng kín bầu trời, sắp có mưa to, và rồi cơn mưa đă trút xuống bóng đêm muôn ngàn giọt nước, tiếng mưa đêm hoà lẫn với tiếng gió rít tạo nên âm thanh giống như tiếng khóc hoảng loạn của trẻ thơ mất mẹ trong đêm vắng. Đă đói càng thêm đói! Đă lạnh càng thêm lạnh, cô đơn càng thêm cô đơn, nó hoảng sợ bóng đêm, sợ cái lạnh của cuộc đời, sợ luôn cái đói của thân xác; Nó bật dậy và quyết định trở về nhà cha, về để tạ tội, về để được hưởng nếm hạnh phúc mà nó đă một thời đánh mất.
Chỉ về tới đầu làng là cha nó đă nh́n thấy, bởi v́ từ ngày nó đi, người cha vẫn luôn tựa cửa mong chờ, người cha vội vả chạy ra đón con, cha ôm chầm lấy con, siết chặt, giọt nước mắt vui mừng lấp lánh trên đôi mắt đă hằn sâu những vết nhăn v́ thương nhớ. Cha âu yếm hôn lên trán con một nụ hôn nồng nàn, tŕu mến, chan chứa yêu thương. Đứa con quỳ gối trước mặt cha nhưng chưa kịp thưa với cha một lời nào th́ cha đă khoả lấp hết mọi lỗi lầm của con bằng cách sai gia nhân mang đến cho con áo đẹp, giầy đẹp và chiếc nhẫn thật đẹp; Cha trao lại cho nó quyền làm con, cái quyền mà chính nó đă khước từ ngày nó bỏ nhà ra đi.
“Cậu Út” thong thả đi tản bộ với cha trong khu vườn hạnh phúc, một thứ hạnh phúc chỉ có thể có được duy chỉ nơi nhà của cha; Vừa đi, cậu vừa ôm lấy cánh tay của cha, như sợ phải xa cha v́ cậu đă hiểu rằng: Cha mới thật sự là nguồn hạnh phúc chân thật và vĩnh cữu của đời cậu.
Một ngày mới đă đến, chuyện của ngày hôm qua đă nằm yên trong dĩ văng, mọi lầm lỗi đều được thứ tha, cậu tự nhủ phải bắt đầu tập sống vâng theo ư cha mỗi ngày; Và mỗi ngày sẽ là một sự bắt đầu, và sẽ bắt đầu suốt đời để bù đắp tội lỗi, và đền đáp t́nh cha. Lạy Cha, Cha là tất cả của đời con…
â
Thăng Hoa
T́nh Yêu
Như thánh Gioan đă viết: “Thiên Chúa là t́nh yêu!”, Vâng, yêu thương là bản tính của Thiên Chúa, Ngài yêu con người đến vô biên vô tận, Ngài làm tất cả mọi việc chỉ v́ yêu; Ngài tạo dựng vũ trụ và giữ cho chúng tồn tại cho đến ngày nay cũng chỉ v́ t́nh yêu.
T́nh yêu giống như hơi thở của con người, t́nh yêu là đề tài muôn thuở mà con người hay nói đến, tuy nhiên, t́nh yêu vẫn là dấu chấm hỏi kéo dài đến bất tận mà con người không bao giờ lư giải được. T́nh yêu thật diệu huyền và bí ẩn, đẹp ngời muôn vẻ nhưng không thể chiêm ngắm bằng đôi mắt xác thịt mà chỉ cảm nhận và cảm nghiệm bằng đôi mắt của tâm linh, bằng những rung động của trái tim. Tuy biết ḿnh đang yêu, nhưng không ai thấy được h́nh dáng, màu săc của t́nh yêu như thế nào; Biết ḿnh đang yêu nhưng không thể đo lường, đong đếm, hay tính toán, càng không biết ḿnh đă cho và phải cho bao nhiêu th́ t́nh yêu mới đủ đầy.
Có lẽ ai đă yêu cũng đều biết rằng: Khi yêu nhau th́ t́nh yêu luôn vơi chứ không đầy; V́ khi yêu, người ta cứ chờ đợi, mong mơi, khao khát mong được đón nhận t́nh yêu từng giây phút mà không bao giờ cảm thấy no thỏa, mặt khác lại cứ muốn cho đi và cho nữa, cho them, cho hết với hy vọng sẽ làm vui long người ḿnh yêu. C̣n trái tim th́ luôn chứa đựng h́nh ảnh của nhau, ước muốn được sống bên nhau để dâng hiến cuộc đời cho nhau, nâng đở nhau, hy sinh cho nhau để t́nh yêu được tồn tại và phát triển…
Chỉ là phàm nhân, nhưng khi yêu, chúng ta đă biết cho nhau những điều tốt lành, biết dùng t́nh yêu để giúp nhau thăng tiến và mưu cầu hạnh phúc cho nhau; Huống ǵ Thiên Chúa T́nh Yêu, Đấng ban tặng t́nh yêu thương cho con người và dạy cho con người biết yêu thương, th́ Người yêu chúng ta đến vô ngần, t́nh yêu của Người dành cho chúng ta không có ranh giới, không bút mực nào có thể diễn tả được, cho dù đem hết cả vũ trụ này để sánh ví th́ cũng chỉ là giọt nước sánh với biển đông. Dùng hết tâm trí của chúng ta để chiêm ngắm t́nh yêu của Người th́ sự hiểu biết của chúng ta cũng chỉ là hạt cát trong sa mạc. Hơn hai ngàn năm qua, t́nh yêu của Người vẫn bao phủ trên mọi tạo vật, và t́nh yêu ấy trải dài đời đời v́ Ngài là Đấng nhân từ, chung thủy và hằng hữu, mỗi ngày trôi qua trong cuộc đời là mỗi ngày đón nhận t́nh yêu thương chan hoà của Thiên Chúa, từng giây phút trôi qua là từng hồng ân của Chúa tuôn đổ trong cuộc sống mỗi người.
Tháng Sáu lại đến, giáo hội dành riêng để kính nhớ t́nh yêu bao la của Thánh Tâm cực thánh, cực lành đă bị đâm thấu v́ tội lỗi loài người, chúng ta hăy sống như những trẻ thơ ngoan hiền ngày ngày đến bên Thánh Tâm Chúa với tâm t́nh biết ơn dâng Ngài cùng những ưu tư, lắng lo, sướng khổ, vui buồn của từng ngày sống đang dần dần trôi qua…
â
Sông Quê
|
|

Trở về mục lục >>

Lời Mời Gọi
Khi cầu nguyện cho người khác cũng là cầu nguyện cho chính ḿnh, và khi cùng cầu nguyện với nhau th́ hiệu quả của lời cầu nguyện càng hữu hiệu hơn.
Nếu quí vị có những ư chỉ muốn cùng cầu nguyện với chúng tôi, xin hăy liên lạc với chúng tôi qua điện thoại 714-720-4465, hay qua email psttvnusa@yahoo.com hoàn toàn miễn phí. Chúng tôi không thể tự ư phổ biến công khai những ư chỉ cầu nguyện nếu không có ư kiến của quí vị.
Xin những ai quan tâm đến những ư chỉ dưới đây, cùng hiệp ư cầu nguyện với chúng tôi vào lúc 9 giờ tối mỗi đêm (theo giờ California, Hoa Kỳ). Tuy nhiên, xin quí vị cứ tiếp tục cầu nguyện vào những lúc thuận tiện với hoàn cảnh của ḿnh.
Tâm T́nh Tạ Ơn
- Chị Kim Gương xin dâng lời cảm tạ v́ chị có người con trai là Nguyễn Hoàng Trí Dũng mới được lănh nhận chức Phó Tế hôm 17.5.2009, ở Pháp quốc.
Xin Ơn Chữa Lành Thể Xác
- Xin cầu nguyện cho chị Kim Gương và một chị bạn phan sinh tại thế khi đi hành hương Mẹ Tapao bị tai nạn xe Honda và đang chữa trị sớm được b́nh phục.
- Xin cầu cho các bệnh nhân: Brenda Arkerman, Nhung Bùi, Phạm Tuyết Minh, Trần Việt Cường, Nguyễn Thanh Thủy, Đào Đ́nh Ngọc, Lư Bùi, Nguyễn Thanh Hằng, Nguyễn K. Phượng, Trần C. Kevin, Trần T. Cúc. Trần T. Huệ, Nguyễn Kim Ngọc, Quyên Trần, Minh Thu, Nguyễn Tùng, Babi P.Khanh Lê, Phạm Linh, Kinh Lê, H. Lê, Lê Đoàn, C.Nguyễn, Hoàng Hậu, Trân Trần, Vũ Ngọc Jennifer, Ray Hardwick, LM William Brand, ĐGM Nicolas Huỳnh Văn Nghi.
Xin Ơn Chữa Lành Tâm Hồn
- Một gia đ́nh xin cầu nguyện cho một số tu sĩ và nữ tu đang giao động ơn gọi v́ bị ảnh hưởng của sức khỏe.
Xin Cầu Nguyện Theo Ư
Đặc Biệt
- Một người xin cầu nguyện cách đặc biệt cho một người vợ bị bệnh tâm thần nặng.
- Xin quí anh chị hăy cùng các linh hồn thai nhi kêu cầu các Thần Thánh trên thiên quốc nài xin Chúa Thành Thần soi ḷng dạy dỗ cho những nhà lănh đạo các quốc gia, những người làm Luật, những bác sĩ và chuyên viên y tế, những người làm Cha-Mẹ hăy ngưng việc sát hại thai nhi vô tội. Xin quí anh chị hăy nghĩ đến các linh hồn thai nhi và cầu nguyện với các linh hồn thai nhi ít là 2 lần trong ngày vào giờ Kinh Sáng và Kinh Tối.
Xin Cầu Nguyện Cho Các Linh Hồn
- Linh hồn mới qua đời là: Maria Tran thi Xang
- Và các linh hồn Angela: Ngọc.
Anna: Hoa, Sáu, Chiểu,
Điểm, Phượng, Ri. Antôn: Vượng, Đại. Cecilia Kỷ. Giacôbê: Dũng. Gioan Baotixita: Ngọc, Vinh Chính, Hoả, Khoát. Gioankim: Thống. Gioan-Phaolô: Bất. Giuse: Luận, Tư, B́nh, Đoài, Hân, Hiền, Hồng, Kiên, Long, Mỹ, Thanh, Tính, Từ Giuse-Maria: Diệm, Phán. Katarina: Kính. Luca Khoa. Lucia: Phụng. Madalêna: Hà, Kim Cúc. Maria: Nhật Ánh, Tín, Thứ, Vân, B́nh, Đường, Khiếu, Như, Oanh, Phúc, Tính, Trang, Tranh. Maria Juliette: Độ. Maria Rosa: Quang. Matta: Tốt. Phanxicô Saviê: Xân. Phaolô: Lộc, Nghị, Qui, Thông. Phêrô: Diệu, Tụng, Cư, Hữu, Lư, Lộc, Thạnh, Thế, Tự. Têrêsa: Phương Anh, Chi, Bích Mai, Thu. Tađêô: Dương. Tôma: Toàn. Vêrônica: Úy. Hồng y: Phaolô Giuse Tụng. Các linh mục: Giuse Biên, Phêrô Bá, Gabriel Phong. Các linh hồn thân quen: Diệp Hoa, Diệp Thọ, Mai Anh, Dorren Harvey. Và các linh hồn không ai nhớ đến.
- Linh mục Lê Quang Uy, DCCT xin chúng ta cầu nguyện cách đặc biệt cho linh hồn các thai nhi đă bị phá thai ngay khi c̣n trong bụng mẹ.

Trở về mục lục >>

Ơn Toàn Xá
Ṭa Ân Giải Tối Cao
Prot. N. 174/08/I
Thừa lệnh Đức Thánh Cha, rộng ban Ơn Toàn Xá cho những Kitô Hữu nào thực ḷng sám hối, đền tội, và chu toàn đầy đủ các điều kiện thông thường là xưng tội rước lễ và cầu nguyện theo ư Đức Thánh Cha. Họ được lănh nhận Ơn Toàn Xá khi kính viếng dưới dạng hành hương ít nhất một trong các Nhà Thờ Tu Viện hoặc Nhà Thờ Giáo Xứ được trao phó cho các Anh em hèn mọn chăm sóc mục vụ, và tại đó họ hợp ḷng hợp ư với các mục đích thiêng liêng của các cuộc cử hành trong Năm Kỷ Niệm Thành lập Tỉnh Ḍng Anh em hèn mọn Việt nam và họ tham dự sốt sắng một nghi thức thánh thiêng hoặc một việc đạo đức được thực hiện công khai, hoặc cầm trí suy gẫm về một đề tài đạo đức trong khoảng thời gian thích hợp và kết thúc bằng việc đọc hay hát Kinh Lạy Cha, Kinh Tin Kính và kêu cầu Đức Mẹ Đồng Trinh; Họ cũng có thể nhường ơn toàn xá ấy cho các linh hồn đang bị cầm giữ nơi Luyện Ngục như một dạng bầu cử cho các linh hồn ấy.
- Ngày 04-10-2008: Đại lễ Thánh Phanxicô Assisi, bổn mạng của Tỉnh Ḍng, cũng là ngày khai mạc Năm Thánh;
- Ngày 21-11-2008: Lễ nhớ Đức Trinh Nữ Maria Dâng Ḿnh trong Đền Thờ, kỷ niệm ngày các Anh em hèn mọn đặt chân đến Việt Nam, thành lập Tỉnh Ḍng;
- Ngày 08-12-2008: đại lễ Đức Trinh Nữ Maria Thành Thai Vô Nhiễm, bổn mạng Ḍng Anh em hèn mọn;
- Ngày 25-03-2009: Đại lễ Truyền Tin;
- Ngày 01-05-2009: Lễ nhớ Thánh Giuse Thợ, để phát huy ơn làm việc được Thánh Phanxicô khuyến khích;
- Ngày 13-06-2009: Lễ kính Thánh Antôn Pađôva;
- Ngày 15-07-2009: Lễ kính Thánh Bonaventura;
- Ngày 11-08-2009: Lễ kính Thánh Clara;
- Ngày 25-08-2009: Lễ kính Thánh Lu-y, Bổn mạng của Ḍng Phan Sinh Tại Thế;
- Ngày 04-10-2009: Đại lễ Thánh Phanxicô, ngày bế mạc Năm Thánh.
Văn thư này chỉ có hiệu lực cho lần cử hành Năm Thánh này mà thôi. Bất chấp bất cứ điều ǵ trái ngược.
Ban hành tại Bổn Ṭa
Ṭa Ân Giải Tối Cao, Rôma, ngày 30 tháng 5 năm 2008 sau Chúa Nhập Thể.
Giacôbê Phanxicô STAFFORD Hồng Y của Hội Thánh Công Giáo,
Chánh Ṭa Ân Giải Tối Cao (đă kư)
Gioan Phanxicô Girotti, O.F.M. Conv.
Giám Mục hiệu ṭa Metensis,
Chánh Văn pḥng (đă kư)
Xin Lưu Ư: Linh mục tu sĩ bề trên tỉnh ḍng OFM Việt Nam là cha Phanxicô Saviê Vũ Phan Long, OFM cho biết những người giáo dân tuy không phải là thành viên của gia đ́nh Phan Sinh nhưng nếu có ư lănh nhận ơn Toàn Xá và thực hiện các yêu cầu nói trên th́ họ vẫn được lănh nhận như những thành viên trong ḍng.
Hội
Đồng Phục Vụ Quốc Gia Hoa Kỳ
* Bầu Chọn Tân Ban Phục Vụ: Các trưởng phục vụ cấp Miền sẽ có tu nghị bầu cử hội đồng phục vụ cấp quốc gia vào ngày 24/10/2009 tại Albuquerque, tiểu bang New Mexico. Lịch sinh hoạt như sau:
- Tháng Tư: Thông báo kế hoạch bầu cử, mời gọi đề cử ứng viên
- Tháng Sáu: Khóa sổ đề cử ứng viên
- Tháng Bảy: Ban vận động bầu cử xin ư kiến các a/c được đề cử để lập danh sách ứng viên
- 15/08: Hạn chót để ban bầu cử nhận lại giấy chấp nhận tranh cử
- 22/08: Bắt đầu 9 tuần cầu nguyện đặc biệt cho ngày bầu cử
- 29/08: Hoàn tất danh sách ứng viên
Hội
Đồng Trợ Úy Quốc Gia Hoa Kỳ
* Tu Nghị Của Hội Đồng Trợ Úy: Hội đồng trợ úy ḍng PSTT cấp quốc gia sẽ tổ chức tuần lễ họp bàn về vấn đề trợ úy ủy quyền cho các Giáo Dân Trợ Úy cấp miền và cấp quốc gia sẽ diễn ra vào mùa Thu 2010 qui tụ các tu sĩ trợ úy của 3 nhánh ḍng nhất: Anh Em Hèn Mọn (OFM), Nhánh Viện Tu (OFM Conv.), Nhánh Lúp Dài (OFM. Cap.), Ḍng Ba Tại Viện (TOR), và các Giáo Dân Trợ Úy Ḍng PSTT, đây là dấu hiệu cho thấy “các anh” thuộc ḍng I rất quan tâm đến ḍng PSTT của chúng ta. (Tin do tu sĩ Bob Brady, OFM, Chủ tịch luân phiên của hội đồng trợ úy ḍng PSTT cấp quốc gia chuyển đến)
Hội
Đồng Phục Vụ Miền
* Lịch Tŕnh Huấn Luyện Khởi Huấn Đợt II:
3-. San Bernardino-Riverside Area ngày 30/05/2009 tại Our Lady of the Assumption Church; 435 Berkeley Ave. Claremont, CA 91711
4-. Los Angeles ngày 25/0 7/2009 tại St. Francis of Assisi Church (địa chỉ sẽ thông báo sau)
5-. Tri-Counties ngày 05/09/2009 tại Santa Barbara Mission (địa chỉ sẽ thông báo sau)
* Đại Hội Miền 17/10/2009: Kỷ niệm 800 năm h́nh thành Gia Đ́nh Phan Sinh tại St. Margaret Mary Parish, 12686 Central Ave. Chino, CA 91710, ĐT (909) 627-8466
Hội
Đồng Trợ Úy Miền
* Khóa Trợ Úy và Huấn Luyện: Có 2 ngày “gặp gỡ” để định hướng vào thứ Bảy 18/7 và 15/8, xin quí học viên xin thu xếp thời giờ đến dự một trong hai ngày nói trên tại 13935 Telegraph Road, Whittier, CA 90604 từ 9 giờ sáng đến 4 giờ chiều.
* Nghi thức “Sai Đi”: Quí anh chị đang học khóa Giáo Dân Trợ Úy và Đặc Trách Huấn Luyện sẽ diễn ra trong ngày đại hội Miền 17/10/09 tại St. Margaret Mary Parish, 12686 Central Ave. Chino, CA 91710.
Huynh
đệ đoàn Antôn, San Diego
- Dự kiến huynh đệ đoàn Antôn sẽ có 2 anh chị đi học khóa Giáo Dân Trợ Úy và Phụ Trách Huấn Luyện, xin chúc mừng.
- Huynh đệ đoàn sẽ kỷ niệm 30 năm thành lập huynh đệ đoàn, ban phục vụ dự kiến sẽ có thánh lễ tạ ơn trong ngày kỷ niệm 30 năm thành lập đoàn vào tháng 10.
Huynh
đệ đoàn Agnes, Westminster
- Anh Bob Murray, đại diện khu vực quận Cam sẽ đến thăm viếng hội đồng phục vào ngày 28/6/09 để chuẩn bị cho kỳ thăm viếng chính thức vào tháng 9/09.
- Ngày 6 tháng 9, 2009 đại diện hội đồng phục vụ và hội đồng trợ úy sẽ thăm viếng hđđ Agnes để chuyển Nhóm Tân Lập Agnes thành Huynh Đệ Đoàn chuyển tiếp.
- Dự kiến Huynh đệ đoàn Agnes sẽ có 2 chị đi học khóa Giáo Dân Trợ Úy và Phụ Trách Huấn Luyện, xin chúc mừng.
Huynh
đệ đoàn Clara, Santa Ana
- Ngày Chúa Nhật 7/6/09, huynh đệ đoàn sẽ có cuộc bầu cử Hội Đồng Phục Vụ cho nhiệm kỳ mới. Xin quí anh chị được anh chị em tín nhiệm đề cử hăy can đảm và quảng đại đáp trả lời mời gọi để dấn thân phục vụ Chúa qua anh em của ḿnh. Xin cùng cầu nguyện cho cuộc bầu cử luôn thuận theo ư Chúa.
Tâm T́nh Của Ban Biên Tập
- BBT hiện đang gặp trở ngại về cộng tác viên, xin những anh chị nào có thể cộng tác với BBT, xin vui ḷng hy sinh chút th́ giờ quí báu cộng tác với chúng tôi để duy tŕ tờ Bản Tin được tiếp tục đến tay các anh chị phan sinh tại thế và thân hữu. Mong lắm thay!
Mừng Tân Linh Mục
- Được cha Trân Nguyễn, OFM báo tin phó tế Tađêô Nguyễn Anh Tuấn sẽ chịu chức linh mục vào lúc 10:30 sáng thứ Bảy ngày 11/07/09 tại Most Holy Trinity Church, 2040 Naussau Dr. San Jose, CA 95122 do ĐGM Mai Thanh Lương tấn phong. Thánh Lễ tạ ơn vào lúc 3:45 chiều Chúa Nhật 12/07/09 tại cùng địa điểm. Tân linh mục chính là em trai của cha Trân và cha Khoa ḍng Anh Em Hen Mọn. Xin chúc mừng và cùng cảm tạ Thiên Chúa Từ Nhân.
Chủ
Đề Của Tháng 07-2009
Tháng Ba, xin quí anh chị viết về “Đức Vâng Lời Cao Cả” (Đ. 10 Luật DPSTT).Nếu có thể, xin vui ḷng gởi bài trước ngày 20 mỗi tháng. V́ những mục định kỳ không thể cắt xén, và số trang bị giới hạn, do đó mục Những Bài Đọc Thêm xin quí anh chị vui ḷng thu ngắn bài viết cho tiện việc in ấn. Hơn nữa, những bài viết đă gởi và đăng nơi những Bản Tin hay Báo Chí khác, xin đừng gởi cho psttvnusa.net v́ đây là sự tế nhị. Nhất là khi phải sửa đổi đôi chút v́ lư do kỹ thuật hay ư tưởng cho phù hợp với Bản Tin của psttvnusa.net. Kính mong quí vị thông cảm.
Trở về mục lục >>
|