|
Trong Số Này:
|
|
|
Kính Chúa, Yêu Người
Thưa quí anh chị,
"Kính Mến Thiên Chúa, và Yêu Thương Tha Nhân" là hai giới răn trọng nhất của người Kitô hữu. (Mt 22:37-39). Nhưng tại sao kính Chúa thì phải yêu người? Kính Chúa thì phải yêu người vì yêu người là cách biểu lộ tình yêu đối với Thiên Chúa. Một tình yêu mà không có những hành động biểu lộ ra ngoài thì đó là một tình yêu chưa trọn vẹn, ý nghĩa, và sống động.
Thiên Chúa là tình yêu, vương quốc của Ngài là Vương Quốc Yêu Thương. Ngài tạo dựng và cai quản vũ trụ bằng tình yêu. Ngài mạc khải tình yêu thiên thượng của Ngài cho nhân loại qua Người Con Một dấu ái là Đức Giêsu chí thánh. Và Đấng chí thánh ấy đã biểu lộ tình yêu cách tuyệt hảo bằng lời nói, việc làm và bằng chính mạng sống mình trên Thánh Giá.
Sứ mạng của Đức Giêsu chí thánh là đem tình yêu thương của Đức Chúa Cha tặng ban cho nhân loại. Bởi thế, tình yêu ấy không có giới hạn, không có ranh giới nhưng tràn lan đến mọi tâm hồn, đến những người tội lỗi, người lầm lạc, người kiếm tìm, kẻ tật nguyền, đau yếu, Người cứu chữa. Người đồng bàn với người bị xã hội khinh chê. Người chọn môn đệ toàn là những người nghèo nàn, dốt nát… Tình yêu của Người đẹp ngời, chan hoà trong vũ trụ, lan toả mạnh mẽ đến những tâm hồn bị xiềng xích của bóng tối tội lỗi. Cho ma quỷ phải kinh khiếp, trốn chạy, trả lại sự bình an xác hồn cho con người. Và những người đã chết cũng được Người cho sống lại
Khi mặc lấy thân phận ‘làm người’, Người đã nếm trải biết bao nhọc nhằn, vui buồn, sướng khổ, nhục vinh. Người hiểu rõ lòng dạ bạc bẽo của con người. Người thấy hết những ác tâm, phản phúc, vong ân của con người sẽ trút lên cuộc đời của Người. Người biết mình sẽ phải gánh hết tội lỗi của con người. Và rồi sẽ chết trong cô đơn, nhục nhã, đau thương… sẽ phải đổ Máu mình ra để rửa sạch hết mọi vết nhơ ấy. Thế nhưng, Người vẫn yêu thương và yêu thương con người cho đến cùng.
Trước giờ chia tay với các môn đệ. Lời cuối cùng nơi bàn Tiệc Ly cũng là lời yêu thương tha thiết, sâu thẳm ân tình trong Thánh Tâm của Người: "Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. (Ga 13:34). Và trên thập giá, dù xác thân đau đớn đến tận cùng. Dù dưới chân Thầy là cả một rừng người bạo tàn, vong ân, phản phúc. Người vẫn thều thào van xin Đức Chúa Cha tha thứ tội lỗi cho con người…
Chúng ta là con cái của Chúa Cha, là môn đệ, là bạn hữu thân tình của Đức Giêsu chí thánh. Là những người luôn được Người ấp ủ, yêu thương. Gương yêu thương của Người luôn ở trước mắt chúng ta. Vậy, chúng ta đã yêu Người như thế nào? Có lẽ, muốn biết mình có yêu Chúa hay không. Xin hãy nhìn lại cách đối xử của mình với anh em. Vì "yêu người là trắc nghiệm chắc chắn nhất về lòng mến Chúa". (Đường Hy Vọng số 765).
Người Kitô hữu có nhiều cách để biểu lộ tình yêu. Vâng lời Đức Kitô dạy, nhìn gương của Người để tập sống, học cách yêu của Người để biết yêu nhiều hơn… Can đảm tiến lên con đường dấn thân mà Người đã gợi mở, để cúi mình phục vụ anh em. Là tâm luôn rộng mở để lắng nghe những tiếng than của đời nhau. Trí luôn nghĩ tốt cho nhau. Nhìn thấy những nhu cầu cần thiết của nhau là chia cho nhau chén cơm, ly nước khi có ai đói khát; là tặng nhau những chân tình thẳm sâu giữa người và người. Cố gắng mĩm cười với người mình không thích, bắt tay với người không yêu. Đừng xét nét khi anh em mình lầm lỡ, đừng luận tội đánh giá anh em theo cái nhìn chủ quan của mình. Nâng dậy những ai vấp ngã. Tha thứ cho người nhục mạ mình. Đừng đợi dư mới cho, thừa mới bố thí. Vì như thế là xúc phạm chứ không gọi là yêu thương. Luôn thắp sáng tâm hồn bằng ngọn đèn Lời Chúa. Để tình yêu thương cháy mãi trong tâm hồn và sáng mãi giữa lòng đời.
Hôm nay, chung sống nơi trần gian, chúng ta không muốn nhìn nhau thì ngày mai, khi đứng trước Thánh Nhan Cha, chúng ta sẽ trả lời với Cha như thế nào? Hôm nay, mãi hận thù nhau thì ngày mai làm sao chúng ta được vào Vương Quốc Yêu Thương? Hôm nay sống không mở của trái tim, không rộng mở tâm hồn thì làm sao ngày mai chúng ta được hưởng phúc Thánh Nhan Người! Hãy nhớ lại dụ ngôn của Lagiarô để thấy hình phạt Chúa dành cho nhưng người không biết xót thương.
BBT
|

Trở về mục lục >>
|
|
|
|
Các Môn Đệ Chân Chính
(Mátthêu 7,21-27; CN IX TN-A)
21 "Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: "Lạy Chúa! lạy Chúa!" là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi. 22Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: "Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao?" 23Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác! 24"Vậy ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành, thì ví được như người khôn xây nhà trên đá. 25Dù mưa sa, nước cuốn, hay bão táp ập vào, nhà ấy cũng không sụp đổ, vì đã xây trên nền đá. 26Còn ai nghe những lời Thầy nói đây, mà chẳng đem ra thực hành, thì ví được như người ngu dại xây nhà trên cát. 27Gặp mưa sa, nước cuốn hay bão táp ập vào, nhà ấy sẽ sụp đổ, sụp đổ tan tành".
1.- Ngữ cảnh
Bản văn này được liên kết với dụ ngôn Cây Tốt cây Xấu được dùng làm hình ảnh tượng trưng người môn đệ chân chính và người môn đệ giả hiệu của Đức Kitô (c.17). Tuy nhiên, trong tổng thể, bản văn được đặt trong phần III của Bài Giảng trên núi có nhan đề là "Những khuyến khích cuối cùng: Các lời này phải được thực hành" (7,13-27), với các phân đoạn sau:
1.- Hai con đường (7,13-14),
2.- Hai loại ngôn sứ và trái cây (7,15-20),
3.- Hai loại môn đệ (7,21-23),
4.- Hai kiểu nhà (7,24-27).
2.- Bố cục
Bản văn có thể chia thành hai phần:
1) Hai loại môn đệ (7,21-23);
2) Hai kiểu nhà (7,24-27).
3.- Vài điểm chú giải
- Lạy Chúa, lạy Chúa (21): Lần đầu tiên, Mt cho thấy là người ta gọi Đức Giêsu là "Chúa". Dọc theo TM Mt , chỉ các môn đệ, tức các tín hữu, hay những người sắp trở thành môn đệ, mới gọi Người như thế (8,2.6.8.21 [// 8,19].25; 9,28; 13,27; 14,28.30; 15,22.25.27; 16,22; 17,4.15; 18,21; 20,30.31.33; 25,11.20.22.24.37.44; 26,22 [// 26,15]). Vậy ở đây hẳn các môn đệ đang liên tục gọi danh Chúa, để khiến Người quan tâm đến họ.
- Trong ngày ấy (22): gợi ý tới "ngày của Đức Chúa”, ngày phán xét chung (10,15; 12,36; 24,19; 25,31-46): Ed 7,7-27; Am 5,18-20; Xp 1,7.14-15; Ge 2,1.11-17…
- điều gian ác (23): Anomia do tính từ anomos , có nghĩa là "người không có luật; kẻ nổi loạn". Ở Mt 13,41-42, họ được xếp chung với những kẻ gây ra cố vấp phạm, nên sẽ bị quăng vào lửa.
4.- Ý nghĩa của bản văn
* Hai loại môn đệ
Đọc trọn đoạn 7,15-23, ta thấy nói đến các "ngôn sứ giả". Đây là các Kitô hữu, mặc dù công bố niềm tin của họ vào Chúa (x. c. 21) và làm được những hành vi ngoạn mục, như nói tiên tri, trừ quỷ và các phép lạ (c. 22), họ không thi hành ý muốn của Chúa Cha (c. 21), do họ không sống phù hợp với các đòi hỏi Đức Giêsu đã nêu ra trong Bài Giảng trên núi, họ không thi hành những điều họ nói. Họ tự lừa dối chính mình mà cho rằng mình là một môn đệ chân chính của Đức Kitô, trong thực tế họ tạo ra một hoàn cảnh gian ác (anomia, "không luật", c. 23; x. 24,11-12; 13,41).
Ý muốn (thelêma) của Thiên Chúa chính là kế hoạch cứu độ của Ngài, được trải rộng ra đến các hành vi thuộc cuộc sống thường nhật. Cách thức để nhận biết điều Thiên Chúa muốn là quan sát những gì Ngài đang hoàn tất. Theo Kinh Thánh, các công trình ưu việt của Thiên Chúa là công cuộc tạo dựng và công cuộc cứu độ. Do đó, thi hành ý muốn của Ngài là chuyên cần và quảng đại cộng tác vào một trong hai công trình đó. Các Tin Mừng không nói nhiều về công trình tạo dựng cho bằng nói đến các can thiệp của Thiên Chúa vào trong lịch sử nhân loại hầu ban ơn cứu độ và mời gọi các tín hữu cũng làm như thế. Nói cho cùng, thi hành ý muốn của Thiên Chúa là làm cho ơn cứu độ nên hiện thực nơi chính mình và nới anh chị em đồng loại. Các lời ca ngợi tung hô Chúa (c. 21) không thay đổi chút gì nơi các sự việc. Chúng không có giá trị, chúng không thể bảo đảm cho ta được vào Nước Trời, không đưa được con người về phía Thiên Chúa để nhận được ơn cứu độ. Điều Đức Giêsu đòi hỏi là một lòng đạo đức hiện thực, có việc làm, có dấn thân.
Chúng ta cần nhớ lại lời Đức Giêsu nói về các ngôn sứ giả "đội lốt chiên" ở trên (c. 15). Ẩn dụ "con chiên" có nghĩa là các thành viên của Dân Thiên Chúa trong Cựu Ước. Các ngôn sứ giả tỏ ra như là thành viên của Dân Kitô giáo. Bởi vì con chiên hiền lành không có phương thế tự vệ là hình ảnh cổ điển đối lập với con sói tham tàn (x. Is 11,6; 65,25; Hc 13,17). Bộ áo giả chiên của họ muốn nói là họ tỏ ra hòa bình, trong thực tế, đây là những "sói dữ tham mồi", nghĩa là những Kitô hữu xấu đang đưa một mầm mống sự chết vào trong cộng đoàn.
Tiêu chuẩn giúp khám phá ra ngôn sứ giả là tiêu chuẩn "quả" (x. cc. 16-20. Từ ngữ "quả" được nhắc đến 7 lần trong các câu này). Trong Cựu Ước, "quả" là hình ảnh thông dụng để chỉ các hành vi của con người. "Sinh quả tốt", đó là "thi hành ý muốn của Cha Thầy" (c. 21); "sinh quả xấu", đó là "làm điều gian ác” (c. 23), sống không luật, mà môi miệng vẫn cứ tuyên xưng niềm tin vào Chúa, thậm chí còn nhân danh Người mà làm những việc kỳ diệu. Câu "Ta không hề biết các ngươi" (c. 23) vang lên thật cay đắng cho những ai đã lặp đi lặp lại tên Giêsu biết bao nhiêu lần trong đời họ và trong hoạt động của họ. Đây là một lời long trọng từ khước, phủ nhận sự hiệp thông (x. 10,33; 25,12). Lý do duy nhất là họ đã không chu toàn ý muốn của Thiên Chúa. Tác giả gọi họ là "bọn làm điều gian ác”. Thật ra họ không phải là những tay đại gian ác, nhưng chỉ vì h? ngăn cản việc thực hiện và mở rộng Nước Thiên Chúa (x. 16,23), họ đã đáng bị gọi bằng một cái tên nặng nề như thế.
* Hai kiểu nhà
Dụ ngôn này không có lời giải thích, nhưng cũng là một lời nhắc nhớ đến các bổn phận của đời sống Kitô hữu. Đức Giêsu tấn công lối sống buông thả và vô vi. Phải vâng phục cụ thể ý muốn của Thiên Chúa chứ không buông mình theo những ảo tưởng hoặc những cơn hứng khởi kiểu đặc sủng (x. cc. 21-23). Bài học của phần trước được nhắc lại qua dụ ngôn hai người xây nhà, người khôn và người ngu. Người khôn cất nhà trên nền móng vững chắc, người ngu xây nhà trên một cái nền không vững. Đối với Đức Giêsu, nền móng chắc chắn của ngôi nhà, tức của đời sống Kitô hữu, là thực hành các giáo huấn của Người. Người đã kêu gọi "làm" (poiein ) ý muốn của Chúa Cha, nay Người yêu cầu "làm" (poiein ) "các lời của Người". Lời của Đức Giêsu mà người ta nghe được trong Bài Giảng trên núi phải được lắng nghe trong niềm vui, nhưng hơn nữa, phải được diễn tả ra qua đời sống thực tiễn. Lắng nghe là điều kiện tiên quyết, nhưng điều đáng kể hơn, là thực hiện điều đã nghe được. Chỉ khi nghiêm túc sống như thế, đời sống Kitô hữu mới dựa trên một nền móng vững chắc và không sợ bị lật đổ khi gặp các thử thách hay nghịch cảnh đầu tiên.
Truyền thống kinh sư sử dụng những dụ ngôn tương tự để mô tả hai thái độ đối nghịch khi ở trước công việc nghiên cứu Torah: một thái độ đưa tới việc thực hành và một thái độ chỉ nhắm kiến thức không có việc làm. Tuy nhiên, có hai khác biệt: các dụ ngôn kinh sư nói đến tương quan học-làm , còn dụ ngôn của Đức Giêsu nói đến tương quan nghe-làm ; nhất là Đức Giêsu không còn nói đến việc thực thi Torah nữa, mà là thực thi "các lời của Thầy " mà Người vừa nói ra. Đức Giêsu gán cho các lời của Người một uy tín mà Do-thái giáo gán cho Torah.
+ Kết luận
Bài diễn từ mang giọng mục vụ, chứ không phải là lịch sử hay thần học, nhằm đưa tới sự hoán cải. Dáng vẻ bề ngoài không phải là thực tại. Chúng ta cũng nhớ tới cây vả sum xuê lá cành mà không có trái (x. Mt 21,19). Đấy là một tình trạng mâu thuẫn của người khẩn cầu, chúc tụng tên Chúa cách long trọng mà không dấn thân thi hành ý muốn của Ngài. Nói rằng tiêu chuẩn quyết liệt là Kitô hữu phải xử sự phù hợp với các đòi hỏi của Bài Giảng trên núi, điều đó có nghĩa là phải ưu tiên diễn tả tình yêu ra bằng hành động. Như thế, giáo huấn của TM Mt hài hòa với giáo huấn của thánh Phaolô (x. 1 Cr 13) và của truyền thống Gioan (x. 1 Ga 4,7-8). Kết luận của bài giảng ở đây thật cứng rắn và không khoan nhượng. Khi thấy như thế, người Kitô hữu phải lô-gích với chính mình: đã chọn lựa, và biết là chọn đúng, thì ra sức sống các chọn lựa đã lấy.
5.- Gợi ý suy niệm
1. Không phải chỉ cứ nói những lời tốt lành, có đức tin đúng đắn, có những khát vọng ngay lành là đủ. Không phải chỉ cần bước đi trên nẻo đường thênh thang với tư tưởng hướng về Nước Trời và thỉnh thoảng kêu tên Chúa, là đã đủ để được cứu độ (x. 6,9; 10,15). Còn phải chu toàn ý muốn của Thiên Chúa. Những người bị loại trừ rất có thể đã là những người nói giỏi, những chuyên viên Phụng vụ sắc bén, nhưng họ đã không cố gắng hoàn tất những gì họ cử hành, có khi lại còn làm ngược lại, làm điều dữ.
2. Tác giả Mt đã nhìn lại nội bộ cộng đoàn và nhận ra có những thành viên bất xứng với danh hiệu của họ. Ngài gọi họ là bọn xét đoán sai, càm ràm (7,1), đạo đức giả (c.5), ngôn sứ giả (c.15), cây không quả (c. 20). Cuối cùng, ngài tổng hợp tất cả lối sống gây khó chịu, vấp phạm, là xấu xa, thậm chí là thuộc về Satan. Trước sau rồi họ cũng bị lật mặt nạ và kết án. Do đó, tốt nhất họ nên xét đoán chính mình trước đi và kịp thời rút khỏi con đường xấu xa, con đường rộng rãi, thênh thang, nhưng đưa tới diệt vong (c.13) để đi theo con đường chật hẹp đưa tới sự sống (c.14).
3. Hội Thánh không phải là một tập thể hoàn hảo. Trong Hội Thánh, có những thợ xây khôn ngoan, và cũng có những thợ xây thiếu khôn ngoan. Những người thiếu khôn ngoan là những người nghe lời loan báo mà không quyết tâm đưa ra thi hành nghiêm túc. Đây chỉ là sự gắn bó hời hợt, không bám rễ trong tim và trong trí thông minh, nên sẽ bị hủy diệt ngay khi tiếp xúc với những sức mạnh đối nghịch.
Lm. F.X. Vũ Phan Long, ofm
|
|

Trở về mục lục >>
|
|
|
|
Linh Đạo Phan Sinh
Tài Liệu Tham Khảo Dành Cho Người Có Trách Vụ
(Trích "Tài liệu tham khảo dành cho các thành viên Hội Đồng” do Ban Thường Vụ Miền Phan Thiết phát hành năm 2006, có sửa đổi vài chi tiết).
Dẫn Nhập:
Thưa quí anh chị; Tổng Hiến Chương dòng Phan Sinh Tại Thế điều 33.1 viết: "Để điều hành và phối hợp huynh đệ đoàn cũng như Dòng, cần thăng tiến con người và khả năng mỗi anh chị em và mỗi huynh đệ đoàn".
Thăng tiến con người: Là thăng tiến người Phan Sinh Tại Thế; và "con người" ở đây là người vừa có những đức tính giống hình ảnh Thiên Chúa vừa có những yếu kém của con người.
Do đó, hãy nhận biết những yếu kém của mình, để củng cố những phần xung yếu, vun đắp cho con người ngày một phát triển hơn.
Và hãy tô vẽ thêm, hãy "sửa sắc đẹp” để ngày càng trở nên giống hình ảnh Thiên Chúa hơn.
Thăng tiến khả năng: Là trang bị cho mình một số kỹ thuật, dẫu là kỹ thuật "rửa chân", để biết làm việc, biết linh hoạt Huynh đệ đoàn.
Xin cùng tìm hiểu cả 2 phần của tập tài liệu này, và cố gắng từng bước đi vào thực hành.
Kính chúc quí anh chị luôn có niềm vui khi phục vụ.
PHẦN I: TRÁCH NHIỆM
Bài I: TRÁCH NHIỆM CỦA NHỮNG NGƯỜI PHỤC VỤ (Người có trách vụ)
Thưa quí anh chị, bất cứ một tổ chức nào muốn sống lâu và sống khoẻ, thì trách nhiệm hàng đầu luôn đặt lên vai những người có trách vụ. Luật Dòng và Tổng Hiến Chương qui định rất nhiều điều. Xin nhắc lại vài điều như sau:
(Trong tài liệu này, chúng tôi dùng cụm từ "những người phục vụ", có ý nói chung đến tất cả các anh chị đang là thành viên của hội đồng phục vụ, chứ không nói riêng về người Trưởng Phục Vụ).
* VỀ TINH THẦN
HC 31.2:
- Một sự phục vụ huynh đệ
- Quyết tâm cảm nhận mình luôn sẵn sàng và có trách nhiệm đối với anh chị em và huynh đệ đoàn.
HC 31.3:
- Có cái nhìn bao quát, quảng đại, và cởi mở cho việc đối thoại
-Sẵn sàng cho và nhận sự giúp đỡ và cộng tác lẫn nhau.
HC 32.2:
- Loại bỏ mọi tham vọng
- Biểu lộ lòng yêu mến đối với huynh đệ đoàn qua tinh thần phục vụ và sẵn sàng nhận hoặc rời chức vụ.
* VỀ TRÁCH NHIỆM
HC 30.1:
- Đồng trách nhiệm (có bài học riêng)
HC 30.2:
- Đích thân hiện diện
HC 31.4:
- Lo chuẩn bị và linh hoạt các buổi họp huynh đệ đoàn về mặt thiêng liêng và kỹ thuật
- Gieo vào huynh đệ đoàn tinh thần và sức sống bằng cách:
¶
Đề xuất những phương thế thích hợp để phát triển đời sống huynh đệ đoàn và các hoạt động tông đồ;
¶
Tạo điều kiện thuận lợi cho anh chị em cộng tác với nhau,
¶
Lo sao cho các quyết định của Hội Đồng được thực hiện.
HC 50.1:
- Cổ võ những sáng kiến cần thiết để làm phong phú hóa đời sống Huynh đệ, làm tăng trưởng và huấn luyện nhân bản, Kitô giáo và Phan Sinh.
- Chọn lựa cách cụ thể và dũng cảm những hoạt động tông đồ khả thi phù hợp với hoàn cảnh huynh đệ đoàn.
- Tạo đối thoại huynh đệ với những thành viên đang gặp khó khăn và chọn những biện pháp thích hợp.
Chúng ta sẽ đi sâu vào chi tiết trong các bài sau.
Phêrô Nguyễn Đức Tiến; sfo
|
|

Trở về mục lục >>
 |
|
Bài 54: Thập Giới: Giới Răn VII Và VIII
(Xh 20, 15-16)
Giới răn VII được phát biểu một cách tổng quát trong sách Xuất Hành là: "Ngươi không được trộm cắp”. Giới răn này cũng liên hệ đến sự sống, vì những gì người ta sở hữu đều cần thiết cho việc duy trì và bảo vệ sự sống.
Trường hợp nghiêm trọng nhất của tội trộm cắp là việc bắt cóc người: "Ai bắt cóc người, dù đã bán đi hay còn giữ trong tay, thì phải bị giết chết" (Xh 21,16; Đnl 24,7). Các ngôn sứ còn nêu ra những trường hợp chi tiết liên hệ đến giới răn này là sự thật thà trong việc buôn bán (Am 9,5-6; Hs 12,8; Đnl 25,13-16…), sự công bằng trong việc trả thù lao cho nhân công (Đnl 24,15; Lv 19,13), việc cho vay lấy lãi quá đáng (Xh 22,24-25; Đnl 23, 2021).
Giới răn VIII: "Ngươi không được làm chứng gian hại người" (Xh 21,16). Giới răn này chủ yếu liên hệ đến việc làm chứng trước toà án. Lịch sử đã cho thấy những trường hợp bi đát một người công chính phải đối diện với nhiều chứng nhân gian dối như trường hợp của ông Na-vốt (1 V 21,8-10), trường hợp của Đức Giê-su (Mt 26,59-62), trường hợp ông Tê-pha-nô (Cv 6,11-13).Vì thế các hiền nhân nhắc nhở nhiều lần cái nguy hiểm thường xuyên của tội này (Cn 6,19; 12,17; 14,5…).
Tội làm chứng gian là trường hợp nghiêm trọng nhất của việc nói dối, nên bản luật nêu ra rõ ràng. Nhưng có thể nói giới răn IX cấm việc nói dối dưới mọi hình thức, nhất là khi việc nói dối ấy làm hại đến kẻ khác (Xh 23, 1-3; Lv 19,11-12). Nói dối với mục đích lừa đảo và trục lợi từ kẻ khác là một một sự bất trung đối với Gia-vê (Lv 5, 20-22). (còn tiếp)
Lm. Norbert Nguyễn Văn Khanh, ofm
|
|
|

Trở về mục lục >>
|
 |
|
Lạy Thầy!
Lạy Thầy Giêsu chí ái, chí nhân của đời con. Ngày xưa, khi sống với chúng con, Thầy không bao giờ xét đoán hay kết tội ai. Thầy không phân biệt ai là người tốt, kẻ xấu. Thầy không bao giờ nhìn thấy những lỗi lầm của chúng con. Ai cũng được Thầy tôn trọng và yêu thương.
Chúng con là phàm nhân, chúng con vẫn còn ngập chìm trong tội lỗi, nhưng chúng con cứ mãi nhìn thấy những lỗi lầm của nhau, chỉ nhìn mọi chuyện theo cái nhìn chủ quan của riêng mình để rồi chỉ trích, xét đoán, kết tội, chia rẽ, xa lánh nhau…
Thầy ơi, gương yêu thương của Thầy còn đó! Lời chỉ dạy của Thầy vẫn còn đó! Con chắp tay lạy Thầy, xin thương tha những thiếu xót của chúng con. Khẩn xin Thầy ban Thần Linh Yêu Thương của Thầy cho chúng con. Người sẽ dạy chúng con biết sống theo lời Thầy, thực hành theo gương của Thầy. Để yêu thương trong mỗi người chúng con được lớn lên, cho hạnh phúc lan toả, cho danh Cha cả sáng. Amen.
Maria
|
|

Trở về mục lục >>
|
 |
|
|
|
Giáo Huấn 9: Gia Đình Là Trường Học Đầu Tiên
Tục ngữ Việt Nam ta thường nói: "sinh con không dạy không răn, thà sinh con lợn cho ăn lấy lòng". Sinh và dạy con là hai nhiệm vụ đi đôi với nhau, hai nhiệm vụ này cần được thực hiện ngay trong gia đình. Thánh Công Đồng Vaticanô II gọi gia đình là trường học đầu tiên của con người. Sắc lệnh Giáo dục đã viết: "Vì là người truyền sự sống cho con cái, nên cha mẹ có bổn phận hết sức quan trọng là giáo dục chúng, và vì thế họ là những nhà giáo dục đầu tiên và chính yếu của chúng. Vai trò giáo dục này quan trọng đến nỗi, nếu thiếu sót, thì khó lòng bổ khuyết được... do đó, gia đình là trường học đầu tiên dạy các đức tính xã hội" (GD 3) (Tông huấn Kitô hữu Giáo Dân của ĐTC GP II -BTV).
Là trường học đầu tiên của giới trẻ gia đình có bổn phận đào tạo nhân cách của đứa bé. Người ta thường so sánh đứa trẻ với tờ giấy trắng hay với tấm sáp mềm... những gì được in trên đó, sẽ tồn tại lâu bền trong đời sống của đứa bé. Khả năng thu nhận to lớn này khiến những ai có trách nhiệm phải thận trọng và khôn ngoan.
Hãy tách khỏi giới trẻ những gì có thể tác hại đến thân xác hay tâm hồn của chúng, đặc biệt là những gương xấu và dịp tội. Trong Phúa Âm, Chúa Giêsu đã nặng lời lên án những kẻ làm gương xấu cho con trẻ (x. Mt 18,6). Hãy cất khỏi gia đình anh chị em những gì có thể gây dịp tội, cờ bạc, rượu chè quá độ hay hút sách, dâm ô. Hãy huỷ bỏ những hình ảnh xấu, những sách vở báo chí không lành mạnh. Thà mất tất cả hơn mất sự trong sạch của tâm hồn con cái.
Ngoài ra, theo giáo lý của Công Đồng, hãy tạo cho con cái một bầu khí thấm nhuần tình yêu cũng như lòng thành kính đối với Thiên Chúa và tha nhân (x. GD 3). Hãy giúp chúng những điều kiện cần thiết để sống tốt và hành động tốt, như sách vở để học, gương tốt để theo, nhất là Thánh Kinh, sách Giáo lý, Phúa Âm, sách nguyện, ảnh tượng Chúa và chuổi lần hạt...
Gia đình là nền tảng đầu tiên của giới trẻ.
ĐGM Nicolas Huỳnh Văn Nghi
|
|

Trở về mục lục >>
 |
|
|
CHUYỆN THÁNH ANTÔN
Chuyện Thánh Antôn Pa đua (tt)
PHẦN THỨ NHẤT: CUỘC ĐỜI LẠ LÙNG CỦA THÁNH ANTÔN
CHƯƠNG IX: HẠNH PHÚC VÀ VINH QUANG
1. Lễ Phong Thánh
Cha Antôn qua đời chưa được đầy năm thì Giáo Hội đã phong thánh cho Người. Xưa nay, chưa từng thấy đấng nào chóng được phong thánh đến như vậy. Là vì thiên hạ coi Người là thánh sống, qua các nhân đức và phép lạ của Người.
Vậy ngày lễ Chúa Thánh Thần (tháng 5) năm 1232, Đức Giáo Hoàng Grêgoriô X đã làm lễ phong thánh cho Người tại thành Spoleta, nước Ý, mới mười một tháng, sau ngày Người tạ thế. Đúng vào giờ đó, các chuông nhà thờ thành Lisbon thấy tự nhiên đổ vang lừng. Ai nấy đều đua nhau trẩy đến nhà thờ xem mà chẳng biết lý do gì. Đến sau này mới rõ là để mừng Thánh Antôn.
2. Đền thánh Antôn tại Padua
Dân thành Padua vốn kính mến và cậy trông Cha Antôn, vì thế cùng tôn Người là Thánh Bảo Trợ và quyết định xây dựng một đền thờ mới rất đẹp để tôn kính Người. Họ đi khắp nơi để tìm thầy tài, thợ giỏi, sắm đá quư, gỗ tốt, không tiếc công, tiếc của. Đức Giáo Hoàng thấy vậy cũng kêu gọi sự tiếp tay của thế giới Công giáo. Tính ra, một ngàn tay thợ giỏi, phải mất đến 32 năm mới hoàn thành. Công trình thật nguy nga tráng lệ, đáng xếp vào hàng những nhà thờ đẹp nhất, danh tiếng nhất thời bấy giờ.
Năm 1263, trong dịp lễ thánh nhân, người ta đưa hài cốt Thánh Antôn từ tu viện đến nhà thờ mới, dưới sự điều khiển của thánh Bonaventura, cũng thuộc dòng Phan sinh. Khi khai quật lên thì thấy da thịt đã tiêu tan hết, nhưng riêng lưỡi thì còn y nguyên. Thánh Bonaventura hôn kính "lưỡi đáng kính trọng” ấy, rồi thốt lên: "Bởi lưỡi thánh này đã ngợi khen Thiên Chúa và khuyên dụ nhiều người ngợi khen Thiên Chúa, nên Ngài đã gìn giữ lưỡi này còn nguyên vẹn cho đến bây giờ”. Rồi truyền đạt cất lưỡi ấy vào một bình bạc để tôn kính riêng.
Từ đó khách hành hương từ khắp nơi đến viếng nhà thờ và mộ thánh để cầu nguyện và xin ơn. Trên mộ Người có hàng trăm đèn thắp nến sáng đêm ngày. Và thánh nhân hằng ban ơn giáng phúc, chẳng những về thể xác mà nhất là về phần linh hồn. Chính thánh Bonaventura đã chứng kiến và ca ngợi rằng: "Ai muốn nhờ phép lạ thì phải chạy đến cùng Thánh Antôn. Người cứu chữa lúc gian nan, giúp đỡ khi túng cực. Hãy hỏi dân thành Padua, hãy hỏi các khách hành hương, họ sẽ nói lên sự thật ấy".
3. Đến thành Lisbon, nước Bồ Đào Nha.
Thành Lisbon là kinh thành nước Bồ đào Nha và là nơi sinh quán của thánh nhân. Do có lòng kính mến, nên người ta đã cất một nhà thờ to lớn, trên nền nhà, nơi Người đã sinh tại đó.
Năm đó có động đất dữ dội, nhà cửa thành Lisbon đổ xuống, gây thiệt mạng rất nhiều người, đồng thời hoả hoạn lan tràn, đốt cháy thiệt hại nhiều vô kể. Đền Thánh Antôn cũng đổ, cũng cháy nhưng có điều lạ là Tượng Thánh Nhân và bàn thờ vẫn còn y nguyên.
Lại khi động đất, có một thanh niên đến quỳ trước tòa ông thánh, bị bức tường đá đổ xuống đè lên người anh. Ai cũng tưởng là anh ta đã chết. Ai dè ngày sau, sau khi thu dọn gạch, đá vôi vữa, thì thấy anh ta ngồi dưới bức tường đổ bình an vô sự. Anh ta kể rằng: "Chính ông Thánh Antôn đã cứu chữa và đưa lương thực mỗi ngày cho tôi".
Chẳng riêng gì thủ đô mà cả nước Bồ Đào Nha đều nhiệt liệt sùng kính ông thánh đồng hương, nên hằng được Người ra tay cứu chữa.
4. Đền thánh Tua, nước Pháp
Dân thành Tua ngoan đạo, mạnh tin và vẫn có lòng sùng kính thánh Antôn, là bổn mạng của thành. Từ sau khi nhận được xương và sọ đầu của thánh nhân. Số là năm 1348, có Đức Hồng Y, Khâm Sai Toà Thánh, đi qua thành này thì ngã bệnh nguy cấp lắm. Sau khi cầu xin Thánh Bảo Trợ thành này thì được khỏi. Về sau, nhân dịp Ngài đến thành Pađua chứng kiến lễ cải táng Thánh Antôn, thì xin được xương đầu của Người mà gởi tặng cho thành Tua để đền ơn đáp nghĩa. Dân thành tiếp nhận được của quý trọng thì mừng hơn được vàng.
Từ đó, dân thành càng kính mến cậy trông thánh nhân hơn nữa. Việc lớn, việc nhỏ, phần xác, phần hồn họ đều chạy nhờ thánh nhân. Vì thế, Người thương yêu, săn sóc dân thành chẳng kém gì dân thành Pađua. Trời hạn hán, kêu cầu thì được mưa. Đồng lụt lội, kêu cầu thì được tạnh hanh. Làng bên gặp dịch tả chết rất nhiều, mà dân thành Tua cầu khấn Thánh Antôn thì bằng an vô sự. Biết bao kẻ bệnh hoạn được khỏi, người túng cực được giúp đỡ, kẻ mất của được tìm thấy.
Xem thế, đủ biết thiên hạ sùng kính Thánh Antôn và được Người giúp đỡ, thương yêu đến chừng nào. (còn tiếp)
THƯ CHO ÁO NÂU
Tâm Sự Của Cây
Áo Nâu, Anh thân yêu,
Đêm qua, một chiếc lá tâm sự với em thế này: Một ngày kia, gió buông xuống một cái hạt, hạt ấy nương náu trong một khe nhỏ giữa mỏm đá. Khi đêm về, nó mệt lả với những giọt sương rơi xuống làm thân mình nó ướt đẫm. Một ngày mới nữa lại tới, ông mặt trời lại chiếu những tia nắng lọt vào khe đá. Hạt đã nép mình tránh nóng. Và cứ thế, hết đêm, rồi lại sang ngày… đến một lúc nó tự tách ra; từ trong nhân nó thò ra một cọng rễ mảnh khảnh. Nếu ai đó vô tình dẫm chân lên là nó đứt ngay, nó sẽ chết mất. Nhưng may thay, việc ấy không xảy ra. Cọng rễ ấy từ từ mọc dài ra một đoạn bằng lóng tay, rồi bám vào đá, tận hưởng một tí bụi bặm đất cát bám trên đá, lấy đó làm lương thực. Rồi một mầm lá xếp mọc ra, nó lớn dần lên, lớn dần lên. Những chồi non, những chiếc lá, và từ một hạt nhỏ, đã trở thành một cây lớn. Nó biết ơn Gió, biết ơn Nắng, biết ơn Sương…
Ngày tiếp ngày, đêm nối đêm, những trận nắng chói chang cả mùa hè và cứng hơn cả đá. Những cơn gió quét lê lết mà chẳng muốn tặng nó một nụ cười. Trong gió có nước mắt, có tiếng nỉ non. Gió chuyển thông tin những linh hồn vừa mới ra đi… Gió báo tin anh Nước gần về. Nó mừng lắm, sắp được tận hưởng sự mát mẻ mà Anh Mưa sẽ đem lại.
Anh Mưa đã đến thật, hùng vĩ và hoành tráng biết bao. Anh Mưa và Anh Gió tấu khúc hoà ca, giúp nó biểu diễn điệu múa uyển chuyển và linh hoạt. Nó cười với gió, nó đá lông nheo với mưa.
Ô hay, có đám người đến gần nó, ngắm nghía, vuốt ve và hình như cần đến nó. Nó nói: "Anh cần em điều gì? Em sẵn sàng hiến thân cho anh". Và rồi nó được di chuyển về xã hội con người.
Giờ đây, trong bối cảnh của thiên nhiên vạn vât, nó tự hào vì từ một chút vật chất gần như hư không, nó lại là cây cột giữa gian nhà.
Anh thân yêu; chúng ta được Chúa tạo dựng từ hư không, rồi đặt chúng ta vào môi trường nuôi dưỡng để trở thành hữu ích cho xã hội, cho giáo hội. Nghiệm thân em, như một hạt được gió đem về, Chúa gởi em vào cung lòng mẹ, mẹ sinh ra em, nhưng em có biết gì đâu. Qua nuôi dưỡng, dạy bảo của cha mẹ, gia đình, của giáo xứ, của thầy cô, cuộc đời em ngày một thăng hoa. Rồi Anh mang em theo Anh, dạy dỗ em, giúp em trở thành một huynh đệ của anh, để em biết sống như Thầy chúng ta dạy trong Phúc Âm. Em nghiệm ra mình là hư không, không có quyền gì trên đời này, nếu không có Chúa ban cho. Em chỉ có cái quyền lớn nhất là được làm con của Chúa, và làm em của Anh. Đó là một đặc quyền mà không một ai có thể tước đoạt, phải không Anh?
Cũng vì cái quyền ấy, mà em phải có nghĩa vụ: Ấy là nghĩa vụ sống cho xứng dáng là một người em của Anh, sống xứng đáng là một người Phan Sinh Tại Thế biết làm những gì mà một người Phan Sinh Tại Thế đúng nghĩa cần phải làm cách không o ép, miễn cưỡng, không tự phụ, không giữ ý riêng, không đòi buộc người khác phải làm những điều như mình làm, không bắt người khác phải suy nghĩ như mình nghĩ, không thúc ép người khác phải sống như cách mình sống… nhưng phải hiểu rằng: Mỗi người đều có tự do riêng mà Chúa đã ban cho, thì họ có quyền sống như họ sống, nghĩ như họ nghĩ, làm như họ làm. Vấn đề là mình phải biết yêu thương, giúp đỡ họ để họ biết đi trên con đường mà nhân bản Kitô giáo đòi buộc; Thế thôi.
Em mong Anh tha thứ cho em mọi khiếm khuyết, giúp em nhận ra khiếm khuyết của mình, để em sẵn sàng tha thứ mọi khiếm khuyết lỗi lầm của anh chị em chung quanh em.
Agnès Kim Gương
TỔNG TU NGHỊ DÒNG
Mở Đầu
Một số gợi ý quan trọng
1. Nên họp với hội đồng phục vụ địa phương: Giúp họ chuẩn bị những bài học do miền gởi đến.
2. Giải thích chương trình huấn luyện: Chương trình do CIOPS đề ra, gồm 2 phần
- Phần 1: kéo dài 4 tháng, bắt đầu vào thánh 5-2008
- Phần 2: kéo dài khoảng 8-10 tháng tiếp sau đó.
3. Tóm tắt nội dung lá thư của Tổng Phục Vụ
- In và phát cho mỗi dòng viên.
- Những điểm chính trong lá thư.
a. Tu nghị bầu cử sẽ diễn ra vào tháng 11-2008
b. Những việc cần chuẩn bị trước đại hội:
¶
Cầu nguyện liên lĩ và sốt sắng.
¶
Chuẩn bị về tinh thần một cách nghiêm túc.
Cầu Nguyện:
- Phát cho dòng viên lời nguyện do CIOFS soạn
- Suy tư theo những tài liệu đã được chuẩn bị
Chuẩn bị tài liệu:
- Đòi hỏi sự chú tâm tối đa của hội viên
- Tìm kiếm và đón nhận Chúa Thánh Thần
- Xác định mục tiêu đề ra cho 6 năm tới.
Chuẩn bị tinh thần
- Qui hướng về hội đồng phục vụ quốc tế.
- Hội đồng phục vụ quốc tế nhận các kết quả đóng góp từ cấp quốc gia.
- Hội đồng phục vụ quốc gia nhận các kết quả đóng góp từ cấp miền.
- Hội đồng phục vụ miền nhận các kết qủa đóng góp từ các huynh đệ đoàn địa phương.
4. Các tài liệu cần chuẩn bị:
Bản văn chi tiết sẽ phát cho các dòng viên. (Bản văn tóm tắt dành cho người điều hợp.)
- Những thắc mắc chúng ta thường có.
- Nhận định về nhóm đã duy trì tình trạng tạm thời quá lâu, thay vì trở thành huynh đệ đoàn tự lập.
- Sứ mệnh đã được giao phó cho Thánh Phanxicô, nay được trao lại cho toàn thể gia đình Phan Sinh.
- Đã có 3 vị Giáo Hoàng đề cập đến các họat động gần đây của Dòng Phan Sinh. -Trích dẫn.
- Dòng Phan Sinh Tại Thế phải hợp nhất với nhau.
- Phải ý thức rằng Dòng chúng ta là một Dòng Quốc Tế.
- Phải sẵn sàng đối diện với những thử thách mà thế giới đưa đến.
- Phải tích cực cộng tác với mọi thành phần trong Dòng và trong gia đình.
- Phải hiểu biết cách sâu sắc về việc Khấn Trọn Đời.
- Sự hiểu biết này phải thấm nhuần trong chúng ta, là những thành phần tích cực của Dòng.
- Hai khái niệm này rất căn bản và hổ tương cho nhau.
- Dòng Phan Sinh Tại Thế không thể tồn tại nếu không có hai khái niệm nầy.
Tính Liên Đới: Là thành phần tích cực của Dòng, đòi hỏi chúng ta phải vượt qua các ranh giới:
- Quốc gia
- Ngôn ngữ
- Dân tộc
- Văn hóa
- Giai cấp
Mục đích
- Truyền bá Tin Mừng
- Phục hưng Giáo Hội trong Chúa Kitô.
- Cứu chuộc nhân lọai đến với Chúa Cha
Dòng Phan Sinh Tại Thế
Có khoảng 430,000 dòng viên
Dòng 1 và dòng 2
Có hơn 150,000 dòng viên
Cùng với nhau: Chúng ta phải làm tròn sứ mệnh mà Chúa Cha đã trao cho Thánh Phanxicô trước tượng thánh giá đamianô.
- Vị Tổng Phục Vụ Dòng Phan Sinh Tại Thế muốn mỗi huynh đệ đoàn phải quan tâm đến các sự kiện và sứ mệnh nói trên, đồng thời phản ảnh những cách thức giúp chúng ta hoàn thành sứ mệnh đó.
- Các thành viên trong Hội Đồng Phục Vụ Quốc Tế sẽ đúc kết những ý kiến ấy và sẽ trình cho Tổng Tu Nghị.
Lời Kinh Cầu Nguyện Cho Tổng Tu Nghị Dòng Phan Sinh Tại Thế
Lạy Thiên Chúa Tối Cao và Vinh Hiển*, chúng con ngợi khen Chúa* vì sự hiện diện của Chúa giữa thế gian* và vì món quà lớn lao Chúa đã ban cho chúng con* là ơn gọi vào Dòng Phan Sinh Tại Thế*.
Chúng con nài xin Chúa soi sáng cho mỗi anh chị em Phan Sinh Tại Thế* trong suốt thời gian chúng con chuẩn bị cho Tổng Tu Nghị sắp tới* sẽ diễn ra tại nước Hung-gia-lợi*.
Xin Chúa ban ơn khôn ngoan cần thiết* cho những anh chị sẽ tham dự Tu Nghị này* biết khai triển những ưu tiên cần thiết* mà Dòng Phan Sinh Tại Thế sẽ thực hiện trong 6 năm sắp tới*, và bầu chọn những người Chúa muốn trao trách nhiệm* điều hành và hướng dẫn sinh hoạt Hội Dòng chúng con*.
Xin Chúa luôn hướng dẫn và lèo lái chúng con* để chúng con có thể sống Phúc Âm Chúa Giêsu Kitô* và trung thành tuân giữ Luật Dòng Phan Sinh Tại Thế*, cộng tác với Chúa trong công cuộc xây dựng Hội Thánh và Thế giới*.
Chúng con cầu xin vì Danh Chúa Giêsu Kitô*, và nhờ lời cầu bầu của Đức Nữ Đồng Trinh Maria*, Thánh Phanxicô và Thánh Clara*, Thánh I-sa-ve và Vua Thánh Lu-y, quan thầy của chúng con*. Amen*.
Bài 1: Khấn Dòng
Ân Sủng Của Việc Khấn Dòng
Chúa ban ơn thánh hiến để người Phan Sinh dâng hiến đời mình cho lý tưởng nước Trời.
Việc khấn dòng là một ân sủng và là quà tặng từ Chúa Thánh Thần.
"Sách Nghi Thức của dòng Phan Sinh Tại Thế… biểu lộ một cách cụ thể rằng, việc Khấn Dòng là một món quà của Chúa Thánh Thần, và là sự cam kết sống đời Phúc Âm phù hợp với Dòng Phan Sinh Tại Thế."
Khấn Dòng: Hành Vi Của Giáo Hội
Việc Khấn Dòng là một hành vi của Giáo hội, và cũng là của Chúa Kitô.
Việc Khấn Dòng là hành vi long trọng và các nghi thức phải được thể hiện như là một biến cố có tính công khai và được thánh hóa.
Việc Khấn Dòng là một biến cố của việc cứu rỗi, giờ của Chúa, không phải của thế gian.
Món Quà Của Chúa Thánh Thần Trong Việc Cử Hành Nghi Thức Khấn Dòng
Việc cử hành nghi thức Tuyên Khấn trong Dòng Phan Sinh Tại Thế được kết thúc trong sự thánh hóa những ai được mời gọi bước theo Chúa Kitô theo gương mẫu của Thánh Phaxicô Assisi trong khi vẫn tiếp tục duy trì đời sống trong môi trường tại thế.
Việc Khấn Dòng cũng có ý nghĩa của một lễ Hiện Xuống, một việc làm mang lại sự hiển linh của Chúa Thánh Thần, là Đấng đã thánh hóa và biến đổi những ai nói lên lời tuyên khấn sẽ sống Phúc Âm trong dòng Phan Sinh Tại Thế.
Khấn Dòng Và Sự Liên hệ Với Thánh Thể
- Việc Khấn Dòng còn thể hiện cách rõ ràng chức năng và vai trò tư tế của những người đã được Rửa Tội và Thêm Sức. Điều này đạt được hiệu quả nhờ sự hiện diện và hành động của vị Linh Mục.
- Qua vị Linh Mục, giáo hội kết hợp nghi thức khấn dòng với hy lễ của Chúa Kitô: Do đó, nghi thức khấn dòng phải được thực hiện trong Thánh Lễ.
- Trong ý nghĩa của Thánh Thể, nghi thức khấn dòng nói lên một chiều kích hiến dâng nội tại của việc tuyên khấn vào Dòng Phan Sinh Tại Thế: Do việc dâng hiến đời mình cho Chúa định đoạt, và hiến thân mình trên bàn thờ Chúa như một hy lễ thiêng liêng được Chúa chấp nhận.
- Liên hệ mật thiết giữa Nghi Thức Khấn Dòng và Thánh Thể: Sự hy sinh của Thầy Chí Thánh, dâng hiến thân mình cho Chúa Cha và sự hy sinh của một Tân Khấn Viên, người hiến dâng đời mình cho Chúa Cha, cả hai đều được hiện diện cùng lúc cách mầu nhiệm.
Khấn hứa không phải là một hành vi chỉ diễn ra trong một khoảnh khắc ngắn đối với cả cuộc đời; Mà trái lại; đây là một cam kết: Với một lần khấn trong đời nhưng phải dấn thân trong suốt quảng đời còn lại. Hành vi khấn hứa xác định một tình trạng hiện thực đặt người Phan Sinh vào tình trạng vĩnh khấn, có nghĩa là một tình trạng vĩnh viễn sống trong ánh sáng của những nguyên tắc căn bản và chân thực liên hệ đến mầu nhiệm Thánh Thể.
Khấn Dòng Và Phép Rửa Tội
Khấn dòng là động cơ giúp người Phan Sinh sống cách nồng nhiệt và trung thành hơn với những ơn thiêng và sự thánh hóa của phép Rửa Tội.
Khấn dòng còn là một linh hiển của phép rửa tội nhằm làm đầy đủ và hiệu qủa cho sự tăng sức mạnh và phong phú hóa phép Rửa Tội.
Câu Thẩm Vấn thứ 1 Trong Nghi Thức Khấn Dòng
Trong sách Nghi Thức của dòng Phan Sinh Tại Thế, chương 3, Nghi Thức Khấn Dòng đã ghi: "Anh chị có muốn tuân giũ lối sống Phúc Âm mà thánh Phanxicô Assisi đã nêu gương, đã dạy, và đã ghi rõ trong Bản Luật Dòng Phan Sinh Tại Thế không?"
Và mỗi chúng ta đều đáp là: "Thưa con muốn". Nếu không, chúng ta đã không tuyên khấn!
Ước muốn và hành động là hai việc khác nhau. Giờ đây, chúng ta cố gắng lượng định xem chúng ta thực hành được bao nhiêu? Hãy bàn thảo với nhau về những câu hỏi liên hệ đến các điều chúng ta vừa mới học về ư nghĩa của việc khấn dòng.
Câu Hỏi Gợi Ý
1. Tôi đã hứa là sẽ tuân giữ Phúc Âm; Vậy, trong đời sống thường ngày, tôi đã thật sự sống Phúc Âm như thế nào trong việc bước theo Chúa Kitô?
2. Tôi đang sống Phúc Âm trong huynh đệ đoàn như thế nào để tôi có thể hổ trợ việc nuôi dưỡng tinh thần giữa anh chị em với nhau và để cho anh chị em nuôi dưỡng tinh thần cho chính tôi?
3. Tôi đang sống Phúc Âm trong môi trường xã hội, lối xóm, sở làm, trường học như thế nào… để tôi có thể đưa người khác gặp gỡ và hiểu biết Chúa Giêsu hơn?
4. Tôi có thể làm gì tốt hơn để sống xứng đáng như một Phan Sinh Tại Thế đã tuyên khấn?
5. Trong đời sống thường ngày, anh chị đã sống tinh thần Phan Sinh Tại Thế đến mức độ nào? Có phải môi trường sinh hoạt của huynh đệ đoàn chỉ là dịp để gặp gỡ các anh chị khác trong đoàn?
6. Tại sao anh chị muốn gia nhập vào Dòng Phan Sinh Tại Thế? Anh chị đóng góp những gì cho dòng Phan Sinh Tại Thế khi đã tuyên khấn và hiện diện trong hội dòng?
Những câu hỏi về việc khấn hứa sẽ được bàn thêm trong các bài học, 2, 3, và 4.
"Anh chị đã được mời gọi để làm nhân chứng cho Nước Chúa và xây dựng một thế giới huynh đệ trên căn bản Phúc Âm, và với những người thiện tâm. Anh chị có luôn trung thành với ơn gọi này và thực hành việc phục vụ theo tinh thần Phan Sinh Tại Thế không?"
"Anh chị đã là một thành phần của dân Chúa qua Bí Tích rửa tội và trở nên mạnh mẽ hơn trong phép Thêm Sức với những ân ban mới của Chúa Thánh Thần, để tuyên xưng Chúa Kitô bằng chính cuộc sống và chính lời nói của anh chị. Anh chị có muốn tự ràng buộc mình gắn bó hơn với Hội Thánh và nhiệt thành làm việc để tái xây dựng một cộng đồng dân Chúa, và hoàn thành sứ mệnh trong Hội Thánh với mọi người không?"
"Tôi là_____, nhờ ơn Chúa, tôi xin lập lại những gì đã hứa với Chúa khi lãnh nhận Bí Tích Thánh Tẩy, và xin hiến mình phục vụ Nước Thiên Chúa. Vì vây, tôi xin tuyên khấn Sống Phúc Âm của Đức Giêsu Kitô trong Dòng Phan Sinh Tại Thế ở bậc giáo dân suốt đời tôi bằng cách tuân giữ Luật Dòng.
Ước gì, nhờ ơn của Chúa Thánh Thần, nhờ lời cầu bầu của Đức Trinh Nữ Maria, của Cha Thánh Phanxicô, cùng sự hiệp thông của anh chị em trợ giúp để tôi tiến tới Đức Ái hoàn hảo."
Bài 2: Khấn Dòng (tt)
(Tiếp theo bài trước)
1. Mối Liên Hệ với Giáo Hội
Việc Khấn Dòng tạo nên mối liên hệ mới với Giáo Hội:
Mối liên hệ căn bản từ nghi thức Rửa Tội, được canh tân và hoàn hảo hơn nhờ phép Thêm Sức và nghi thức khấn dòng làm cho mối liên hệ này ngày càng trở nên mạnh mẽ và khắn khít hơn.
Chứng nhân và công cụ của sứ mệnh trong Giáo Hội:
Thực chất của sứ mệnh của người Phan Sinh Tại Thế không tập trung vào những sinh hoạt nào đó, mà là cách sống đích thực của người Phan Sinh Tại Thế.
Mục đích của Luật Dòng, Hiến Chương, và Nghi Thức Khấn Dòng là nhấn mạnh đến sự cần thiết của nếp sống Phúc Âm sống động, chặt chẽ và vững vàng hơn mà người Phan Sinh Tại Thế đã thề hứa với Giáo Hội qua nghi thức Khấn Dòng.
Sứ mệnh của người Phan Sinh Tại Thế là xây dựng Giáo Hội.
Thánh Phaxicô và các anh em của ngài đã được Thiên Chúa trao ban ân sủng hiệp thông trong từng phần tử của cộng đồng dân Chúa để giáo hội có thể hiện diện vượt trên thế gian và trong thế gian, như là sự cứu chuộc chung cho cả nhân loại.
2. Sự Tận Hiến
Khấn Dòng là một hành vi của người Phan Sinh Tại Thế dâng hiến chính đời mình trong tay Thiên Chúa và để cho Thiên Chúa định đoạt.
Kết qủa của sự dâng hiến bắt đầu ngay từ giây phút khấn hứa, và cuộc đời của người Phan Sinh Tại Thế không còn tùy thuộc vào họ nữa, nhưng được xem như đã hoàn toàn được Chúa tuyển chọn để dâng hiến cả đời mình một cách trọn vẹn và vô điều kiện.
Sứ mệnh mà ta thi hành trong việc khấn hứa trong đời sống Phan Sinh Tại Thế là một sứ mệnh do Chúa trao phó.
Hiệu quả nhận thấy qua việc tận hiến này là sự kết hơp mật thiết với Thiên Chúa, tiếp nối chương trình cứu độ của Thiên Chúa, phục vụ Nước Chúa, bằng cách sống trong thế gian và cho thế gian.
Dự án của đời sống được qui định bởi Luật Dòng, và Hiến Chương đều đặt trọng tâm vào lời cam kết trọn đời và hoàn toàn sống Thánh Phúc Âm theo gương mẫu của thánh Phanxicô trong ơn gọi tại thế.
3. Đời Sống dựa vào Lời Chúa
Khấn Dòng là lời hứa sống Lời Chúa theo cách thức của Thánh Phanxicô, và tuân giữa các Luật Dòng đã được Hội Thánh phê chuẩn cho hội Dòng. (Luật 2, Hiến Chương 1,3; 8,1)
Vì thế đối với những anh chị đã tự ràng buộc mình qua Lời Khấn trong dòng Phan Sinh Tại Thế để cố gắng đạt tới đức Ái trọn hảo qua việc chu toàn các bổn phận trần thế của mình (Luật 2), thì việc làm bước theo thánh Phanxicô, tuân giữ Luật và Hiến Chương của Dòng không còn là sự lựa chọn mà là sư bắt buộc phải tuân thủ.
Trọng tâm linh đạo của Thánh Phanxicô chỉ đơn giản là trở về với Phúc Âm của Chúa Kitô.
Do đó, ơn gọi của mỗi người Phan Sinh là ơn gọi Phúc Âm hóa đời sống Phan Sinh. Mỗi người Phan Sinh phải noi gương Thánh Phanxicô và trở nên giống ngài. Không có Luật nào khác ngòai việc tuân giữ Thánh Phúc Âm của Chúa Giêsu.
Vượt lên trên Bản Luật, chúng ta sống Lời Chúa cách trọn vẹn như Thánh Phanxicô vì ngay từ khởi đầu ơn gọi, chúng ta đã nhận ra linh đạo đặc biệt này của thánh nhân.
Chúng ta phải quan niệm rằng; với thánh Phanxicô, việc tuân giữ Lời Chúa không còn là qui luật, nhưng hơn thế nữa, là phương tiện giúp cho những ai muốn có một đời sống được thấm nhuần Lời Hằng Sống của Chúa Giêsu.
Như vậy Luật và đời sống của người Phan Sinh Tại Thế là tuân giữ Phúc Âm của Chúa Giêsu Kitô, theo gương của thánh Phanxicô Assisi (Luật 4).
Với Thánh Phanxicô, theo chân Chúa không có nghĩa là lặp lại các hành động và lời giảng của Chúa khi còn tại thế, mà hướng đời mình vào những nhu cầu của việc Phúc Âm hóa môi trường, qua cách sống, và truyền bá gương sống của Chúa Giêsu, là Đấng đã hiến đời mình trên thập giá để cứu chuộc cho nhân lọai.
4. Ôn Lại Câu Hỏi Số 2 Trong Nghi Thức Khấn Dòng (Chương 3)
Từ sách Nghi Thức của Dòng Phan Sinh Tại Thế (chương 3), Nghi Thức Tuyên Khấn:
"Anh chị đã được gọi để làm chứng cho Nước Chúa và cùng với những người thiện chí xây dựng một thế giới huynh đệ, và đầy tinh thần Phúc Âm hơn? Anh chị em có muốn trung thành với ơn gọi này và trau dồi tinh thần phục vụ là nét đặc biệt của người Phan Sinh Tại Thế không?"
Mỗi người trong chúng ta đã trả lời "Thưa có"; nếu không thưa như thế thì anh chị đã không tuyên khấn. Một lần nữa, ước muốn và hành động là hai việc khác nhau. Giờ đây, chúng ta cố gắng tự lượng định xem chúng ta thực hành được bao nhiêu? Và làm thế nào?
Câu Hỏi Gợi Ý
1. Dòng Phan Sinh Tại Thế là gì? Ý nghĩa của việc dấn thân là gì?
2. Tuyên Khấn, tự nó là sự dâng hiến trọn đời, anh chị đã sống đời sống dấn thân trọn đời bằng cách nào?
3. Đâu là kinh nghiệm của người Phan Sinh nhận thức việc kết hợp mật thiết với giáo hội, và gia đình Phan Sinh?
4. Là một thành viên trong dòng Phan Sinh, khi đặt mình trước thế gian thì vai trò của mình là gì? Khi đặt mình trước toàn thể huynh đệ đoàn thì vai trò của mình là gì?
NHỮNG BÀI ĐỌC THÊM
"Có
Đạo” Và "Vô Đạo”
Tuy sống giữa xóm đạo, nhưng Em là kẻ "vô đạo”…
Những người "có đạo “ở đây đều gọi em như vậy! Vô đạo, vì em không được mang Thánh Ấn Rửa Tội để làm con cái Chúa. Em không hề biết Thiên Chúa là ai. Chẳng ai nói cho Em biết: Em là tạo vật được Thiên Chúa dựng nên từ trái tim yêu thương của Người.
Không ai biết em từ đâu đến. Mà cũng chẳng ai thèm biết! Chỉ biết rằng em rất nghèo, Em đến nơi đây cắm lều để hành khất nuôi chồng và ba đứa con thơ.
Ở được vài hôm thì chồng em qua đời vì bệnh HIV. Không ai thích làm bạn với người nghèo. Đã vậy, chồng em lại qua đời vì một chứng bệnh "không tốt lành" làm cả xóm sợ hãi, mọi người càng xa lánh Em.
Em chẳng quan tâm đến điều này, cũng không để ư đến ánh mắt khinh dể của những người có đạo. Hằng ngày, sáng, trưa, chiều, khi gần đến giờ ăn, em hỏi các con hôm nay muốn ăn gì. Ba đứa con của em như ba con chim sâu bé nhỏ, nằm ngoan hiền trong tổ chờ mẹ tha mồi về mớm. Không biết gì đến những cơn bão đời bên ngoài có thể cuốn trôi các em ra khỏi nơi bình an bất cứ lúc nào. Chúng lao nhao cười nói với mẹ là thích ăn phở, ăn cơm tấm, ăn bún riêu…
Ra khỏi nhà, Em mang theo ba cái thau bé nhỏ, bé nhỏ như cuộc đời nghèo hèn của em. Em đến tiệm phở, tiệm cơm tấm, tiệm bún riêu đứng chờ người ta ăn xong để trút hết những phần cặn thừa ấy vào thau rồi mang về cho các con.
Có đôi lần gặp người có đạo cùng xóm, họ quay quần bên bàn ăn, vui cười bên những dĩa cơm, bát phở thơm lừng, nhưng chẳng ai buồn nhìn em. Chẳng ai thèm biết là có kẻ đói ăn đang chực chờ để nhặt những miếng ăn thừa thải đem về cho những kẻ đói ăn khác. Có khi họ còn chụm lại để xì xào, bàn tán về "nguồn gốc" của em. Dần dần, mỗi khi đi khất thực mà gặp những người có đạo cùng xóm, em chẳng dám đến gần.
Những ngày nắng đổ, thức ăn em mang về cho các con như đậm đà hơn bởi được “nêm" thêm vị mồ hôi mặn mà của em. Khi mưa sa, những giọt mưa đều đặn rơi vào thau thức ăn như những giọt hương, thơm ngát tình yêu mẹ dành cho con… Nh | |