|
Trong Số Này:
|
|
|
Trái Tim Và Tình Yêu
Thưa quí anh chị,
Không biết từ bao giờ, người ta đã dùng trái tim để làm biểu tượng của tình yêu, để diễn tả tình yêu; và mỗi khi nhìn thấy hình trái tim, chúng ta nghĩ ngay đến tình yêu thương. Tình yêu và trái tim đã trở nên một. Trái tim và tình yêu đã không thể tách rời nhau.
Khi đến nhà thờ, nhìn thấy tượng Chúa Giêsu đưa tay chỉ vào trái tim của mình, có lẽ có lắm người sẽ thắc mắc như: "Tại sao trái tim Chúa lại nằm ở bên ngoài lồng ngực? Tại sao Chúa lại đưa tay chỉ vào trái tim của mình thế kia? Tại sao các tượng khác không có mà chỉ có tượng Chúa và Mẹ có thôi? Đến khi lớn khôn, tôi mới hiểu là vì Thiên Chúa cũng say mê; Ngài say mê con người và yêu con người tha thiết… Yêu đến độ không màng đến ngôi vị của mình, yêu bất chấp tất cả những đau thương, yêu đến quên mình, yêu cho đến chết…
Tháng Sáu lại về, giáo hội nhắc nhở chúng ta cùng suy niệm tình yêu và thờ lạy Thánh Tâm Ngài. Khi nói về Thánh Tâm, có biết bao điều để nói… Nhưng thú thật, Thánh Tâm Chúa thì quá bao la, tình yêu của Người bao la hơn quả địa cầu, vượt trên muôn ngàn sông núi, vượt cả không gian và thời gian… Còn tâm trí của chúng ta thì quá hạn hẹp, tình yêu chúng ta dành cho Chúa như giọt nắng so với mặt trời, như giọt sương rơi giữa biển khơi, như hạt cát trong sa mạc… thì làm sao dám nói về tình yêu Thiên Chúa. Dù vậy, những trái tim mọn hèn vẫn biết rung động và cảm nhận tình Chúa trong cuộc đời vĩ đại của Người như một lời cảm tạ, tri ân Tình Ngài.
Đọc lại Kinh Thánh, các Kinh sư và người Pharisêu đem đến cho Chúa Giêsu người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình và nói với Người: "Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình. Nếu nói theo Luật Môsê truyền cho chúng tôi thì phải ném đá người đàn bà này. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?" (Gn 8:1,5). Câu hỏi chết người ấy cứ được lập đi, lập lại một cách nôn nóng, gay gắt, và kiên quyết. Nhưng với một thái độ điềm tỉnh, Chúa nói: "Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi”… “Này chị, họ đâu cả rồi? Không ai lên án chị sao?" "Thưa không có ai cả!" "Tôi cũng vậy, tôi không kết án chị đâu; Thôi! chị về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!" (Gn 8,11).
Chúng ta nhớ lại cuộc đối thoại thật thú vị và thấm đượm tình nghĩa yêu thương, đậm nét lòng nhân hậu, đánh động lòng người của lòng nhân hậu của vị Thầy Chí Thánh; và đáng cho chúng ta suy nghĩ về cách cư xử giữa người với người. Một bên cố tình kết tội. Một bên kiên quyết tháo gỡ. Một bên muốn giết chết. Một bên quyết tâm bảo vệ sự sống. Một bên là những phàm nhân ngập chìm trong tội lỗi lại thích xét đoán, kết tội, lên án… Một bên là Thiên Chúa, là Đấng Toàn Năng, Toàn Quyền trên mọi tạo vật lại luôn luôn yêu thương, tha thứ, luôn rộng mở vòng tay đón nhận kẻ tội lỗi quay về.
Đây là câu chuyện của hai ngàn năm trước. Nhưng chúng ta phải tin rằng đây là Lời Chúa nói với chúng ta trong ngày hôm nay, trong giây phút hiện tại của mình. Chúng ta nghĩ gì về thái độ của các Kinh sư và người Pharisêu? Chúng ta suy niệm thế nào về lòng nhân hậu của Thiên Chúa? Đứng giữa sự từ tâm và vô tâm, chúng ta chọn bên nào? Chắc chắn chúng ta không phải là những người vô tâm, bởi chúng ta là con cái Chúa. Nhưng chúng ta cũng cần phải kiểm điểm lại đời sống của mình hằng ngày trong việc cử xử với anh em. Chúng ta đã sống như thế nào đối với những người chung quanh? Chúng ta đã đối xử thế nào với những người mà thế gian cho là "lỗi luật"? Chúng ta sẽ làm gì khi bên cạnh chúng ta có những người sa lầy? Chúng ta nhìn những người sống không vừa lòng chúng ta với cái nhìn thế nào? Chúng ta sẽ đứng về phía Thiên Chúa, học cách xử sự như Thiên Chúa, yêu thương, bảo vệ, tha thứ… Hay là đến với anh em mình với gương mặt Thiên Chúa nhưng lòng dạ của Pharisêu? Miệng nói lời tha thứ nhưng tay lại cầm những hòn đá dấu sau lưng chực chờ ném vào anh em mình?
Hãy nhìn vào gương sáng của Chúa Kitô. Hãy học nơi Người sự nhân thứ bao dung. Hãy tập yêu như Người đã yêu, hãy luôn mở rộng vòng tay với mỗi người chung quanh, hãy đáp lời xin vâng khi có thể giúp ai đó được chút gì, hãy sẵn sàng những nụ cười. Để trái tim của chúng ta luôn là những trái tim biết cười… biết đem cho người, biết đem cho đời những niềm vui…
Vâng, Thiên Chúa luôn yêu thương và yêu thương chúng ta không ngừng. Trong Thánh Tâm Người luôn có hình ảnh của chúng ta. Hãy nhìn vào Thánh Tâm Người để cảm nhận và cảm tạ tình Người yêu ta và hãy tha thiết cầu xin Người: "Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu xin uốn lòng chúng con giống như trái tim Chúa. Amen."
BBT
|

Trở về mục lục >>
|
|
|
|
Tự Giải Thoát Và Tự Ràng Buộc
(Luca 9,51-62 – CN XIII TN - C )
9:51 Khi đã tới ngày Đức Giê-su được rước lên trời, Người cương quyết đi lên Giê-ru-sa-lem. 9:52 Người sai mấy sứ giả đi trước. Họ lên đường và vào một làng người Samari để chuẩn bị cho Người đến. 9:53 Nhưng dân làng không đón tiếp Người, vì Người đang đi về hướng Giêrusalem. 9:54 Thấy thế, hai môn đệ Người là ông Gia-cô-bê và ông Gio-an nói rằng: "Thưa Thầy, Thầy có muốn chúng con khiến lửa từ trời xuống thiêu huỷ chúng nó không?" 9:55 Nhưng Đức Giê-su quay lại quở mắng các ông. 9:56 Rồi Thầy trò đi sang làng khác. 9:57 Thầy trò còn đang đi trên đường, thì có kẻ thưa Người rằng: "Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo". 9:58 Người trả lời: "Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu". 9:59 Đức Giê-su nói với một người khác: "Anh hãy theo tôi!" Người ấy thưa: "Thưa Thầy, xin cho phép tôi về chôn cất cha tôi trước đã". 9:60 Đức Giê-su bảo: "Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa". 9:61 Một người khác nữa lại nói: "Thưa Thầy, tôi xin theo Thầy, nhưng xin cho phép tôi từ biệt gia đình trước đã". 9:62 Đức Giê-su bảo: "Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa".
1.- Ngữ cảnh
Với 9,51, Tin Mừng Lc bắt đầu một phân đoạn quan trọng và là phần thứ ba của TM, đó là bài tường thuật chuyến đi lên Giêrusalem, thành định mệnh (9,51–19,28). Khác với TM Mc, tác giả Lc nhiều lần nói rõ tên Giêrusalem ra trong chuyến đi này (9,53; 13,22.33-34; 17,11; 18,31; 19,11, luôn luôn là Ierousalêm, ngoại trừ 13,22, Hierosolyma). Ta nhận ra phân đoạn này được coi là trọng yếu qua việc Lc nêu tên thành ra trong liên hệ với việc Đức Giêsu "được rước lên trời" (analêmpsis) và qua việc nhắc tới sự hoàn tất ("Thời gian đã mãn, đến buổi Người siêu thăng” – NTT). Nói cách khác, trong TM Lc, Đức Giêsu đi từ Galilê lên Giêrusalem không qua Pêrê (như Mc và Mt ), nhưng Người chỉ nhắm thẳng tới thành định mệnh bằng cách băng ngang miền đất tượng trưng cho sự đối nghịch, đó là Samari.
Cuộc hành trình lên Giêrusalem (9,51–19,28) có thể được chia ra làm bốn phần, ba phần đầu của riêng Lc, mỗi phần được đánh dấu bằng một lời nhắc đến mục tiêu Giêrusalem; phần cuối có chung với các TMNL khác, có câu kết nhắc lại mục tiêu:
(1) 9,51–13,21: bắt đầu bằng “Người cương quyết lên đường đi Giê-ru-sa-lem";
(2) 13,22–17,10: bắt đầu bằng “Trên đường lên Giê-ru-sa-lem";
(3) 17,11–18,14: bắt đầu bằng “Trên đường lên Giê-ru-sa-lem";
(4) 18,15–19,28: tương ứng với bài tường thuật về hành trình của các TMNL khác; kết thúc bằng "Nói những lời ấy xong, Đức Giêsu đi đầu, tiến lên Giêrusalem".
2.- Bố cục
Bản văn có thể chia thành ba đơn vị, một câu mở với hai phân đoạn khá khác nhau:
1) Mở: Hành trình lên Giêrusalem (9,51);
2) Sự đón tiếp tại một làng Samari (9,52-56);
3) Những đòi hỏi đặt ra cho ai muốn làm môn đệ (9,57-62).
3.-Vài điểm chú giải
- Khi đã tới ngày (51): dịch sát là "việc làm đầy các ngày". Tác giả đã tạo ra công thức này để giúp hiểu là nay chương trình của Thiên Chúa bắt đầu chuyển sang một giai đoạn mới trong tiến trình thực hiện.
- được rước lên (51): Analêmpsis có nghĩa là "hành vi cất đi; sự nâng lên".
- Người cương quyết (51): dịch sát "Người đanh/làm chai (stêrizein) mặt lại để đi lên…". "Mặt" trong văn chương Do-thái chỉ cả con người. Ư nói là Đức Giêsu cương quyết đối đầu với định mệnh của Người, Người can đảm thắng vượt nỗi sợ hãi. Ta nghe ra được âm vang của Is 50,7. Nhưng cũng có thể câu này nhắm tới sứ mạng của ngôn sứ Êdêkien tại thành Giêrusalem (Ed 8–11).
- người Samari (52): dân cư Samari, kinh đô của vương quốc phía Bắc do vua Omri sáng lập vào khoảng năm 870 tr CG. Sau này, tên gọi "người Samari" (hl. Samaritês) trở thành một tên gọi mang tính chủng tộc và tôn giáo để chỉ những người cư ngụ trong miền đất giữa Giuđê và Galilê, về phía tây sông Giođan. Sự đoạn tuyệt giữa người Samari và người Do-thái được giải thích khác nhau tùy mỗi bên. Thường người ta cho rằng có sự chia lìa đó là do có việc đế quốc Átsua đưa người Do-thái đi lưu đày sau khi chiếm được đất nước năm 722 tr CG và đưa những người không phải là Do-thái vào làm thực dân ở trong miền đó (2 V 17,24). Có lẽ cũng do đó mà sau này những người ở lại quê nhà đã phá những người Do-thái hồi hương khi những người này xây lại thành và Đền Thờ Giêrusalem (x. Er 4,2-24; Nkm 2,19; 4,2-9). Dù thế nào, những người Samari chỉ chấp nhận Bộ Ngũ Thư là Kinh Thánh và đã xây một đền thờ trên núi Garidim (Tell er-Râs) vào thời Hy-lạp (đền này đạ bị phá hủy dưới thời Gioan Hiếccanô, khoảng năm 128 tr CG).
- vì Người đang đi về hướng Giêrusalem (53): dịch sát là "mặt Người đang hướng tới Giêrusalem". Mục tiêu của cuộc hành trình của Đức Giêsu chính là lý do khiến người Samari từ chối đón tiếp Ngài.
- Thầy có muốn chúng con khiến lửa từ trời xuống thiêu huỷ chúng nó không? (54): Mặc dù Lc dùng analôsai (aor. act. inf. analuô, "tháo gỡ; tiêu hủy") thay vì kataphagein (aor. act. inf katesthiô, "ăn ngấu nghiến, thiêu hủy, phá hủy") của LXX, câu văn vẫn là một lời nhắc rõ ràng đến 2 V 1,10 (hay 12). Các môn đệ muốn chia sẻ quyền lực của Đức Giêsu để làm một phép lạ trừng phạt.
- quay lại (55): xem cả 10,23; 14,25. Tác giả cho thấy là Đức Giêsu dẫn đầu nhóm môn đệ.
- quở mắng (55): Đức Giêsu sửa các môn đệ vì các ông vẫn chưa hiểu sứ mạng của Người nhắm điều gì (x. 9,45). Người không chấp nhận cho người ta coi Người là ngôn sứ Êlia, nhà cải cách được ví với lửa. Người không chấp nhận phản ứng theo kiểu thường tình loài người (x. 6,29).
- chôn cất cha tôi (59): Theo truyền thống kinh sư sau này, bổn phận chôn cất cha mẹ qua đời bó buộc với các na-dia (nazir ), tư tế, và cả với thầy thượng tế, cho dù tiếp xúc với một thi hài thường được coi như là cớ gây nhiễm uế (x. Ds 6,6-7; Lv 21,11).
- Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ (60): Câu này được giải thích nhiều cách, nhưng dựa vào một câu tục ngữ, giáo sư J.A. Fitzmyer cho rằng ý nghĩa của câu này là "Cứ để kẻ chết (về thiêng liêng) chôn kẻ chết (về thể lý) của họ".
- xin cho phép tôi từ biệt gia đình trước đã … Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau (61-62): xem truyện ngôn sứ Êlia gọi Êlisa (1 V 19,19-21). Nhưng Đức Giêsu đòi hỏi hơn Êlia, vì vị ngôn sứ còn cho phép môn đệ về từ giã bà con thân thuộc, còn Đức Giêsu thì không cho phép.
4.- Ý nghĩa của bản văn
Mở: Hành trình lên Giêrusalem (51)
Câu mở với giọng long trọng của bài tường thuật chuyến đi lên Giêrusalem có ba điểm:
a) Thời gian Chúa Cha ban cho Con để thực hiện chương trình của Người trên trần gian đã đến lúc chấm dứt;
b) Đức Giêsu nhất quyết đi cho tới Thành thánh. Người biết chuyện gì đang chờ Người ở Giêrusalem. Người thấy những đau khổ, cái chết và cả sự sống lại đang đến gần. Ta nghe ra gợi ư xa xa về cuộc hấp hối trong vườn Ô-liu. Khi đến lúc, Người cắt đứt những liên hệ với miền Galilê và cương quyết tiến về Giêrusalem, hiên ngang đối diện với định mệnh của Người;
c) "Người sai mấy sứ giả đi trước”: Hẳn là tác giả Lc gợi đến sấm ngôn thiên sai Ml 3,1, với ý nghĩa Đức Giêsu chính là Yhwh, còn các tông đồ là những sứ giả.
* Sự đón tiếp tại một làng Samari (52-56)
Cũng như sứ vụ tại Galilê được dẫn nhập bằng một truyện Đức Giêsu bị loại trừ (4,16-30), chuyến đi lên Giêrusalem cũng được dẫn nhập bằng một truyện như thế. Có một làng Samari đã không đón tiếp Người vì Người lên Giêrusalem, chứ không lên Garidim là nơi có đền thờ của người Samari. Sự từ khước này không làm cho lòng Người ra chua chát. Người quở mắng hai môn đệ Giacôbê và Gioan vì các ông đã đề nghị chuyện bạo lực. Người yêu cầu người ta nghe Người, nhưng Người để cho người ta tự do, chứ không muốn ép buộc người ta phải đón tiếp Người. Quyết định của Người phải được diễn tả ra một cách hùng hồn bằng cách trân trọng người khác.
* Những đòi hỏi đặt ra cho ai muốn làm môn đệ (57-62)
Trên con đường này, Người nhắc lại những điều kiện để đi theo Người. Có ba người đến để xin đi theo Người. Không biết là điều gì đã thúc đẩy họ xin như thế. Chắc chắn là họ đã bị Người thu hút, nên muốn ở với Người. Chúng ta cũng không biết là sau đó họ có thật sự đi theo Người chăng. Nhưng chúng ta biết những hoàn cảnh và những điều kiện cần thiết để có thể đi theo Người.
Người thứ nhất diễn tả một tình trạng sẵn sàng vô điều kiện. Đức Giêsu cho anh ta biết rõ điều gì đang chờ đợi anh nếu anh bước theo Người. Đặc điểm con đường Người đang theo là những bất ngờ và sự nghèo khó. Người không thể cung cấp sự an toàn và tiện nghi nơi ăn chốn ở. Chính Người đã cho thấy điều đó khi đi qua Samari: Người lệ thuộc vào sự tiếp đón của kẻ khác. Người chấp nhận bị từ chối và lại bắt đầu tìm chỗ khác. Người từ chối những tiện lợi của một nơi ở cố định. Như thế Người tự giải thoát khỏi dây ràng buộc với một nơi cố định và trở thành hoàn toàn tự do mà thi hành nhiệm vụ. Người cũng yêu cầu kẻ muốn theo Người phải có sự từ bỏ ấy, sự tự do ấy và dây liên hệ ấy.
Hai người khác nêu ra các điều kiện (chôn cất cha; từ giã người thân). Cho cả hai trường hợp, Đức Giêsu không chấp nhận những điều kiện ấy, trong đó luôn liên hệ đến gia đình. Đức Giêsu cho thấy rõ ràng là Người đòi hỏi người ta bước theo Người vô điều kiện.
+ Kết luận
Khi bước theo Đức Giêsu, người ta không được nhìn lại đàng sau, nhưng phải dứt khoát nhìn tới trước, nhìn vào chính Đức Giêsu và tất cả những gì được hàm chứa trong quan hệ với Người. Không những trong lãnh vực của cải vật chất, cả trong lãnh vực các tương quan người với người, liên hệ với Người đòi hỏi một số những từ bỏ đau đớn. Nhưng phải biết vấn đề ở đây là gì: đó là gắn bó với Người, phục vụ Người, sống thân tình với Người. Phần Người, Đức Giêsu đề nghị, nhưng luôn tôn trọng tự do của từng người.
5.- Gợi ý suy niệm
1. Thông thường chúng ta muốn nắm tối đa những giải pháp có thể có. Mỗi quyết định hàm chứa một liều lĩnh, hàm chứa một sự từ khước hoặc thậm chí nhiều sự từ khước. Khi có chuyện không thích hoặc nặng nề, hoặc khi thấy có những viễn tượng khả quan hơn, chúng ta liền muốn thử hoặc muốn thay đổi. Chúng ta muốn thoát khỏi những gì mình không thích, những gì trở thành khó khăn hay phiền toái. Những chao đảo này, sự lưỡng lự này liên hệ đến tương quan của chúng ta với các sự việc, các nhiệm vụ và các con người. Nhưng Đức Giêsu đã nêu gương: khi biết là mình đã quyết định đúng, thì Người giữ tới cùng. Tin vào Thiên Chúa là một quyết định đúng; đi theo Đức Giêsu là một quyết định đúng; chọn làm Kitô hữu là một quyết định đúng. Nhưng lâu nay chúng ta sống thế nào?
2. Ai muốn đi theo Đức Giêsu, phải dứt khoát chọn Người và liên kết với Người. Chỉ có sự cương quyết này và một quyết định như vậy mới giúp ta bước đi với Đức Giêsu và cùng với Người phục vụ việc loan báo Nước Thiên Chúa. Bước theo Đức Giêsu thường xuyên bao hàm những từ bỏ đau đớn. Chúng ta có thể suy nghĩ thêm về các của cải vật chất: chúng có giá trị gì? Theo nghĩa nào, các của cải vật chất là một sự hỗ trợ, và theo nghĩa nào, chúng là một trở ngại?
3. Mỗi người được nối kết tự nhiên với cha mẹ và gia đình mình. Khi nói những lời cứng rắn với những kẻ muốn đi theo Người, Đức Giêsu không hề chủ trương thiếu kính trọng và yêu thương đối với gia đình mình. Nhưng Người nêu bật rằng việc đi theo Người đòi hỏi một sự đoạn tuyệt; các tương quan sống cho đến nay, ta không thể tiếp tục như cũ được nữa.
4. Muốn đi theo Đức Giêsu, người ta phải: (a) bỏ mọi an toàn; (b) mau mắn đặt mọi sự tùy thuộc bốn phận loan báo Tin Mừng; (c) quay lưng lại với quá khứ và nhìn tới trước. Người ta có thể từ khước làm môn đệ Đức Giêsu vì những định kiến tôn giáo (như dân Samari), nhưng người ta cũng có thể từ khước tiếng gọi của Đức Giêsu
v́ quá bám víu vào sự an toàn, những t́nh cảm con người hoặc quá khứ
Lm. F.X. Vũ Phan Long, ofm
|
|

Trở về mục lục >>
|
|
|
|
Sống Linh Đạo Phan Sinh Tại Thế
Chương III của Luật 1978; Điều 21 (tt)
Làm Việc Đồng Đoàn Trong Hội Đồng, và Trong Huynh Đệ Đoàn
Trong bài trước, chúng ta tìm hiều Hội Đồng và việc Hội Đồng linh hoạt huynh đệ đoàn. Chúng ta cũng đã nêu lên vài khó khăn trong việc tìm nhân sự phù hợp mà bầu vào Ban Phục Vụ. Bài này chúng ta cùng nhau suy nghĩ tìm cách khắc phục để có nhân sự và để tính đồng đoàn được thể hiện tích cực hơn.
1- Để có nhân sự. Thường thì ở những huynh đệ đoàn ít thành viên, việc tìm cho ra người –nhất là người trẻ– để phục vụ anh chị em là rất khó. Có những người đến tuổi 70, hay hơn mà vẫn được anh chị em tín nhiệm, và không thể từ chối. Có huynh đệ đoàn cứ bầu đi bầu lại cũng từng ấy người vào các chức vụ thay phiên nhau. Vì thế nhiều nơi đã có một phương án là:
a- Đào tạo dự phòng: Trước nay tại nhiều nơi chú trọng đến việc huấn luyện cho những người có trách nhiệm linh hoạt huynh đệ đoàn, điều đó rất phải lẽ và thật sự cần thiết. Nhưng để đào tạo dự phòng thì hiệu quả thì chưa cao. Lý do sẽ nói trong mục b dưới đây. Ở Miền chúng tôi, có một Tiểu Ban Huấn Luyện (của Miền) bao gồm tất cả các Anh/Chị Phụ Trách Huấn Luyện trong Miền. Qui Chế Tiểu ban này có đoạn nói: "Những anh/chị Phụ Trách Huấn Luyện tương lai phải tham dự đều đặn các buổi họp do Tiểu Ban Huấn Luyện tổ chức" (Điều 8, triệt b). Như vậy, khi tu nghị bầu cử người Phụ Trách Huấn Luyện, anh chị em chỉ có thể bầu người đã được đào tạo. Tiểu Ban Huấn Luyện cũng có những buổi huấn luyện đặc biệt cho các trách vụ khác trong Ban Phục Vụ như Phục Vụ, Phó Phục Vụ, Thư Ký, Thủ Quỹ, Các Ủy viên Phúc Âm Hóa, Xã Hội, Tu Thư Báo Chí… mà lại không hạn chế số người được các huynh đệ đoàn địa phương gởi đến. Hy vọng việc làm như thế có thể gỡ rối phần nào việc thiểu nhân sự.
b- Giới thiệu với huynh đệ đoàn: Như trên đã nói, có gởi người đi thụ huấn, nhưng hiệu quả chưa cao là vì (1) khi gởi người đi học, các ban phục vụ cấp địa phương chưa nghĩ đến bầu cử. Lại nữa, (2) có gởi người đi nhưng sau khi thụ huấn, lại không giúp cho anh chị em trong huynh đệ đoàn "nhận dạng" được người đã "tốt ngiệp". Chúng tôi có ý nói đến việc ban phục vụ các huynh đệ đoàn cần tạo cơ hội cho người đã dự khóa đào tạo có dịp để ra mắt với anh chị em và giúp họ thực tập trước khi được bầu vào ban phục vụ. Vì vậy, chúng tôi có thói quen là cử thêm một số "phụ tá" cho các chức vụ như huấn luyện, và các ủy viên… Động thái này giúp những người đã thụ huấn có cơ hội thực tập, cũng như trau dồi kiến thức và kinh nghiệm, chuẩn bị cho đợt bầu cử sắp tới. Hơn nữa cũng phải nói đến tâm lư anh chị em trong huynh đệ đoàn, có cơ sở để đánh giá lòng hăng say, tinh thần phục vụ của những người ấy, để khi cầm lá phiếu, anh chị em không ngại viết tên người mới (so với người đương nhiệm).
2. Làm Việc Đồng Đoàn: Tổng hiến chương Dòng Phan Sinh Tại Thế dành rất nhiều giấy mực cho hai từ "hội đồng" và "đồng đoàn". Hội đồng là một tổ chức "dân chủ". Mọi quyết định không phải là thường vụ đều phải đi qua ngã này. Một tổ chức có tính hội đồng thì thường ít gặp sai lầm hơn vì có ý kiến của các thành viên của hội đồng, mà các thành viên hội đồng thì lại là đại biểu chính thức cho toàn tổ chức. Ví dụ như hội đồng huynh đệ đoàn địa phương thì có sự góp ý của cả ban phục vụ (5-9 người) và cả vị Trợ uý Tinh Thần. Anh chị Phục vụ (trưởng) đừng quên tham khảo ý kiến vị Trợ Úy trước khi đem ra biểu quyết trong buổi họp. Những việc quan trọng như bổ nhiệm, tổ chức khoá học, tĩnh tâm… là những việc không phải là thường vụ, anh/chị Phục Vụ không nên tự mình quyết định, cũng không thể chỉ bàn bạc sơ qua với một vài người có uy tín, hay tại một cụm nào đó rồi quyết định cho toàn đoàn. Nên nhớ rằng nếu vị trưởng tự quyết các công việc, thì dù có thành công cũng khó mà tốt đẹp. Kinh nghiệm cho thấy các quyết định đơn lẻ như vậy ít có cơ may thành công, dễ bị phá sản, vì không ai hứng thú gì khi phải chạy đua theo những quyết định từ một phía.
Vậy khi cần quyết định một việc bất thường, anh/chị Phục Vụ sẽ bàn bạc với một vài Anh/Chị trong huynh đệ đoàn, với vị Trợ úy, và nhất là với người có trách nhiệm trực tiếp liên quan đến công việc, rồi chính người có trách-nhiệm-liên-quan lập một phương án (có thể nhờ người khác làm giúp, nếu mình không đủ khả năng) sau đó trình bày chi tiết cho Hội Đồng bàn bạc, góp ý, chỉnh lý và biểu quyết. Người trưởng chỉ làm vai trò chủ toạ, chứ không phán quyết. Đến lúc đó, anh/chị Phục vụ "là người chịu trách nhiệm đầu tiên lo cho các đường hướng và quyết định của Hội Đồng được thi hành" (THC 51.1)
Phêrô
Nguyễn Đức Tiến; sfo |
|

Trở về mục lục >>
 |
|
Bài 41: Thiên Chúa Kêu Gọi Ông Môsê
(Xh 3,1-12)
Tuổi trẻ của ông Mô-sê được đánh dấu bằng những dấu hiệu kỳ lạ. Nhưng ơn gọi và sứ mạng của ông chỉ bắt đầu từ khi Thiên Chúa hiện ra với ông nơi một bụi cây bốc lửa cháy.
Đây là một cuộc mặc khải của Thiên Chúa về bản tính của Người và về kế hoạch cứu độ của Người. "Thiên sứ của Đức Chúa" tỏ mình ra cho ông Mô-sê trên núi Khô-rếp. Kiểu nói "Thiên sứ của Đức Chúa" ngụ ư một hình dạng của Đức Chúa khi Người hiện ra cho loài người. Hình dạng được dùng ở đây là một ngọn lửa thiêu đốt một bụi cây, nhưng bụi cây không bị thiêu rụi. Ngọn lửa, một thực tại vừa hữu hình vừa phi vật chất, là một dấu chỉ về sự hiện diện đầy vinh quang và thánh thiện của Thiên-Chúa. Trước ngọn lửa linh thiêng này ông Mô-sê phải rút dép ra khỏi chân để biểu lộ sự tôn kính và thờ phượng.
Cuộc đối thoại bắt đầu với lời kêu gọi của Thiên-Chúa: "Mô-sê! Mô-sê!" Ông Mô-sê thưa: "Dạ tôi đây!" Và Thiên-Chúa tự giới thiệu mình như là "Thiên Chúa của Ap-ra-ham, của I-xa-ac và của Gia-cóp". Ông Mô-sê che mặt lại: ông "sợ nhìn phải Thiên-Chúa", vì một thụ tạo không thể nhìn thấy Thiên-Chúa mà không phải chết. Bài trình thuật vừa làm nổi bật sự thánh thiện cao cả của Thiên-Chúa vừa nêu lên ý muốn của Thiên-Chúa là xích lại gần với con người và mặc-khải cho con người biết Người là ai.
Sau lời tự giới thiệu ấy, Thiên-Chúa mặc-khải ý định của Người: "Ta đã thấy rõ cảnh khổ cực của dân Ta bên Ai-cập… Ta xuống giải thoát chúng khỏi tay người Ai-cập, và đưa chúng từ đất ấy lên một miền đất tốt tươi, rộng lớn, miền đất tràn trề sữa và mật" (Xh 3,7-8). Thiên-Chúa muốn ông Mô-sê là người đứng ra thực hiện dự định lớn lao ấy của Người: "Bây giờ, ngươi hãy đi! Ta sai ngươi đến với Pha-ra-ô để đưa dân Ta là con cái Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập." (Xh 3,10). Đó là một sứ mạng cao cả làm cho ông Mô-sê phải khiếp sợ. Nhưng Thiên-Chúa bảo đảm với ông: "Ta sẽ ở với ngươi" (Xh 3,12). Sự hiện diện của Thiên-Chúa sẽ là nguồn sức mạnh vô biên cho ông Mô-sê. Sau này trước khi về trời, để trấn an các môn đệ, Đức Giê-su phục-sinh cũng sẽ chỉ ban một lời hứa như thế: "Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28,20).
Lm. Norbert Nguyễn Văn Khanh, ofm
|
|
|

Trở về mục lục >>
|
 |
|
Yêu Thương Như Cha
Đã Yêu Thương
Lạy Cha là Thiên Chúa từ nhân.
Cha dựng nên chúng con giống hình ảnh Cha, Cha cho chúng con được làm con Cha, được mang danh Cha, được tận hưởng tình yêu của Cha. Và cho phép chúng con chia sẻ tình yêu ấy với mọi người.
Chúng con biết rằng Trái Tim Cha luôn yêu thương chúng con, và không bao giờ ngừng yêu thương. Trái tim ấy luôn vang lên những nhịp đập tơ vương trước bao đau khổ của chúng con…
Còn chúng con, là những người không biết theo gương Cha, chỉ biết sống theo ý riêng của mình, chỉ biết lắng lo cơm áo, chạy theo bạc tiền, chạy theo những thú vui, thích sống ồn ào tất bật nên quên mất trái tim mình đang lặng lẽ với một nhịp đập không còn tơ vương…
Lạy Cha, xin ban cho chúng con nhịp đập của Trái Tim Cha. Để chúng con biết yêu thương như Cha đã yêu thương. Biết đến những nơi cần chúng con đến. Biết cho đi khi có người cần nhận. Biết đỡ nâng khi có người té ngã. Biết mỉm cười với những người mình không yêu thương. Biết xót xa trước nỗi đau của người đang đau khổ, và biết chia sẻ những gì cao quý nhất của con người: "Tình Yêu Thương"… Để trái tim con không còn lặng lẽ nữa, nhưng luôn rộn ràng những nhịp
đập tơ vương… Ước được như vậy…
Maria
|
|

Trở về mục lục >>
|
 |
|
Đức Maria Trong Tuyền Thống Thần Học PS
II. DÒNG ANH EM HÈN MỌN VỚI TÍN ĐIỀU ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI
B. ĐÓNG GÓP CỦA CÁC ANH EM KHÁC QUA CÁC THẾ KỶ (tt)
2. Trên bình diện sống đạo:
Bên cạnh ảnh hưởng của Anh Em Hèn Mọn trên bình diện thần học, tưởng cũng cần nhắc đến ảnh hưởng trên bình diện sống đạo. Ảnh hưởng này cũng là một yếu tố quan trọng thúc đẩy Tòa Thánh xúc tiến việc xác định đặc ân Vô nhiễm của Đức Mẹ.
a- Phổ biến lòng tôn sùng Đức Mẹ Vô Nhiễm
Chân phước Bênêđictô Arezzo (1268) dạy anh em phải hát sau kinh Tối bài "Thiên thần nói với Đức Ma-ri-a” (Angelus locutus est Ma-ri-ae). Truyền thống về sau thường xem đó là khởi điểm của Kinh Truyền tin. Tổng Tu nghị Assisi năm 1269 khuyên anh em hãy khích lệ các tín hữu năng đọc kinh Kính Mừng để kính chào Đức Mẹ và tôn kính mầu nhiệm Nhập thể khi nghe tiếng chuông ban chiều. Tổng Tu nghị tại Pađôva năm 1295 bảo anh em hãy đánh chuông mỗi ngày 3 lần và đọc 3 kinh Kính Mừng vào giờ ban chiều.
Tại Pháp, vua Luy XIII đã xin Đức Giáo Hoàng Urbanô VIII (làm giáo hoàng: 1623-1644) cho thánh lễ Đức Mẹ Vô nhiễm được cử hành trong toàn giới công giáo. Vua Luy XIV xin cho thánh lễ ấy trở thành lễ buộc tại Pháp, điều mà Đức Giáo Hoàng Alexandre VII đã đồng ư.
Tại Ý, người Anh Em Hèn Mọn là thánh Léonard de Port-Maurice (1676-1751) có một ảnh hưởng rất lớn trên dân chúng, các giáo hoàng và các vua. Người viết thư cho các nhà chức trách, đặc biệt cho vua Luy XV và hoàng hậu Leczinska của nước Pháp, phải cổ động lòng tôn sùng Đức Mẹ Vô nhiễm.
Riêng về việc tôn sùng Đức Mẹ Vô nhiễm, thì nhiều anh em thánh thiện của Dòng như thánh Gioan Capistranô (1456), thánh Giacôbê miền La Mackê (1476), thánh Pascal Baylon (1592), thánh Lorenxô Brindisi (1619), thánh Giuse Cupertino (1663), thánh Léonard de Port-Maurice (1751) và sau này, thánh Maximiliano Kolbe (1941) đã phổ biến rộng rãi trong các tầng lớp dân chúng.
b- Thành lập các tu hội mang tước hiệu Đức Mẹ Vô Nhiễm
Lòng tôn sùng ấy được biểu lộ một cách đặc biệt nơi một số tu hội và hội đoàn do các Anh Em Hèn Mọn thành lập hoặc bảo trợ.
Vào cuối thế kỷ XV, chân phước Béatrice de Silva (1490) lập nên "Dòng các Nữ tu tôn sùng Đức Mẹ Vô nhiễm” (Ordre des Conceptionistes). Năm 1494, Tòa Thánh đặt Dòng này dưới quyền hữu trách của các Anh Em Hèn Mọn.
Năm 1621, tại Segovia (Tây ban Nha), theo sự hướng dẫn của anh Valérien Magno, "Dòng các Hiệp sĩ của Đức Mẹ Vô nhiễm” (Chevaliers de la Conception) được thành lập, quy tụ các kỵ binh để bảo vệ các nước Công Giáo khỏi sự đe doạ của quân Thổ nhĩ Kỳ.
Ngoài ra còn nhiều tu hội thuộc Dòng Ba tại viện được đặt dưới quyền bảo trợ của Đức Mẹ nói chung, hoặc Đức Mẹ Vô nhiễm nguyên tội nói riêng, như tu hội "Các chị em sống đời bác ái tôn kính Đức Mẹ Vô nhiễm” (Suore della Carita dell’Immacolata Concezione) được thành lập tại Ivrea (Ý) năm 1835.
Bên cạnh các tu hội, còn có đông đảo các hội đạo đức được các Anh Em Hèn Mọn lập nên để tôn sùng Đức Mẹ Vô nhiễm: tại Ara Coeli (Rôma, 1854), tại Portiuncula (1876)...
Lòng tôn sùng Đức Mẹ Vô nhiễm đã đưa một số tín hữu đi đến chỗ tuyên khấn sẵn sàng đổ máu để bênh vực, khi cần thiết, vinh quang đó của Đức Mẹ (Votum sanguinarium). Sự kiện này phát xuất từ thời nào, người ta không được rõ, nhưng năm 1656, các tín hữu thành phố Côsensa (Ý) đã dấn thân như thế. Tại Italia, con cái thánh Phanxicô hiệp lực với con cái thánh Ignatiô phổ biến tập tục này.
Lm. Norbert Nguyễn Văn Khanh, ofm
|
|

Trở về mục lục >>
|
 |
|
Tình Cha
Các cháu thân mến,
Không biết nơi các cháu đang ở khí hậu thế nào? Montréal, nơi cô ở, thời tiết khác lạ hơn mọi năm. Bây giờ, hơn nữa tháng Năm rồi, mà trời lại trở xấu. Mưa gió giông bão rất mạnh, ban đêm trời lạnh xuống 2oC. Cây lê sau nhà cô đang nở bông rất sai bỗng nhiên rụng trắng xoá trên nền đất chỉ trong một ngày. Không biết năm nay, cây trái có vì vậy mà bị mất mùa không?
Cô biết các cháu đang ở trong mùa thi cuối năm học, chắc là rất bận với việc ôn lại bài vở. Chỉ còn một vài tuần nữa là các cháu lại hết một năm học. Một mùa hè với nhiều chương trình nghỉ ngơi. Chúng ta sẽ làm gì trong thời gian rổi rảnh này? Năm nay chúng ta đã lớn hơn năm vừa qua, lớn hơn một chút, tức là suy nghï, hiểu biết hơn một chút, đúng không các cháu?
Các cháu thân mến! Cả một năm học, chúng ta chỉ lo ăn, ngủ và đến trường; về đến nhà chỉ đủ thời gian học bài, làm bài, xem tivi, theo dõi phim ảnh hàng ngày, rồi lên giường ngủ. Cuối tuần Ba Mẹ phải đưa các cháu đi tập bơi, học võ, học nhạc, học thêm tiếng Việt...
Có khi nào các cháu phụ Mẹ dọn lại căn nhà cho gọn sạch. Phụ Ba thu gọn garage, lau chiếc xe cho Ba, hay cùng Ba tỉa cắt đám cỏ ngoài vườn, cùng anh em trong nhà chạy giởn trong sân cỏ sau nhà, ngắm nhìn, khen ngợi vườn bông Ba Mẹ trồng chăm sóc rất công phu?
Các cháu thân mến của cô, các cháu có bao giờ nghï là các cháu có phước hơn rất nhiều anh chị em cùng lứa với mình không? Không phải ai cũng có một gia đình hoàn hảo còn đủ cha mẹ, anh em. Ở quê mình, sau chiến tranh, rất nhiều gia đình rơi vào cảnh kẻ mất người còn rất đau thương. Nhất là, thời đó đàn ông chết nhiều ở mặt trận, phần lớn các trẻ em đều mất cha. Những người ấy, tuy mất cha, nhưng họ vẫn được Mẹ yêu thương, cũng được an ủi, không quá tội nghiệp như những người mồ côi hoàn toàn. Khi mất cha, họ đã mất phương hướng trong cuộc sống. Không ai dạy dỗ những việc trên đời khi gặp khó khăn mà người Mẹ không thể lo lắng chỉ bảo được. Thiếu cha, trẻ em dể bị người xấu hiếp đáp là việc rất đương nhiên. Thiếu cha, người con sẽ có cuộc sống thua sút hơn nhiều người. Người Việt mình có câu: "Còn cha gót đỏ như son", ý muốn nói, người có cha sẽ không bị khổ cực nhiều vì đã có cha gánh gồng hết việc nặng nhọc. Dù Mẹ có bảo bọc cách nào, cũng không bằng sức của người cha…
Các cháu à! Sở dï cô nhắc nhở các cháu nhiều về tình cha, vì ngày lễ của Các Người Cha sắp đến rồi. Các cháu phải luôn kính yêu cha mình! Các cháu phải biết, có rất nhiều người ước muốn có cha để được thương yêu mà không được. Có cha mẹ là một ân huệ của trời cao. Nhớ ơn và yêu thương, kính trọng cha mẹ là phúc đức cho chính mình chứ không phải cho cha mẹ mình đâu.
Cô thương chúc các cháu là những đứa con ngoan, biết yêu kính cha mẹ hết lòng của mình để xứng với ân huệ mà Thiên Chúa đã ưu đãi các cháu. Và nhớ làm một việc gì tốt hay tặng cha nụ hôn làm quà cho cha mình vào ngày Lễ Người Cha nha các cháu!
Cô Thể Xuân

Trở về mục lục >> |
 |
|
|
|
Bài 8: Gia
Đình; Cộng Đoàn Cầu Nguyện
1- Kinh Thánh: (Mt 7,7-11): 7Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ được mở cho. 8Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì sẽ thấy, ai gõ cửa thì sẽ được mở cho. 9Có người nào trong anh em, khi con mình xin cái bánh, mà lại cho nó hòn đá ? 10Hoặc nó xin con cá, mà lại cho nó con rắn ? 11Vậy nếu anh em là những kẻ xấu, mà còn biết cho con cái mình những của tốt lành, phương chi Cha anh em Đấng ngự trên trời, Người sẽ ban những của tốt lành cho những kẻ xin Người.
2- Suy tư: Việc cầu nguyện làm cho Con Thiên Chúa hiện diện giữa chúng ta, lời Chúa Giêsu hứa về sự hiện diện của Người có thể được áp dụng cho các thành viên của gia đình Kitô hữu một cách đặc biệt: “Thầy còn bảo thật anh em; nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời sẽ ban cho. Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì Thầy ở đấy, giữa họ” (Mt 18,19-20).
Lời cầu nguyện mở lòng chúng ta để yêu mến anh chị em: Quả vậy chức Tư Tế do phép Thánh Tẩy của các tín hữu được thi hành trong Bí tích Hôn Phối, làm nên nền tảng của một sứ vụ cho các đôi vợ chồng và các gia đình, nhờ đó đời sống hằng ngày của họ được biến đổi thành "lễ tế thiêng liêng được Thiên Chúa chấp nhận nhờ Đức Giêsu Kitô" (1Pr 2,5). Cộng đoàn Kitô hữu phải trở nên những "trường học" đích thực của việc cầu nguyện, nơi đó việc gặp gỡ với Đức Kitô không chỉ được diễn tả qua việc cầu xin trợ giúp nhưng còn qua lời tạ ơn, ca ngợi thờ phượng, chiêm ngưỡng, lắng nghe và lòng đạo đức sốt mến, cho đến khi tâm hồn thực sự ”si tình". Cầu nguyện thiết tha, vâng, nhưng điều đó không lôi kéo chúng ta để khỏi dấn thân trong lịch sử: Khi mở lòng chúng ta cho tình yêu của Thiên Chúa, nó cũng mở lòng chúng ta cho tình yêu đối với anh em, và làm cho chúng ta có khả năng uốn nắn lịch sử cho phù hợp với kế hoạch của Thiên Chúa.
3- Dạy con cái cầu nguyện: Cha mẹ Kitô hữu có bổn phận giáo dục con cái biết cầu nguyện, bằng cách hướng dẫn chúng từng bước khám phá mầu nhiệm Thiên Chúa và đàm thoại với Người: đặc biệt chính trong gia đình Kitô hữu, tràn đầy ân sủng và có nhiều trách nhiệm do Bí tích Hôn Phối mà ngay từ thời thơ ấu, con cái phải được dạy dỗ, phù hợp với đức tin đã nhận khi chịu phép Thánh Tẩy để có một hiểu biết về Thiên Chúa, phụng thờ Người và yêu mến người thân cận. Lời cầu nguyện của gia đình mang những đặc tính riêng của nó. Đó là lời cầu nguyện được cùng nhau dâng lên, người chồng và người vợ với nhau, cha mẹ và con cái với nhau. Hiệp thông trong lời cầu nguyện vừa là một hậu quả, vừa là một đòi hỏi của hiệp thông do các Bí Tích Thánh Tẩy và Hôn Nhân ban tặng. Gương sáng cụ thể và chứng tá sống động của cha mẹ là nền tảng không thể thiếu trong việc dạy cho con cái biết cầu nguyện. Chỉ bằng cách cầu nguyện chung với con cái mà một người cha, một người mẹ - khi thi hành chức tư tế, vương giả - mới có thể thâm nhập vào nơi sâu thẳm nhất của tâm hồn con cái và để lại một dấu ấn mà những biến cố tương lai trong đời sống của nó không thể xóa nhòa.
Điều thật có ý nghĩa là chính trong việc cầu nguyện, con người khám phá được, trong một cách thế rất đơn giản nhưng lại sâu sắc, nhân cách đích thực của mình: trong việc cầu nguyện, cái "tôi" nhân loại nắm bắt dễ dàng hơn chiều sâu phẩm tính nhân vị của mình. Điều đó cũng đúng với gia đình, nó không chỉ là một "tế bào" cơ bản của xã hội, nhưng cũng có một chủ thể tính riêng biệt. Chủ thể tính này tìm được sự xác nhận đầu tiên và cơ bản, và được củng cố, chính khi các thành viên của gia đình gặp gỡ nhau trong lời cầu khẩn chung: "Lạy Cha chúng con". Việc cầu nguyện gia tăng sức mạnh và sự hiệp nhất thiêng liêng của gia đình, bằng cách giúp cho gia đình tham dự vào "sức mạnh" của chính Thiên Chúa.
Việc cầu nguyện trong gia đình và kinh nguyện phụng vụ: Một mục đích quan trọng của kinh nguyện của Giáo hội tại gia là giúp dẫn đưa con cái đến kinh nguyện phụng vụ của toàn thể Hội Thánh. Vì thế, cần đến sự tham dự từng bước của tất cả các thành viên của gia đình Kitô hữu trong cuộc cử hành Bí Tích Thánh Thể, nhất là vào ngày Chúa Nhật và những ngày Lễ trọng, và các Bí Tích khác, đặc biệt các Bí Tích khai tâm Kitô giáo của con cái. Phụng vụ là cao điểm mà hoạt động của Hội Thánh hướng về: đó cũng là nguồn mạch mà từ đó tuôn trào tất cả sức mạnh của Hội Thánh. Vì thế đó là nơi đặc trưng để dạy giáo lư cho dân Chúa. Việc dạy giáo lư gắn liền cách mật thiết với toàn thể hoạt động Phụng vụ và Bí tích, nhất là trong Bí tích Thánh Thể, mà Đức Kitô Giêsu hành động cách viên mãn để biến đổi con người.
4- Trao đổi
a) Đâu là lợi ích của việc cha mẹ cùng cầu nguyện với con cái?
b) Đâu là mối tương quan giữa kinh nguyện trong gia đình và kinh nguyện Phụng vụ? Cả hai đều cần thiết?
(Trích tài liệu của Hội Đồng Giáo Hoàng về Gia Đình)
Lm. Irênê Nguyễn Thanh Minh, ofm
|
|

Trở về mục lục >>
 |
|
|
Đừng Kết Án!
Ngày ấy, tôi đến một vùng đất cồn nhỏ bé, nghèo nàn, heo hút. Cha xứ nơi ấy nhờ tôi hướng dẫn cho một số chị em phụ nữ nghề dệt chiếu, dệt thảm. Ngày đầu tiên gặp gỡ, tôi để ư đến một chị bởi bản tính hiền hậu, thiệt thà, chất phác của chị. Khi làm việc chung, tôi nhận thấy chị là người cần mẫn, chăm chỉ.
Tối đến, đi lòng vòng thăm viếng vài người quen. Khi đến nhà chị, tôi nhận ra một điều thật đau lòng đang xảy ra trong gia đình của chị ấy là người chồng chị rất "lười làm việc, mà siêng nhậu nhẹt". Khi rượu vào thì mọi lời xấu xa nhất tuôn ra và trút lên chị. Chị chịu đựng điều ấy gần mười lăm năm nay.
Sáng hôm sau, chị em chúng tôi gặp nhau tại chỗ làm, chị buồn hiu, mắt thâm quầng… Cả ngày hôm ấy, chị lặng lẽ với công việc như chiếc bóng. Và đêm ấy, khi lên giường, tôi lại nghe văng vẳng những lời bẩn thỉu của một người đàn ông không có trái tim đang nhục mạ vợ mình khiến lòng tôi đau nhói… Tôi thương chị nhiều hơn. Tôi cố chợp mắt và đi vào giấc ngủ muộn phiền.
Sáng hôm sau, khi Thánh Lễ vừa tan, tôi phải đi xa để tìm mua thêm một số vật liệu cho công việc. Đến chiều, từ bến đò bước lên, có một số người đứng lố nhố như đang chờ đợi ai, thì ra họ đang chờ tôi. Vừa gặp tôi bà con đã nhào đến la toáng lên: "Chị A chết rồi!" Chúa ơi! Tôi bàng hoàng đến ngớ ngẩn và đầu óc trống rỗng. Tôi không tin ở tai mình và người ta lôi tôi đi như chạy đến nhà chị ấy. Chị nằm đấy lặng lẽ, lặng lẽ như cuộc đời chị khi còn sống. Trên gương mặt đó vẫn còn những nỗi nhục nhằn của một đời làm vợ, và những lo toan của người mẹ yêu con.
Hai đứa con của chị đứng ôm nhau khóc thút thít, đứa mười ba, đứa sáu tuổi. Chồng chị ngồi đó, ôm đầu, cúi mặt… Tôi hét to lên giữa mọi người rằng: "Tại sao chị ấy chết?" Không ai trả lời, tôi hỏi hai đứa bé: "Tại sao mẹ con chết?" Hai chị em òa khóc to hơn. Đứa lớn mếu máo: "Tối hôm qua, cha nói mẹ lấy thằng C chó chết cạnh bên nhà, rồi lấy thằng H khốn nạn bên kia sông, đêm nào mẹ cũng đi lấy trai… Mẹ con im lặng chạy đi lấy cái chai gì đó để ở góc bếp, mẹ uống hết một chai, uống xong, mẹ nhào đến ôm hai đứa con vào lòng mà khóc, cha vẫn ngồi đó chưởi… Một lát sau mẹ con ngã xuống…" Nỗi uất hận của chị A từ đâu trào dâng trong lòng tôi, tôi giáng một tát tai nẩy lửa vào mặt người chồng vô tâm ấy. Anh ta ngã nhào xuống đất và vẫn im lặng như kẻ mất hồn. Hai đứa trẻ chợt nín khóc, hốt hoảng nhìn tôi, căn nhà đang lao xao chợt im bặt… Lần đầu tiên trong đời tôi đánh người, và tôi biết tôi đã sai! Cha xứ đứng sau lưng tôi tự lúc nào không rõ, Ngài khều nhẹ và bảo tôi đi về nghỉ ngơi. Tôi bước đi mà đầu óc quay cuồng, tâm trí bấn loạn…
Ngày xưa, người ta bắt quả tang người phụ nữ ngoại tình, người ta đưa chị đến trước mặt Chúa, rồi tìm đủ mọi cách để kết tội và muốn giết chị. Nhưng với Trái Tim của một người Thầy Nhân Hậu, với tấm lòng của một Người Cha Bao Dung. Thiên Chúa đã giải thoát chị và cho chị ra về, với lời nhắc nhở thật trìu mến chan chứa yêu thương: "Chị hãy về và từ nay đừng phạm tội nữa.” Thế đấy! Kẻ có tội, đứng trước mặt Chúa lại được tha bổng và trở về trong bình an. Ngày nay, người vô tội lại chết tức tưởi, đau thương vì những lời kết án oan nghiệt của những người tội lỗi.
Hỡi những ai là người, xin đừng bao giờ xét đoán và kết tội anh em mình. Vì xét đoán là việc của Thiên Chúa.
MK

Trở về mục lục >>
|
|
 |
|
|
THƯ CHO ÁO NÂU
Dòng Sông Mỉm Cười
Áo Nâu, Anh thân yêu!
Có một lần, vào giữa mùa Thu, mẹ dẫn em ra sông ngắm cảnh. Mẹ thỏ thẻ nhiều chuyện mà em nhớ không hết; nhưng em nhớ mãi câu kết khi mẹ dán vào trán em một nụ hôn đắm đuối là: "Con phải là một dòng sông trong lành, dòng sông luôn mỉm cười, và chỉ mỉm cười nha!" (Không hiểu tại sao mẹ em lại văn hoa như thế).
Rồi Thu qua, Đông về, Xuân đến, Hạ lại sang, ngẫm nghĩ tâm hồn em không được như mẹ dặn, vì có qúa nhiều bất ngờ. Có lúc em thấy cảnh hừng đông lạnh buốt; cũng có lúc em sống mùa Thu man mác "lá vàng rơi". Có lúc lại cảm nhận sự ngọt ngào của dòng chảy, của cỏ hoa phô bày muôn vẻ muôn màu. Nhưng cũng có lúc bị tình yêu thiêu đốt trong tim, em chỉ muốn mau chạy đến với Tình Yêu.
Ngày hôm ấy… (Em không định tâm sự với Anh, nhưng vì yêu nhau, không nên giấu nhau điều gì, và em cứ bị mê hoặc với những lời tâm sự với Anh, chẳng đặng đừng). Ngày hôm ấy, 04-10-2006, ngày Giỗ Tổ, anh chị em Phan Sinh Tại Thế qui tụ về Miền để tĩnh tâm trọn ngày và cùng kết thúc bằng một Thánh Lễ thật long trọng. Anh biết không? Suốt ngày hôm đó, tâm hồn em rất sốt sắng, mà cũng nhiều "dốc lòng". Nhưng chỉ có một điều mà anh phụ trách huấn luyện nói trùng hợp với ý tưởng của mẹ em về nụ cười. Em liền ghi vào cuốn sổ nhật ký của em: "Tôi sẽ mỉm cười", rồi em nói chuyện với Chúa tỉnh bơ: "Chúa ơi! Con biết Chúa đang bị con lừa dối, tưởng là con không biết đau khổ giữa đời thường, giữa những lầm than cay đắng, vì con chỉ thinh lặng và mỉm cười. Nụ cười của con cũng dễ yêu đấy chứ, có làm Chúa quên những sai lệch lỗi lầm của con không?" Thế là em sung sướng quá. Thế thì nụ cười cũng có quyền lực phi thường đấy chứ, nó xoa dịu được sự phiền muộn trong tâm hồn, phải không Anh?
Hơn nữa chính những bông hoa tươi thắm, những tàn cây bóng mát, những cánh đồng, chính con suối, dòng sông, mọi loài mọi vật đều hàm chứa nụ cười của Chúa. Nhưng thực ra -đối với em lúc này, trong đau khổ- để nghe tiếng Chúa rõ nhất, em chỉ có thể tìm trong tĩnh lặng, trong đêm khuya, hoặc khi ở một mình.
Em cảm thấy mình được Chúa nuôi dưỡng trong chông gai, trong lầm than cực nhọc, trong tủi hờn và trong cô đơn. Mỗi lần em vượt qua được một phút khủng hoảng, mỗi lần em thắng được một giây chao đảo, là em lại cảm thấy thật hạnh phúc, và như người điên, em lại nhớ nhung, yêu mến cả những đau khổ, những vất vả của đời thường; em ôm ấp chúng như những báu vật, chúng mài giũa cho tình yêu của em thêm bén nhạy, thêm bóng loáng. Em xót xa thay cho những ai suốt đời sung sướng, vị họ sẽ không có cơ hội tìm được Niềm Vui thánh thiêng như em.
Đường còn xa lắm Anh ơi, tương lai không biết sẽ ra sao nhưng phó thác vào tay Chúa, em quyết tâm đi đến cuối chặng đường.
Giờ này đây, trời đã sáng hẳn, sau một đêm khốn khổ vì tiếng trách móc than thở của người thân, em đang bước bên Dòng Sông Tư Tưởng. Một làn mưa nhè nhẹ nhắc em chuyện xưa bên người mẹ mà nay không còn sống bên em nữa. Ý nghĩa của Dòng Sông đánh động tâm hồn em. Dòng sông đón nhận quà của suối, rồi dâng trả về cho biển. Dòng sông lại có niềm vui mời biển ghé thăm, và hòa vào mình một ít mặn mà yêu thương đầm ấm rồi lại dâng lên, nhuộm vào thượng lưu những gì Biển hiến tặng. Anh là Biển Lớn, em là Dòng Sông. Em tin chắc Biển không bao giờ để Sông cạn đi.
Hơn một năm qua, hàng tháng đều đều em gởi thư tình cho Anh. Những lời tâm sự này có làm anh mất thì giờ không? Có đánh động Anh không? Còn em, em cứ muốn mỗi ngày lại gởi cho Anh một lá thư cơ! Anh nhận nơi em lòng chung thủy tuyệt đối. Nhé!
Kim Gương
GÓP NHẶT ĐÓ ĐÂY
Nói Sao Cho "Họ" Hiểu?
- Phải nói làm sao cho họ hiểu tôi?
- Đừng lo phải nói gì; hãy làm những gì cần làm để họ có thể hiểu bạn.
- Nghĩa là...
- Bạn muốn họ hiểu bạn như thế nào, thì hãy làm y như thế đó.
- Không cần nói, chỉ cần làm thôi ư?
- Vâng, hãy làm những điều đúng, điều tốt ngược với những gì họ đã làm, đã nói không đúng về bạn.
- Tại sao?
- Vì khi Bạn nói... họ sẽ không nghe. Khi họ không nghe, bạn càng nổi giận. Khi bạn nổi giận, nhiều người sẽ biết. Càng nhiều người biết, bạn càng bất lợi...
- Tôi hiểu.
- Vậy nhé; chẳng cần phải nói (dẫu là đính chính, phản đối, tranh cải, la mắng...) về những gì mà họ đã nói về bạn; Nhưng hãy làm những việc ngược với điều họ nói để mọi người sẽ nhận biết rằng: Bạn đã sống và hành xử hoàn toàn khác với những gì mà họ đã được nghe về bạn...
Phan-Antôn
VẦN THƠ PHAN SINH
Thánh Tâm; Nơi Con Nương Tựa
Thánh Tâm Chúa là nơi con an nghỉ,
Giữa trần đời mãi bương chãi hoài nghi
Vào những lúc nghe chùn chân mõi gối
Vội quay về bên Chúa bớt đơn côi.
Thánh tâm Chúa cho hồn con êm ái
Nỗi đau nào rồi cũng sẽ vượt qua
Biết tìm về nương tựa Bến Bao La
Ơn Chúa sẽ mãi muôn đời chan chứa
Con tự nhủ: lắng lo làm chi nữa.
Số phận nào rồi cũng sẽ xuôi tay
Chỉ Tình Cha là năm tháng không phai
Thánh Tâm Chúa muôn đời nguồn hạnh phúc
BB
Thánh Tâm; Nơi con Ẩn Náu
Con muốn khóc cho cuộc đời đen bạc
Con muốn cười cho lòng dạ đổi thay
Con muốn mình mãi mãi là người say
Để không thấy bao cảnh đời oan nghiệt
Trong cuộc sống mãi là người thua thiệt
Vậy mà đời cũng chẳng chút tình thương
Gieo vào đời biết bao mỗi tai ương
Con gục ngã bởi lòng người thâm độc
Con tìm mãi giữa cuộc đời xuôi ngược
Chút tình thừa cho đời bớt thương đau
Nhưng trần gian thuở trước vẫn như sau
Không thể có chẳng bao giờ có được
Con chợt hiểu, Thánh Tâm là Linh Dược
Chữa đời ai, từng dập nát tâm can
Trái Tim Cha dào dạt phúc Bình An
Vào ẩn náu, muôn đời đầy hạnh phúc
BB
Đêm Hè... Lặng Nghe...
Đêm hè... lặng nghe... Tiếng than của người hàng xóm, nhè nhẹ… nhè nhẹ…
Đêm hè… lặng nghe… Tiếng rao của em bé, não nuột vang xa… vang xa…
Đêm hè... lặng nghe... Tiếng rên khe khẽ, của lũ trẻ không nhà, co ro nơi góc phố… xót xa… xót xa…
Đêm hè... lặng nghe... Những giọng cười nắc nẻ, của bao kẻ "ăn sương", vang vang… vang vang... Thay cho tiếng lòng đang lặng lẽ… buồn thương… buồn thương…
Đêm hè... lặng nghe... Tiếng muỗi vo ve, thay cho tiếng ve, thay cho đời buồn tẻ, bởi cuộc đời quạnh quẻ, vì nghèo đói... cô đơn…
Đêm hè... lặng nghe... Tiếng rao đêm khàn đục của những em bé, hòa lẫn trong mưa… bởi cái nghèo đeo đẳng… đeo đẳng…
Đêm hè... lặng nghe... Tiếng rao đêm khò khè của mẹ, bởi có đôi mắt màu hạt giẻ… không còn nhìn thấy khoảng trời xanh… đang thoi thóp chờ mẹ… Bởi có những mảnh đời trẻ, nhưng bất lực trước tấm thân tật nguyền… cần miếng cơm, tấm áo, từ đôi vai gầy của mẹ… xốn xang… xốn xang…
Đêm hè... lặng nghe... Đêm hè... lặng nghe... Những tiếng than đầy nước mắt, của bao mảnh đời trôi dạt… Của bao mảnh đời lang thang… Như tiếng than đời tôi! Than ôi... than ôi...
BB
Hđđ PSTT Ysave Hungary Montréal, Canada
Huynh Đệ Đoàn Phan Sinh Tại Thế Ysave Hungary tại Montréal được thành lập ngày 13-06-1977, nhân ngày lễ kính Thánh Antôn Pađua.
Ngược dòng thời gian, từ năm 1975, làn sóng người Việt di dân bắt đầu đến Montréal định cư ngày một nhiều; trong số đó, có các chị đã gia nhập Dòng Ba Phanxicô (tên gọi cũ của Phan Sinh Tại Thế) tại Sài gòn là chị Têrêsa Trần thị Thủy, Maria Ngô thị Nhị và Têrêsa Trần thị Cơ.
Với lòng nhiệt thành của ba chị, và với sự trợ giúp của Cha Phanxicô Xaviê Trần Tử Nhãn, sau mỗi Thánh lễ Chúa nhật tại Đại Chủng Viện đường Sherbroke, các chị họp nhau lại để cầu nguyện, chia sẻ Lời Chúa, chia sẻ nếp sống trên quê hương mới theo Linh đạo Phan Sinh. Cha Nhãn là linh mục đầu tiên dâng Thánh Lễ mỗi tuần cho nhóm người Việt định cư tại Montréal, khoảng chừng hơn 20 người. Ch | |