Trong Số Này:
|
TÂM SỰ HẰNG THÁNG |
| |
Mừng Vui Lên! Lạy Nữ Hoàng Thiên Quốc |
|
KITÔ HỘC |
| |
LỜI CHÚA: Tôi Là Mục Tử Nhân Lành
GIÁO LÝ: Bài 66 Con Rắn Đồng
LỜI KINH: 800 Năm Hồng Ân
Mẹ |
|
PHAN
SINH HỌC |
| |
Vai Trò – Nhiệm Vụ của Thư Ký
Suy Tư Của ĐGH về 800 Lập Dòng Phan Sinh
|
|
NHÂN BẢN
HỌC |
| |
Bài 20: Hai Bí Tích Cột Trụ Của Gia Đình |
|
NHỮNG BÀI ĐỌC THÊM |
| |
hư Áo Nâu: Niềm Vui Phục Vụ
Chúa Thánh Thần
Viết Cho Em
Báo Động! Về Cuộc Bầu Cử Đặc Biệt
Hình Ảnh Mẹ
Con Tìm Chúa; Chúa Ở Đâu?
Kén Rễ Phan Sinh |
|
CÙNG CẦU NGUYỆN |
| |
Tâm Tình Tạ Ơn
Xin Ơn Chữa Lành Thể Xác
Xin Ơn Chữa Lành Tâm Hồn
Xin Cầu Nguyện Theo Ý Đặc Biệt
Xin Cầu Nguyện Cho Các Linh Hồn |
|
TIN NỘI BỘ |
| |
Tin Tức Của Hội Đồng Phục Vụ Miền
Tin Tức Của Hội Đồng Trợ Úy Miền
Tin Tức Của Hđđ Antôn, San Diego
Tin Tức Của Hđđ Agnes, Westminster
Tin Tức Của Hđđ Clara, Santa Ana
Tâm Tình Của Ban Biên Tập
Chủ Đề Của Tháng 06-2009
|
|
|
|
Mừng Vui Lên! Lạy Nữ Hoàng Thiên Quốc
Thưa quí anh chị,
Giáo hội dành trọn tháng năm để tôn kính Đức Maria. Chủ nhật ngày 10 tháng năm là ngày mà người dân Hoa Kỳ vinh danh người mẹ. Như vậy không ai trong chúng ta đều có mẹ, và cần đến mẹ, ngay từ lúc chào đời, lúc gặp nguy khốn, đau buồn… chúng ta vẫn thường gọi "mẹ ơi". Đó là một nhu cầu.
Cha Thánh Phanxicô cũng đã thừa hưởng của mẹ một tâm hồn nhân hậu. Khi nghe người ta bàn tán về lối sống hoang đàng của Phanxicô, bà Pica, mẹ của Cha Thánh đã lên tiếng bênh vực: "Vâng, nhưng rồi các ngài sẽ thấy thằng con tôi có ngày làm đẹp lòng Chúa". Sau khi tìm được nghĩa phúc âm, đi xây lại nhà thờ Đamiano, trở về Phanxicô bị cha giam cầm trong phòng và chính mẹ ngài đã can đảm trái lời lời chồng, mở cửa phòng giam, trả lại tự do cho Phanxicô đi theo con đường Chúa gọi. … và ngay cả chính Thiên Chúa cũng cần có mẹ.
Thiên Chúa đã cần có một người mẹ, và Ngài đã tạo ra cho mình một bà mẹ. Khi trở thành người, Ngài đã muốn sinh ra từ bà mẹ đó. Thiên Chúa đã nghĩ đến và đã chuẩn bị cho mẹ mình trước khi mẹ sinh ra. Ngài đã muốn rằng mẹ phải toàn thiện và vô nhiễm.
Và thế là giờ đây Thiên Chúa có một người mẹ. Ngài đã trở thành người như chúng ta, và tên Ngài là Giêsu.
Thiên Chúa đã trao ban cho mẹ mình đầy tràn đầy ơn phúc và vẻ đẹp. Gương mặt của mẹ rực rỡ hơn mặt trời. Đôi mắt của mẹ đẹp hơn ánh sao. Bà mẹ đó của Thiên Chúa đã sống trên trần gian này cho đến khi con Thiên Chúa trở về cùng Cha. Thế rồi mẹ cũng qua đời và được cất nhắc lên trời cả hồn lẫn xác, như thế là một lần nữa trên trời, Chúa Giêsu Kitô cũng lại cần đến một bà mẹ. Và từ đó Chúa Kitô đã làm cho mẹ trở thành Nữ Vương của toàn vũ trụ.
Giả sử có người nào bảo đảm với chúng ta rằng chúng ta sẽ gặp được Mẹ của Thiên Chúa, nếu đi đến một hòn đảo xa xôi kia, thì chắc chỉ trừ một số ít người ra, còn ai cũng muốn tìm đến hòn đảo đó, để được gặp gỡ và chuyện vãn với người đàn bà ấy. Ngày nay với các phương tiện di chuyển tân tiến, thì chúng ta sẽ lấy ngay vé máy bay, và chắc là ai cũng muốn tìm gặp Mẹ Thiên Chúa.
Nhưng trái lại người Mẹ đó biết bạn. Bạn ngạc nhiên không tin được, cả khi bạn biết rằng Thiên Chúa không làm việc gì nửa vời cả. Và chắc chắn là bạn thích thú nghĩ đến sự thật Mẹ Thiên Chúa biết bạn. Phải, khi Chúa Kitô và Mẹ Ngài còn sống trên trần gian này, cả hai người đã nói đến bạn. Chính vì bạn mà Chúa Kitô đã chết treo trên thập giá và Mẹ Ngài phải âu sầu đau đớn tan nát trong lòng. Trong những giờ phút hấp hối đó, trước khi tắt thở, Chúa Giêsu đã gọi tên Mẹ và nhìn môn đệ Gioan rồi nói: "Này là con bà", và nói với Gioan: "Này là Mẹ con". Trong giờ phút trối trăn ấy, Chúa Giêsu cũng đã nghĩ tới bạn. Và thế là Mẹ Maria trở thành Mẹ của chúng ta, trở thành mẹ của bạn.
Người anh em của tôi ơi, giờ đây lẽ nào bạn có thể không nghĩ đến người Mẹ đó của bạn hay sao? Từ ngày nhận lời trối trăn dưới chân thập giá đó, MẸ đã yêu thương bạn với tất cả con tim hiền mẫu. (Trích trong "Một Phút Cho Bạn" của linh mục Gabriele Adani - được chuyển dịch bởi Lm Giuse Hoàng Minh Thắng. xuất bản tại San Jose, California)
Mừng vui lên, lạy Nữ Hoàng Thiên quốc - Ha-le-lui-a!
Vì Thánh Tử Bà được phúc cưu mang - Ha-le-lui-a!
Đã phục sinh như lời Người phán trước - Hal-le-lui-a!
Cầu Chúa cho đoàn con, lạy Nữ Hoàng. - Hal-l ê-lui-a!
(Regina Caeli)
â
Nguyễn Ngọc Bạch, sfo
BBT
|

Trở về mục lục >>
|
|
|
|
LỜI CHÚA: Tôi Là Mục Tử Nhân Lành
(Gioan 10:11-18 – CN IV PS - B)
11 Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.12 Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn, 13 vì anh ta là kẻ làm thuê, và không thiết gì đến chiên.14 Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi,15 như Chúa Cha biết tôi, và tôi biết Chúa Cha, và tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. 16 Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử. 17 Sở dĩ Chúa Cha yêu mến tôi, là vì tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại.18 Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ư hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được."
1.- Ngữ Cảnh
Bài Diễn từ về Cửa chuồng chiên và người Mục tử (Ga 10,1-21) vừa chấm dứt các Diễn từ dịp Lễ Lều vừa đưa vào Diễn từ dịp Lễ Cung hiến Đền thờ. Bản văn có thể được phân bố tổng quát như sau:
1) Các dụ ngôn (10,1-5);
2) Phản ứng của người Do-thái (10,6);
3) Các giải thích:
a) Cửa (10,7-10),
b) Người mục tử (10,11-18);
4) Phản ứng của người Do-thái (10,19-21). Hôm nay, chúng ta đọc phần giải thích Người mục tử (10,11-18).
2.- Bố Cục
Bản văn có thể chia thành hai phần:
1) Người mục tử đích thật (10,11-13);
2) Người mục tử ưu việt (10,14-18).
3.- Vài Điểm Chú Giải
- nhân lành (11): Hy-ngữ có hai từ để nói là "tốt": (1) agathos mô tả đức tính luân lư của một cá nhân được coi là tốt; (2) kalos , cũng có thể dịch là "đẹp”, thêm vào yếu tố "tốt" một nét nói lên sự thu hút và đồng cảm. “Từ “nhân lành" hay "tốt" ở đây là tính từ kalos .
- hy sinh mạng sống (11): Dịch sát là "đặt/hạ mạng sống xuống” (cc. 11.15.17). Đây là công thức của Gioan (13,37; 15,13; 1 Ga 3,16). Theo ngữ cảnh, công thức này tương đương với các công thức của Tin Mừng Nhất La?m , "hiến mạng sống" (Mt 20,28; Mc 10,45).
- chiên của tôi (14): Đức Giêsu có thể nói các con chiên là của Người vị Chúa Cha đã ban họ cho Người (x. 6,37.44.65; 17,6-7).
- một đoàn chiên và một mục tử (16): Ghi chú một chọn lựa thú vị của cha R.E. Brown trong bản dịch Anh ngữ: có thể dịch "một đoàn chiên" là "a flock of sheep", nhưng cha Brown dịch là "one sheep herd" đi với “one shepherd” để giữ cho tương ứng với poimnê (sheep herd, flock) và poimên (shepherd).
- Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy (18): Chúng ta ghi nhận cách viết của tác giả nhằm nhấn mạnh: từ "quyền" được dùng hai lần và đặt ở đầu câu, tạm dịch là "quyền tôi có / để hy sinh mạng sống, và quyền tôi có / để lấy lại mạng sống”.
4.- Ý Nghĩa Của Bản Văn
Trong truyền thống Cựu Ước, hình ảnh mục tử và con chiên là một hình ảnh quá quen thuộc để nói về tương quan giữa Thiên Chúa và Dân Ngài tuyển chọn, tức Israel. Người nói: "Tôi chính là Mục Tử nhân lành" (cc. 11.14). Lời Thiên Chúa hứa đã nên hiện thực, nhưng vượt quá mọi chờ đợi. Đức Giêsu làm điều mà không mục tử nào làm, cho dù là mục tử tốt: "hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên" (5 lần: cc. 11.15.17.18 [2x]). Giữa Người và đoàn chiên, có một sự hiểu biết hổ tương chứng tỏ một dây liên kết rất thân tình giữa Đức Giêsu và đoàn chiên (c. 14) cũng như giữa Đức Giêsu cùng đoàn chiên với Chúa Cha (cc. 15.18).
Các lời Đức Giêsu nói về người mục tử tốt lành được triển khai tiệm tiến, đưa các độc giả đến chổ có một cái nhìn rộng lớn về công trình của Đức Giêsu: mầu nhiệm Vượt Qua và sự hy sinh chính bản thân Người.
* Người mục tử đích thật (11-13)
Đức Giêsu là "Mục tử nhân lành", cũng có nghĩa là "Mục tử xinh đẹp”. Điểm này gợi ý rằng Đức Giêsu không chỉ là người làm việc có hiệu năng (điều hành) nhưng Người còn có một nhân cách xinh đẹp toàn diện và duyên dáng hấp dẫn. Cộng với tài lãnh đạo đầy uy lực và hiệu năng của Người, điều làm nên tư cách Mục Tử nhân lành của Người chính là tình yêu và khả năng đồng cảm của Người.
Người có một cảm thức về trách nhiệm: "các chiên thuộc về Người" (x. c. 12). Chính vị thế, Người đáng tin cậy, và sẽ chu toàn nhiệm vụ hết sức mình. Vào thời Đức Giêsu, người ta có thể nói "nghề chăn chiên" là một "ơn gọi" chứ không chỉ là một kế sinh nhai. Một người mục tử như thế thì không có mối bận tâm nào khác ngoài các con chiên; buổi sáng, khi thức dậy, người ấy vui sướng tìm đường đến với đoàn chiên. Còn những ai làm mục tử chỉ vị chẳng đặng đừng, họ không coi trọng trách nhiệm đối với đoàn chiên, họ chỉ là "người làm thuê" (c. 12). Ngược lại với người làm thuê, người mục tử nhân lành coi các con chiên như chính mình nên cũng không chờ đợi được trả công. Người nào làm việc chỉ để được trả lương dựa trên công việc của mình thì chỉ nghĩ đến tiền bạc, và khi không có tiền bạc hay thứ tương tự bù lại, thì họ bỏ việc. Còn ở đâu có cảm thức về sự “thuộc-về”, ở đó cũng có tình yêu, và ở đâu có tình yêu, ở đó người ta ui sướng làm việc dù không được trả công.
Động lực căn bản hướng dẫn người mục tử nhân lành là tình yêu, và người nào yêu thì trước tiên muốn ban tặng, chứ không muốn đón nhận. Tình yêu chân thật có nghĩa là sẵn sàng thâm chí hy sinh cả mạng sống mình (x. Ga 15,13).
Sự dấn thân không biên giới của người mục tử nhân lành nhằm đưa lại sự sống: "tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào" (c. 10). Sự dấn thân này không có giới hạn: cách thức Người làm việc để có sự sống là Người ban tặng chính sự sống của Người: "Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên" (c. 11). Người mục tử đích thực không ngần ngại chấp nhận những phiêu lưu, rủi ro, chấp nhận hy sinh cả mạng sống, để cứu con chiên khỏi bất cứ mối nguy hiểm nào đang đe dọa chúng. Điều này có nghĩa là người mục tử nhân lành không tháo lui, cho dù khi mạng sống của mình bị đe dọa. Người mục tử nhân lành yêu thương con chiên hơn chính mình, và tình yêu này thúc bách Người làm mọi sự cho chúng ta.
* Người mục tử ưu việt (14-18)
Đến đây, đề tài được đào sâu hơn nữa: phân đoạn này mô tả vẻ đẹp nơi nhân cách, hoặc đúng hơn, của linh đạo của người mục tử nhân lành, bí mật thâm sâu của Người, để trả lời cho các câu hỏi: Hy sinh mạng sống nghĩa là gì? Sự sống này hệ tại điều gì? Nó đưa tới đâu? Sự hiến mình của người mục tử dựa trên nền tảng nào? Nói cách khác, phân đoạn này triển khai nội dung của mối tương quan của người mục tử nhân lành với đoàn chiên.
Một tương quan đầy say mê (cc. 14-15). Tương quan của người mục tử nhân lành với con chiên là một tương quan không lạnh lùng, thể lý, vô nghĩa. Trái lại nó mang dáng vẻ một tương quan thân ái nhất, riêng tư nhất: tình hiệp thông của Chúa Cha và Chúa Con (x. Ga 1,1-3 và 1,18): "Như Chúa Cha biết tôi…" (c. 15). Thái độ của Đức Giêsu mang dấu ấn là tương quan của Người với Chúa Cha. Chúa Cha và Chúa Con biết nhau sâu xa, sống một cuộc sống trong tin tưởng lẫn nhau, trân trọng nhau, yêu thương nhau thắm thiết. "Tôi biết chiên của tôi…" (c. 14): Nếu tương quan của Đức Giêsu với chúng ta là kiểu này, chúng ta có thể hiểu rằng tương quan của người mục tử là nồng nàn, say mê, bừng cháy. Và nếu đó là cách Người ở với chúng ta, thì chúng ta cũng phải quan hệ với Người như thế: "chiên của tôi biết tôi" (c. 14b). Tác giả nói đến “biết” thay vị tình yêu, bởi vị "tình yêu" hệ tại việc "biết" riêng. Đối với Đức Giêsu, vị Mục Tử nhân lành, chúng ta không phải là những con số; Người biết lịch sử đời ta, các vấn đề, các khiếm khuyết của chúng ta, nghĩa là tất cả các đặc điểm và phẩm chất của chúng ta. Bởi vị Người biết chúng ta, Người yêu thương chúng ta. Điều này có nghĩa là Người chấp nhận chúng ta trong hiện trạng, và đưa chúng ta vào hiệp thông trọn vẹn với Người. Nhưng cần phải thấy mặt bên kia: đối với chúng ta, “Giêsu" không được chỉ đơn giản là một cái tên; chúng ta phải càng ngày càng biết Người hơn, như "những con chiên tốt, đẹp”, và phát triển một tương quan với Người, một tương quan mang dấu ấn là một tình yêu sâu sắc và trung thực.
Tương quan với Đức Giêsu, Mục Tử nhân lành, là tương quan hiệp thông thâm sâu. Người mục tử nhân lành không giữ thế cách biệt với chúng ta; Người không muốn chúng ta cứ mãi bé nhỏ và thiếu chín chắn. Như thế, chúng ta cứ phải ngày càng nên chín chắn cho đến khi có thể đi vào hiệp thông riêng tư với Người.
Một tương quan dành chổ cho mọi người (c. 16). Sự hiệp thông được thiết lập với Đức Giêsu bắt đầu dần dà nắm lấy mọi tương quan của chúng ta và có mục tiêu là một cuộc sống được kết hợp (với tất cả các dạng cũng như những nét phức tạp của nó) trong tình yêu của Đức Giêsu. Tình yêu giả thiết có "hiểu biết", nhưng sau này, sẽ xuất hiện một sự hiệp nhất vượt trên các khác biệt, bởi vị tình yêu thì "kết hợp".
Sự nhiệt thành và quan tâm của Đức Giêsu-mục tử không giới hạn vào dân Israel. Công việc Người đã nhận từ Chúa Cha là lo lắng chăm sóc toàn thể nhân loại, làm cho thành một đoàn chiên duy nhất, một cộng đoàn gồm những người tin vào Người. Nói cho cùng, đó chính là sứ mạng của Người. Không một ai bị loại khỏi sự quan tâm của Người, và như thế, sự hiện diện của tình yêu Thiên Chúa nơi Người là để cho mọi dân tộc. “Đoàn chiên duy nhất" này mang hai chiều kích lịch sử chính yếu: (1) chiều đứng liên kết quá khứ, hiện tại và tương lai (cộng đồng Israel, cộng đoàn Nhóm Mười Hai, cộng đoàn tất cả các tín hữu tương lai); và (2) chiều ngang, nối kết các nhóm tín hữu khác nhau trong Đức Kitô, nhưng cũng đi đến với tất cả những người không tin.
Qua Đức Giêsu, là Mục Tử duy nhất, và qua sự hiệp thông với Người, mọi dân tộc (và mọi cộng đoàn) được kêu gọi trở thành một cộng đoàn lớn duy nhất. Sự hiệp thông này là công trình của Người, chứ chúng ta, dù có tạo ra thứ liên minh nào, vẫn không đạt tới bằng sức của mình được. Chúng ta sẽ có khả năng sống thành cộng đoàn bao lâu chúng ta còn đưa mắt nhìn vào Đức Giêsu, vị Mục Tử duy nhất. Tính chất cao quý của mỗi mục tử nhân loại sẽ được đo lường theo khả năng người ấy tạo được sự hiệp nhất tại nơi người ấy hiện diện – một sự hiệp nhất không tập trung quanh người ấy nhưng quanh Đức Giêsu.
Sự trung thành là gốc rễ của tình yêu mê say và hiệp nhất của người mục tử nhân lành (cc. 17-18). Những lời dạy về người mục tử nhân lành kết thúc với một cái nhìn chiêm ngưỡng sâu sắc về "mầu nhiệm Vượt Qua". Buổi chiều cuộc đời người mục tử nhân lành, vinh quang cũng như sự viên mãn của thời khắc này là le? dâng cuộc đời Người trên thập giá, vào giờ của lòng trung thành. Tiêu chuẩn cuối cùng này của sự ưu việt của người mục tử được liên kết với tiêu chuẩn trước (sự hiệp nhất). Chúng ta ghi nhận là đến cuối c. 15, có lời “tôi hy sinh mạng sống” để đưa sang c. 16 nói về mục tiêu của người mục tử nhân lành là kiến tạo một đoàn chiên duy nhất; rồi mở đầu c. 18, lại có lời “tôi tự ư hy sinh mạng sống”. Đây là cấu trúc "đóng khung” để nói rằng chính là khi hy sinh mạng sống trên thập giá, mà Đức Giêsu kiến tạo được “sự hiệp nhất vĩ đại” này. Bởi vị Người chết chắc chắn "không chỉ thay cho dân mà thôi, nhưng còn để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối” (Ga 11,52).
Nhưng nếu chúng ta nhìn vào cc. 17-18, chúng ta lại ghi nhận rằng ghi chú về Thiên Chúa Cha "đóng khung” các câu 17 và 18: "Chúa Cha yêu mến tôi …" và "đó là mệnh lệnh của Cha mà tôi đã nhạn được”, trong đó nói ba lần đến việc “hy sinh mạng sống”. Tương quan của Đức Giêsu với Chúa Cha giải thích sự trung thành của Người và sự trung thành chính là nét làm cho Người là người mục tử ưu việt. Sự trung thành này được nâng đỡ bởi nền tảng là tình yêu của Chúa Cha, được sống cách tự do và được diễn tả ra trong sự vâng phục. Sự trung thành này nên hình nên dạng trong hành vi "hiến tặng [hy sinh]" và "đón nhận [lấy lại]”, trong sự “tự chủ” (tôi có “quyền”) và "trách nhiệm" (Người hành động cho, hành động nhân danh), và trong việc lắng nghe (= tuân giữ) mệnh lệnh và đáp trả (vâng phục: “tôi đã nhận được”).
Câu 18 có thể được coi như đỉnh cao của bản văn. Đức Giêsu nói: "Chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình", rồi Người nói tiếp: "Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy". Nói cho cùng, "quyền" của Đức Giêsu (được dùng 2 lần để nhấn mạnh) được Người thực thi trong hành vi trách nhiệm là "hiến mình". Như tất cả mọi điều khác, hành vi này được nâng đỡ bởi tình yêu làm nền của Chúa Cha, nơi Người Đức Giêsu nhận được mọi sự (sự sống luôn luôn là một điều nhận được) và là Đấng Người được liên kết với bằng một tình yêu duy nhất (gốc rễ của đời sống Người là một tình yêu chín muồi: tình yêu này là một với tình yêu của Đấng mà Người yêu mến). Đây là ý thức sắc bén của Đức Giêsu trên thập giá, ý thức Người có vào thời điểm cao vời khi mà Người hiến tặng "sự sống dồi dào" cho mọi con chiên. Mọi sự đều dựa trên chổ này.
+ Kết luận
Bản văn này, với giọng văn đơn giản nhưng chắc nịch, đã cho chúng ta khám phá ra Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, là Đấng mạc khải tình yêu tại nguồn, là Đấng đưa lại ơn cứu độ trọn vẹn, Đấng cung cấp ánh sáng và sự sống. Nơi bản thân Đức Giêsu, chủ đề cổ xưa về Thiên Chúa Mục Tử của Cựu Ước nay đã được trẻ-hóa cách tuyệt vời và được hoàn tất vượt quá mong ước mong.
5.- Gợi Ý Suy Niệm
1. Nói tới "mục tử" là nói tới tương quan. Trong xã hội Israel cổ thời, tương quan giữa mục tử và đoàn chiên không chỉ là một vấn đề lợi ích kinh tế, dựa trên các sản phẩm các con chiên cung cấp để mục tử sử dụng mà nuôi sống mình và gia đình: len, sữa, thịt, tiền bạc, v.v. Nói cách khác, đây không chỉ là một tương quan sở hữu. Trong thế giới Kinh Thánh, giữa mục tử và đoàn chiên có một tương quan hầu như riêng tư. Ngày qua ngày, các mục tử và đoàn chiên sống với nhau tại các nơi hoang vắng, chỉ có nhau chứ không có gì chung quanh. Do đó, chẳng mấy chốc, người mục tử biết rõ từng con chiên, và mỗi con chiên nhận biết tiếng nói của mục tử, và dễ dàng phân biệt với tiếng của người khác.
2. Chính vị tương quan giữa mục tử và đoàn chiên là một trong những tương quan gần gụi nhất mà một người Israel có thể thấy trong cuộc sống hằng ngày, ta hiểu vị sao Thiên Chúa đã sử dụng biểu tượng này để mô tả tương quan của Người với Dân tuyển chọn và với toàn thể nhân loại. Chúng ta nghĩ đến Tv 23. Kiểu tương quan này trở thành mẫu mực cho các nhà lãnh đạo (vua chúa, tư tế, ngôn sứ): như Thiên Chúa, họ phải chu cấp sự an toàn và che chở cho Dân. Chúng ta cũng có thể nhớ tới những lời Thiên Chúa trách các nhà lãnh đạo qua miệng ngôn sứ Êdêkien (ch. 34).
3. Trách nhiệm lớn của một mục tử là đời sống của con chiên. Tiêu chuẩn giúp phân biệt một mục tử tốt với một mục tử xấu là ý thức về trách nhiệm. Người mục tử bên Paléttina hoàn toàn chịu trách nhiệm về đoàn chiên của mình: nếu có chuyện gì xảy ra với dù chỉ một con chiên mà thôi, người ấy phải chứng minh là không do lỗi mình. Ý thức về trách nhiệm này được minh họa bởi hai đoạn Kinh Thánh: Am 3,12; Xh 22,9-13. Nói tóm, người mục sống hoàn toàn cho con chiên, anh chiến đấu dũng cảm để bảo vệ chúng khỏi thú dữ và còn sẵn sàng hy sinh mạng sống (x. Đavít: 1 Sm 17,34-35).
4. Lòng nhiệt thành của người mục tử chính là tình yêu làm tuôn trào sự sống. Như Tv 23 cho thấy, người tín hữu thời Kinh Thánh thấy nơi hình ảnh người mục tử dung mạo đích thật của Thiên Chúa: Tình yêu của Người, sự quan tâm, tình yêu hy sinh cho nhân loại. Nếu họ vững vàng đối phó với các thử thách của cuộc đời, là vị họ bám vững vào Thiên Chúa. Trong tâm trí và trong tim họ, họ xác tín rằng như mục tử tốt lành, Thiên Chúa dám làm mọi sự vị họ; Thiên Chúa luôn trông chừng trên họ, luôn luôn chiến đấu bên cạnh họ (x. Is 31,4; Ed 34,16).
5. "Tôi biết chiên của tôi …, như Chúa Cha biết tôi". Con người phải đau khổ vị không được ai hiểu biết sâu xa. Thế mà Đức Giêsu lại nói rằng Người biết con người bằng một sự hiểu biết tương đương với sự hiểu biết nhờ đó Chúa Cha biết Con. Đây lại là một sự hiểu biết trong tình yêu. Như thế, con người sẽ không còn cảm thấy cô đơn và sợ hãi vị Đấng biết họ trọn vẹn lại không kết án họ, nhưng yêu thương họ bằng một tình yêu trọn vẹn và cứu chuộc. Đã được yêu thương như thế, chúng ta có trách nhiệm đối với anh chị em chúng ta: chúng ta cũng phải yêu thương anh chị em mình đến mức sẵn sàng hy sinh mạng sống cho họ, theo gương Đức Giêsu.
â
Lm. F.X. Vũ Phan Long, ofm
GIÁO LÝ: Bài 66 Con Rắn Đồng
(Ds 21:4-9)
Một thế hệ mới của dân It-ra-en xuất hiện, nhưng họ vẫn là một dân tộc hay phản loạn giống như cha ông họ; Cũng như nhiều câu chuyện khác đã được kể trong thời gian hành trình qua sa mạc, câu chuyện con rắn đồng này đã được kể lại theo một lược đồ gồm bốn điểm: phản loạn, hình phạt, lời chuyển cầu và ơn tha thứ.
Khi dân It-ra-en rời bỏ núi Ho và phải đi vòng quanh lãnh thổ nước E-đom, thì họ mất hết kiên nhẫn, một lần nữa họ phàn nàn vì thiếu lương thực và nước uống, và họ lại ao ước được trở về đất Ai-cập.
Gia-vê liền nổi giận và cho rắn độc bò ra cắn chết nhiều người, dân It-ra-en lại xưng thú tội mình và xin ông Mô-sê chuyển cầu, để Thiên Chúa cho rắn độc rời xa khỏi Dân. Ông Mô-sê liền chuyển cầu; Bấy giờ Thiên Chúa ra lệnh cho ông đúc một con rắn đồng, rồi treo lên một cây cột, những ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đồng, thì được sống.
Việc được chữa lành phát xuất từ sự tuân phục và niềm tin vào quyền năng của Thiên Chúa; Đó là lần cuối cùng trong sa mạc dân It-ra-en đã phản loạn và rồi lại được tha thứ.
Sau này Đức Giê-su có lần tự so sánh mình như con rắn đồng được dương cao, để trở thành phương thế cứu độ cho toàn thể nhân loại (Ga 3, 14-15). (Còn tiếp)
â
Lm. Norbert Nguyễn Văn Khanh, ofm
LỜI KINH: 800 Năm Hồng Ân
Thánh Thần nguồn mạch yêu thương
Xin Ngài soi dẫn trên đường dương gian
Ngôi Ba ban phúc bình an
Xác hồn, huyết mạch, tâm can dạt dào
Thánh Linh Thần Khí thổi ào
Cuốn trôi tội lỗi đi vào chốn xa
Con thơ hồn cất tiếng ca
Tạ ơn Thiên Chúa Ngôi Ba cao vời
Giờ đây quỳ kính dâng lời
Cầu xin nhuần thắm ơn Người, Người ơi!
Khôn Ngoan, Hiểu Biết không vơi
Thông Minh, Lo Liệu cuộc đời mai sau
Con nay còn những ước ao
Hồn thiêng Mạnh Sức, ba đào vượt qua
Đời con Đạo Đức trổi xa
Sấp mình Kính Sợ Chúa Cha muôn đời
Con thơ dâng bấy nhiêu lời
Đơn sơ khấn nguyện đổi đời từ đây
Dẫu gian nan chẳng đổi thay
Dẫu muôn cay đắng vẫn say Tình Người!
â
Bồ Câu Trắng
Mẹ
Hồng thiêng nở khắp đất trời
Mẹ hiền chờ đợi con thơ hái về
Nhưng đời con mãi đam mê
Bạc tiến, danh vọng tư bề phủ vây
Hôm nay khi tỉnh khi say
Hôm mai lại cứ miệt mài rong chơi
Hồn thơ ở giữa mù khơi
Hoa thiêng tàn héo bởi nơi lòng này
Yêu con Mẹ chẳng ơ hờ
Đôi tay giang mãi đợi chờ con yêu
Mẹ mong tình Chúa cao siêu
Khai thông tâm trí con yêu quay về
Con về đi hái hoa thiêng
Hoa thiêng chỉ nở nơi miền yêu thương
Hoa thiêng sẽ tỏa muôn hương
Nếu con biết sống can trường hy sinh
Mẹ ơi con muốn đóng đinh
Thân mình nơi Thánh Giá in hình Thầy
Dẫu cho gầy guộc thân này
Vẫn xin ơn biết quên mình từ đây
Cho con tình mãi ngất ngây
Vui theo năm tháng mê say tình người
Hoa thiêng chợt nở giữa đời
Mẹ yêu nhìn ngắm mĩm cười cùng con
â
Maria
|
|

Trở về mục lục >>
Vai Trò – Nhiệm Vụ của Thư Ký
A.- Vai trò anh chị thư ký trong Hội Đồng :
Trong Hội Đồng anh chị thư kư có một vai trò rất quan trọng. Ở cấp Miền, anh chị thư ký là thành viên của ban thường vụ, làm việc thường xuyên, và làm những việc thường nhật. Ở cấp địa phương, anh chị thư kư là thành viên của Hội đồng, (vì không có BTV). Vai trò của anh chị thư ký quan trọng vì ở thời đại nầy, con người tiến đến văn minh giấy tờ. Các thông tin, các thông báo, những quyết nghị của Hội Đồng đều phải được xuất phát từ anh chị thư kư như ta sẽ nói ở mục B sau đây. Vì thế đòi hỏi anh chị thư ký có nhiều khả năng cũng như lòng nhiệt thành trong công việc. Có thể nói rằng anh chị thư ký là người làm việc thường xuyên nhất cho huynh đệ đoàn, điều suy nghĩ ấy không quá đáng.
B.- Nhiệm Vụ Của Thư Ký:
THC điều 52.2 nói đến trách nhiệm của thư kư: Chúng tôi xin tóm lược trong 2 tiểu mục sau:
1. Công Việc Thường Nhật:
52.2a: Soạn thảo các văn kiện chính thức và gởi đến các người liên hệ.
52.2b: Cập nhật hoá – bảo quản các tài liệu sổ sách, cập nhật các thay đổi về nhân sự trong huynh đệ đoàn như các anh chị mới Nhập Gia, Tuyên Khấn, và anh chị em qua đời, người rút lui, người thuyên chuyển. (lập sổ danh bộ)
52.2c: Bảo đảm những thông tri về những sự kiện quan trọng cho các cấp khác nhau, và nếu có thể thì phổ biến bằng những phương tiện truyền thông thích hợp (báo chí, thư liên lạc – Trong Miền Phan Thiết mỗi tháng có trang thông tin dành riêng cho Miền gởi kèm tờ HĐPS, vậy Anh chị thư kư có thể tận dụng điểm nầy mà làm tròn nhiệm vụ mình.)
2. Công Việc Trong Buổi Họp
Thư ký lập biên bản các buổi họp, biên bản của buổi họp là những chứng từ của quyết nghị; Vì vậy biên bản phải viết rõ ràng, trung thực, chính xác và súc tích. Trước lúc bế bạc phải đọc lại cho cử toạ nghe và sửa chữa nếu có sai sót. Sau đó phải kư tên vào biên bản, có chữ ký của anh chị chủ toạ. Việc linh hoạt (hoạt náo) buổi họp không phải của thư ký, nên để việc ấy cho anh chị khác. Còn chủ toạ buổi họp phải là anh chị phục vụ hoặc anh chị phó (nếu Anh chị Phục vụ vắng mặt). (Còn nếu là buổi họp của các tiểu ban, thì thư ký tiểu ban làm biên bản, chủ toạ là Anh chị trưởng tiểu ban.)
3. Các sổ sách.
3.1 Sổ Văn Thư: Sổ nầy dùng để ghi việc nhận các văn thư tài liệu đến và chuyển các văn thư tài liệu đi. Sổ này có các cột: -ngày nhận, -tên văn thư gì, -nơi nào chuyển đến, -mấy phiên bản,- trình ai giải quyết - giải quyết như thế nào ?- Chuyển tiếp cho ai – ký nhận
3.2 Sổ biên bản: Sổ nầy ghi biên bản các buổi họp của huynh đệ đoàn hoặc của hội đồng. Để dễ quản lư và theo dõi hơn chúng tôi đề nghị nên phân vùng riêng ra (vùng cho huynh đệ đoàn và vùng cho Hội Đồng trong một cuốn duy nhất). Các biên bản họp Hội Đồng để biểu quyết một vấn đề gì thì cần làm đầy đủ chi tiết, Tuy nhiên những chi tiết thường nhất, như đọc kinh khai mạc …thì chỉ cần ghi là "sau phần nghi thức"… Điều cần thiết cho các biên bản là đừng bỏ quên việc kiểm danh, vì nó là chứng từ cho cấp độ tín nhiệm của buổi họp, nó còn là thuốc kích thích và cũng là thuốc chữa bệnh trây lười vô trách nhiệm. Các biên bản họp định kỳ thì cần làm ngắn gọn, ghi những nội dung được bàn tới và cần giải quyết, cũng như ghi quyết nghị giải quyết cho rõ ràng ngắn gọn, để mọi người nhớ mà thực hiện cho có hiệu quả, và nếu có ai không đi họp được, thì họ có thể tham khảo biên bản mà thi hành. Đừng ghi quá chi tiết, những chi tiết mà buổi họp nào cũng như nhau.
3.3 Sổ Danh Bộ: Sổ nầy để ghi tên (và các chi tiết đầy đủ) về các thành viên trong huynh đệ đoàn. Sổ nầy nên có mục lục, và chia ra làm 2 phần:
- Phần 1: Bảng cập nhật về nhân sự trong huynh đệ đoàn hàng tháng
- Phần 2: Danh sách các thành viên trong huynh đệ đoàn; Nếu là cấp Miền, thì có danh sách các thành viên hội đồng.
3.4 Sổ theo dõi về tài chánh: Anh chị thư ký không có quyền xuất chi, không giữ tiền và tài sản, nhưng để giúp Ban Thường Vụ nắm vững hơn về tình hình tài chánh cũng như khí mãnh của huynh đệ đoàn, cũng cần có 1 cuốn sổ, ghi tài sản và cập nhật các lệnh chi của anh chị phục vụ khi giao cho Thủ quỹ xuất tiền; Về điểm này ta còn gặp rất nhiều khó khăn vì chưa quen kiểu tài chánh tập thể, xin các anh chị trong Ban Thường Vụ quan tâm hơn.
3.5 Cặp lưu trử hồ sơ: Những hồ sơ cần lưu giữ:
- Lưu giữ những Văn Thư đến.
- Lưu giữ bản sao/lưu những Văn Thư đi
- Những đơn xin gia nhập, xin khấn với kết luận xét duyệt
- Văn kiện thành lập…
Nên lưu giữ mỗi loại văn thư trong 1 cặp hồ sơ riêng.
3.6 Sổ thăm viếng (Tài liệu huấn luyện Chương III, trang 41) Sổ nầy ghi những ý kiến trong các cuộc thăm viếng, riêng cấp Miền còn ghi những ý kiến trong các cuộc kinh lý.
C.- Kết luận: Công việc của thư ký thật là nặng nhọc, đòi hỏi rất nhiều thời gian, khi ở nhà cũng như lúc đi họp. Không mấy ai có thể hoàn thành tốt đẹp được nhiệm vụ của mình trong một sớm một chiều; Trong thời ban đầu nầy, chúng tôi gởi đến các anh chị bản mẫu của các sổ sách, mong các anh chị cố gắng để ngày một tiến bộ hơn trong cách làm việc. (Còn tiếp).
â
Pet. Nguyễn Đức Tiến
Suy Tư Của ĐGH về 800 Lập Dòng Phan Sinh
Trích từ VietCatholic News (18 Apr 2009 09:03)
VATICAN Cách đây đúng 800 năm, vào năm 1209 Đức Giáo Hoàng Innocent đệ tạm đã chuẩn y cho phép lập Dòng Phan Sinh do Đấng sáng lập, Thánh Phanxicô thành Assisi. Các Linh Mục Dòng Anh Em Hèn Mọn Phan Sinh từ khắp nơi trên thế giới đã tụ về đồi Assisi tại Italia từ ngày Thứ Tư 15/4 để mừng kỷ niệm 800 năm sinh nhật Dòng.
Đồi Assisi tại Italia cũng là nơi nổi tiếng dành cho khách hành hương và là nơi tụ họp tổ chức các buổi cầu nguyện Liên Tôn do Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II chủ xướng.
Linh đạo của Thánh Phanxicô là noi gương Đức Giêsu: sống khó nghèo, khiêm hạ, yêu thương phục vụ mọi người, đặc biệt những người nghèo khổ, yêu quý thiên nhiên và súc vật.
Nhân kỷ niệm sinh nhật thành lập Dòng, là dịp để nhìn lại những suy tư của Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI cống hiến đến cuộc đời Thánh Phanxicô, là mẫu gương thay đổi tận căn để bắt chước Chúa Kitô. Đức Thánh Cha đã ca ngợi "tinh thần Assisi" và nhấn mạnh đến sự đối thoại và xây dựng nhịp cầu đối thoại liên tôn.
Đồng thời Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI cũng nhấn mạnh và khuyến khích các tu sĩ Dòng Anh Em Hèn Mọn hãy làm nổi bật tinh thần linh đạo của Thánh Phanxicô trong sự thay đổi cuộc đời khi gặp gỡ với Đức Kitô. Và ngày nay khách hành hương cần phải hiểu rõ điều này.
Đức Thánh Cha đã nói và suy tư những điều này trong cuộc viếng thăm tại Assisi vào năm 2007 "Thật không đủ để ngưỡng mộ Thánh Phanxicô, nhưng qua Ngài họ có thể gặp gỡ Đức Kitô."
Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã diễn tả Thánh Phanxicô khi còn trẻ là "ông vua con trong các buổi dạ hội", bon chen với quần áo sặc sỡ và hoàn cảnh kinh tế trong thế kỷ thứ 13. Và trong suốt 25 năm đầu trong cuộc đời Phanxicô là một người chỉ thích ăn chơi đua đòi, lang thang khắp châu thành Italia, thế nhưng thánh nhân đã nhìn thấy cuộc đời trống vắng.
Cuộc đời Phanxicô đã biến đổi khi Ngài trực diện với những người nghèo và bệnh tật. Đức Giáo Hoàng đã so sánh cuộc đời cải hóa của Phanxicô giống như thánh Phaolô trên đường đi Đamát. Thế nhưng Phanxicô đã biến đổi từ từ không như Thánh Phaolô đã biến đổi ngay khi thấy ánh sáng Đức Kitô chói lọi lúc ngã ngựa.
Cuộc đời Phanxicô được cải hoá vào lúc khi ngài cầu nguyện trước cây thập giá, ngài đã nghe tiếng Chúa gọi "hãy sửa sang lại căn nhà cho ta". Thánh Phanxicô bắt đầu đi lang thang trên đồi thâu lượm gặt đá để xây dựng lại đền thờ. Ngài đã bị xỉ nhục như một người điên, có lần bị ông cố nổi cơn điên nhốt lại trong phòng, đôi lúc bị đói khát và bị cóng lạnh.
Năm 1208, Phanxicô đã thực sự hiểu rõ ơn gọi của mình, khi lắng nghe Bài Phúc Âm Đức Giêsu truyền cho các môn đệ: hãy từ bỏ mọi sự và đi rao giảng kêu gọi mọi người sám hối. Phanxicô đã cảm nhận những lời này như chính những lời kêu gọi trong đời hiến dâng của ngài.
Từ đây những người thường chế nhạo Phanxicô bắt đầu tỏ ra kính trọng ngài và thu hút được những người theo ngài. Phanxicô bắt đầu viết ra “luật” đầu tiên tóm từ những nguyên tắc trong Phúc Âm để thành lập Dòng. Thế nhưng văn bản chính xác cho đến ngày nay vẫn không tìm thấy, nhưng đã được Đức Giáo Hoàng Innocent đệ tam chuẩn y vào năm 1209, mặc dầu cũng gặp nhiều sự đối kháng trong Giáo Triều lúc bấy giờ về đời sống luật dòng.
Năm nay, kỷ niệm 800 năm thành lập Dòng cũng là kỷ niệm luật đầu tiên của Dòng ra đời, cũng là kỷ niệm lễ giỗ 763 năm ngày thánh nhân từ trần vào năm 1226. Thánh Phanxicô đã được cất lên hàng các Thánh 2 năm sau đó và được tôn là bổn mạng nước Italia, bổn mạng Tổ Chức Công Giáo Tiến Hành Italia và nhiều nhóm khác nữa, kể các các nhóm bảo vệ môi trường và chăm lo súc vật.
Đối với Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI, gương Thánh Nhân vẫn còn hiện thực cho tới ngày hôm nay không phải về sinh thái nhưng chính ơn gọi của ngài là hình ảnh của Đức Kitô khi thực sự nhìn qua lăng kính hoạt động xã hội mà chính thánh nhân đã chịu đau khổ mà hình ảnh có thể nói lên được những vết thương của Đức Kitô”.
Đức Thánh Cha nói: "Ngài đã yêu mến Đức Kitô. Những vết thương trên thập giá đã làm con tim ngài đau khổ, đã để lại dấu thánh trên mình Ngài tại Núi La Verna. Ngài có thể nói như thánh Phaolô: "tôi sống nhưng không phải tôi sống mà là chính Chúa Kitô sống trong tôi".
Chắc chán trong Thông Điệp về xã hội mà Đức Biển Đức XVI sẽ ban hành tới đây sẽ có gương thánh Phanxicô khi đưa ra những vấn đề về bác ái và sự đáp ứng của người Kitô giáo trước sự bất công kinh tệ Vì đối với Đức Giáo Hoàng, ngài đã nói sự từ bỏ thụ hưởng vật chất tận căn là một phần trong cuộc đời thánh nhân “đi kiếm tìm Đức Kitô nơi gương mặt của những người nghèo".
â
Ngọc Loan

Trở về mục lục >>
 |
|
Bài 20: Hai Bí Tích Cột Trụ Của Gia
Đình
Qua hai bài giáo huấn trước đây, chúng ta đã xác định vai trò của Bí Tích Rửa Tội và Hôn Phối trong việc cấu tạo gia đình. Bí tích thứ nhất thánh hoá các thành phần gia đình, biến họ thành con cái Thiên Chúa; Bí tích thứ hai là khởi điểm và là nền tảng trên đó gia đình được xây dựng. Cả hai bí tích đều cần thiết cho sự hình thành gia đình người Kitô hữu chúng ta.
1. Nói về sự cần thiết của Bí Tích Rửa Tội, Phúa Âm theo thánh Marcô viết : "Ai tin và chịu phép thánh tẩy thì sẽ được cứu” (Mc 16,16)
2. Còn về Bí tích Hôn Phối thì Thánh Công Đồng Vaticanô II đã dạy: "Vợ chồng Kitô hữu được củng cố và thánh hiến bằng một Bí tích riêng để được lãnh nhận các bổn phận và phẩm giá của bậc sống mình. Nhờ sức mạnh của Bí tích này, họ được thấm nhuần tinh thần Chúa Kitô mà chu toàn bổn phận hôn nhân và gia đình của họ; nhờ đó tất cả đời sống của họ được thấm nhuần đức tin, cậy, mến, càng ngày họ càng tiến gần tới sự trọn lành riêng biệt của họ và sự thánh hoá lẫn nhau, và bởi đó cùng nhau tôn vinh Thiên Chúa" (MV 48).
Kết luận, là gia đình Kitô giáo phải quan tâm đến việc lãnh nhận hai Bí tích nói trên:
1. Phải lo để mọi người trong gia đình, nhất là con trẻ mới sinh, được lãnh nhận Bí tích Rửa Tội trong vòng một tháng, theo ước vọng của Giáo Hội. Khi không có linh mục, cha mẹ phải nhờ người hiểu biết rửa tội cho con cái mình;
2. Khi dự bị thành lập gia đình, người công giáo phải làm hết sức mình, và trước các việc khác, để được kết hôn theo phép đạo, tức là lãnh nhận Bí tích Hôn Phối. Trong trường hợp vắng linh mục, gia đình phải giúp đôi dự hôn cử hành nghi thức hôn phối trước hai người chứng, sau khi đã điều tra kỹ lưỡng về tình trạng không ngăn trở của cả hai bên.
â
ĐGM Nicolas Huỳnh Văn Nghi
|

Trở về mục lục >>
 |
|
|
Thư Áo Nâu: Niềm Vui Phục Vụ
Áo Nâu, anh thân yêu,
Một thói quen hồn nhiên là cứ mỗi tháng một lần, em đi quét nhà thờ theo lich của Các Bà Mẹ Công Giáo không cần ai nhắc nhở.
Nhưng riêng chiều nay em mang trong lòng một niềm vui nho nhỏ: Đứa con trai út ương ngạnh của em chiều nay lại có một dấu hiệu ngoan ngoãn lạ thường. Sợ một mình cháu ở nhà sẽ sinh nhiều chuyện rắc rối với người cô "tàng tàng", em rủ cháu bằng một giọng nói thân thương nhưng trang trọng, nửa đùa nửa thật: "Út ơi, hôm nay mẹ mời út cùng đi quét nhà thờ với mẹ nhé". Nó chấp nhận ngay, vui vẻ, nhảy tưng tưng! Em liền nghi ngờ cháu có chuyện gì; Nghĩ mãi mới nhớ ra Cha xứ vừa mới dạy cho các cháu thiếu niên bài học về lòng yêu mến Đức Mẹ... thì ra thế.
Hôm nay em xung phong làm sạch ngoài khuôn viên, còn các bà các chị khác quét trong nhà thờ rồi mới ra nhặt rác sau. Sân nhà thờ chiều này lá rụng nhiều, là vàng lá nâu, cả những lá xanh chen đan vào nhau đẹp quá. Em mải ngắn nhìn cái đẹp thiên nhiên sắp xếp một cách ngẫu nhiên, nhưng sao lại như một bức tranh; thi thoảng một chiếc là vàng tìm đậu ngay vào bên cạnh những chiếc lá nâu, lá xanh, để bổ sung vào bức tranh... Đang lúc ấy cháu út đã cầm chổi quét và nhặt các lá trên cỏ, trên đá cho vào sọt. Cháu làm hăng say và phấn khởi như khi tham dự một trò chơi "những người bạn nhỏ" của VTV3.
Cuộc "so tài" giữa các Bà Mẹ Công Giáo với một trẻ nhỏ đã kết thúc, nhà thờ và cả khuôn viên đã sạch đẹp; ngôi thánh đường khiêm tốn đứng trong một không gian im lìm và bình yên, duy chỉ có gió trên cao vẫn gởi vài chiếc lá xuống mặt sân, khiến cho cháu cứ tung tăng nhặt, nhặt và nhặt. Vui đáo để, mọi người che miệng cười tủm tỉm.
Em mới nghĩ ra một điều trong việc giáo dục con cái; Đó là xưa nay mình có nhiều sai phạm khi muốn cháu làm một việc mà không hề xem xét có thích hợp với chúng hay không. Nếu muốn chúng làm một việc chúng không thích, mà mình cố tìm cho ra lý do, rồi tạo ra một cách nào đó cho chúng thích (như hôm nay gió đã gởi lá vàng xuống sân, hay là do cách "mời út"), thì kết quả của công việc sẽ cao hơn, và chúng sẽ tìm được niềm vui.
Mẹ con em ra về, mấy ngày sau cháu vẫn nhắc đến lá vàng và niềm vui phục vụ.
â
Agnès Kim Gương
Chúa Thánh Thần
Chúa Thánh Thần là Ngôi Ba Thiên Chúa, là Đấng phát xuất từ tình yêu của Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con, Người cũng có từ trước đời đời, và sẽ tồn tại đến muôn muôn đời; Người cũng đồng bản thể và cùng quyền năng với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con… Ngài rất gần gủi, thân thương, vô cùng quan trọng, và hết sức cần thiết cho nhân loại vì: Đức Chúa Cha sáng tạo, Đức Chúa Con cứu chuộc, Đức Chúa Thánh Thần cai quản vũ trụ, chăm sóc muôn vật muôn loài thọ tạo, giữ gìn mọi người, canh tân tâm trí, đổi mới muôn lòng, dẫn dắt, nâng đỡ chúng ta tiến bước trên con đường hoàn thiện.
Ngày lãnh nhận bí tích Rửa Tội, chúng ta được Chúa Thánh Thần yêu thương cách đặc biệt, chúng ta thuộc về Ngài, Ngài đến thăm viếng và ngự trị nơi trái tim, biến đổi tâm hồn, và thân xác ta thành đền thờ của Ngài.
Ngày lãnh nhận Bí Tích Thêm Sức, Ngài lại gia tăng nguồn mạch sự sáng qua Bảy ơn đượm nhuần sự thánh, biến đổi chúng ta thành những chiến sĩ xây dựng và bảo vệ Nước Chúa. Ngài còn đồng hành, nhắc nhở, bảo ban chúng ta trong từng lời nói, việc làm hằng ngày. Thật vậy, chỉ cần suy nghiệm trong tích tắc, chúng ta sẽ cảm nhận được sự hiện diện và tình yêu của Chúa Thánh Thần ban cho ta thật là vô ngần.
Khi chọn đời sống hôn nhân hay bậc tu trì, thì ngày lãnh nhận Bí Tích Hôn Phối, hay Bí Tích Truyền Chức Thánh, chúng ta lại được lãnh nhận chính Chúa Thánh Thần thêm một lần nữa. Người là Tác Nhân Chính trong đời sống hôn nhân và đời sống tận hiến. Mỗi người, mỗi ơn khác nhau, nhưng tất cả đều là đặc ân của Chúa Thánh Thần ban tặng trong bác ái, hoan lạc, bình an, nhân từ, nhẫn nại, lương thiện, trung tín, hiền hòa, tiết độ, khiêm tốn, thanh khiết…
Trong đời sống hằng ngày, khi một ngày mới bắt đầu, chúng ta có biết bao nhiêu công việc giăng đầy: Việc chung, việc riêng, việc lớn, việc nhỏ… Chúng ta phải gặp gỡ biết bao người, nói năng biết bao lời: Khi thì sinh hoạt giữa cộng đoàn, khi thì tất bật phục vụ gần xa, khi tĩnh tâm, khi tổ chức lễ hội, khi thăm viếng, khi học tập, khi truyền giáo, khi đau khổ, khi có tang tóc, buồn đau… Mà không có Chúa Thánh Thần sáng soi, thì làm sao chúng ta có đủ khôn ngoan và hiểu biết để sắp đặt mọi việc và chu toàn bổn phận hằng ngày đối với gia đình, xã hội, và giáo hội. Làm sao biết tính toán, biết cân nhắc để làm những việc mang lại lợi ích cho cộng đoàn, biết dùng những lời lẽ ôn hòa để trao đổi, khuyên bảo, chia sẽ tâm tình với nhau, biết nhắc nhở nhau khi làm điều sai trái, biết động viên nhau khi sờn lòng, nản chí, biết an ủi nhau khi sầu khổ…
Khi gặp phải những vấn nạn lớn trong cuộc sống, và với sức người yếu đuối, tâm trí nông cạn, làm sao tự mình vượt qua nếu như không có ơn thông minh cùng sức mạnh của Chúa Thánh Thần trợ giúp; Làm sao biết lo liệu để hoàn thành công việc và mang lại lợi ích cho anh em; Làm sao biết nở những nụ cười thân thiện, biết nhìn nhau bằng ánh mắt thân thương, làm sao biết trao tặng nhau niềm hy vọng, sự tin yêu, và biết nghĩ tốt cho nhau, chia sẻ vui buồn của nhau.
Rồi ơn đạo đức để không gian dối lọc lừa; để biết nhẫn nại, chịu đựng những khuyết điểm của nhau, để biết giữ gìn giác quan, biết khiêm tốn trong lời ăn, tiếng nói, trong cách cư xử hằng ngày với nhau…
Bên cạnh những ơn ích về tinh thần, còn có những ân ban về môi trường sống như khi ngước lên cao, ta thấy bầu trời xanh vời vợi và tuyệt đẹp có Nhật-Nguyệt nhịp nhàng xoay chuyển cho ngày lên, đêm xuống, có Xuân, Hạ, Thu, Đông bốn mùa luân phiên. Sáng sớm thì sương rơi và khí lạnh, trưa có nắng vàng nồng ấm, chiều về có hoàng hôn rũ bóng, và đêm thâu dịu dàng cho trăng thanh thêm duyên dáng vui đùa cùng muôn ngàn tinh tú lấp lánh bên những làn mây bay khắp trời, gió thổi vi vu, mưa rơi tí tách; Rồi nhìn xuống chân, ta thấy đất nâu thầm lặng hiền hòa ấp ủ hàng vạn côn trùng giữa những ngọn núi cao sừng sững và thác ngàn tuôn đổ, biển sâu bao la, sông rạch, khe ngòi chằn chịt uốn khúc, và mỗi khe rạch đều riêng rẻ và êm đềm xuôi chảy làm cho cỏ cây xanh tốt, hoa lá thêm tươi tốt và muôn màu…
Tất cả vũ trụ đều có trật tự một cách lạ lùng: Ngày ra ngày, đêm ra đêm, ngày đêm không lẫn lộn. Trời cao, không có gì che chắn, nhưng trời không rơi xuống đất, đất bao la, nước cũng bao la nhưng giữa đất và nước có ranh giới rõ ràng. Núi cao vời vợi, núi nặng hàng tỷ tỷ kilogam nhưng núi không bao giờ lăn kềnh xuống biển. Cây bốn mùa thay lá, sinh hoa, kết quả, hoa ngày đêm tỏa sắc muôn hương. Trên rừng xanh muông thú tung tăng, dưới biển bạc ngàn với hang vạn loài thủy sản vẫy vùng… Thật diệu kỳ thay bàn tay xếp đặt của Thiên Chúa Ba Ngôi! Quyền năng và tình yêu của Chúa Thánh Thần chan hòa khắp vũ trụ, giữ vững địa cầu cho muôn vật sinh sống, và hết thảy những sự việc ấy, Ngài đã làm với mục đích duy nhất là: "Phục vụ cho con người vì Ngài yêu thương con người"! Ôi! Bao la thay tình yêu Thiên Chúa.
"Lạy Chúa Thánh Thần; Xin Ngài ngự đến. Lạy Cha của kẻ cơ bần! Là Đấng ban muôn ân huệ, Đấng soi sáng tâm hồn, xin Ngài ngự đến. Lạy Đấng an ủi tuyệt vời, là khách trọ hiền lương của tâm hồn, là Đấng ủy lạo dịu dàng. Là Chúa của sự nghĩ ngơi trong cảnh lầm than, là niềm an ủi trong lúc lệ rơi. Ôi sự sáng chứa chan hồng phúc. Xin sáng soi tràn ngập tâm hồn tín hữu của Ngài…" Amen. (Ca Tiếp Liên lễ Hiện Xuống)
â
T.CT
Viết Cho Em
Là ‘con trai một’ nhưng tính tình hiền hậu vui vẻ, gia đình khá giả, lại được cha mẹ cưng chiều; Nhưng em cưới vợ với một đám cưới rất đơn giản và ít người tham dự vì gia đình không chấp nhận một cô dâu là "gái ăn sương” không rõ nguồn gốc.
Sau đám cưới, hai vợ chồng ra riêng vì gia đình của em không thích chung đụng với người “xấu”; Còn cô dâu thì giã từ "nghiệp cũ" và tập làm vợ hiền dâu thảo với gánh hàng rong ở góc đường.
Thoạt đầu, dư luận còn xì xào về "thành tích" của cô dâu, nhưng thời gian đã chứng minh cho mọi người thấy cô dâu ấy là người đã thật sự hoàn lương, và ai cũng mừng cho em khi có một người vợ hiền. Nhưng em thì trái lại, quen thói trưởng giả của người "con một", em bắt đầu tập tành ăn chơi sa đọa…
Rồi đứa con đầu lòng chào đời, “cô gái ăn sương” thuở nào thì nay bắt đầu làm mẹ, ngày ngày cô ta vẫn an phận bên gánh hàng rong, vẫn cố gắng chăm sóc cho chồng cho con từng miếng ăn, giấc ngủ. Còn em thì bắt đầu nghiện ngập, mỗi chiều, về tới nhà, với bộ dạng say xỉn, miệng thì không ngớt chưởi rủa vợ; Em mắng vợ là người không đàng hoàng, đứa con ấy không phải là con của em, ngày nào bạn bè cũng chế nhạo em là thằng ngu, thậm chí có hôm còn đánh đập vợ cách tàn nhẫn và nàng chỉ lặng lẽ ngồi khóc một mình…
Thời gian trôi qua thật chậm chạp, và những cơn say rượu vẫn cứ tiếp diễn, những lời chưởi bới nhục mạ của em ngày càng nặng nề, đau khổ ngày càng chồng chất, nước mắt tha hồ bởn cợt trên gương mặt của người vợ trẻ, và tâm hồn người thiếu phụ ngày càng héo hắt, hạnh phúc gia đình ngày càng trở nên nặng nề gay gắt đến ngộp thở…
Nhưng Thiên Chúa rất tuyệt vời và công bằng, Người ban cho đứa bé có gương mặt và dáng dấp giống hệt cha nó; Càng lớn, nó càng giống cha như đúc, và thế là em "tịt ngòi" về chuyện đứa con. Nhưng câu chuyện chưa dừng ở đây, rượu đã ngấm vào máu, vào tận trong xương tủy của em, làm cho nhưng cơn say xỉn trở nên ‘không thể thiếu’ trong cuộc đời, và cái tật nhục mạ vợ hằng ngày đã thành thói quen của em. Lúc trước, em chưởi vợ vì ghen tương, ngờ vực vô cớ, bây giờ chưởi vợ vì vợ có quá khứ không trong sạch… Và cứ thế, để rồi, một buổi sáng kia, khi thức dậy, căn nhà trống vắng đến lạ lung: Vợ và con đã biến mất…
Tuy vợ đã bỏ đi nhưng em vẫn không chịu thay đổi; Trước đây, khi vợ còn ở nhà, sau khi ăn nhậu còn biết đường về, nhưng từ khi vợ bỏ đi thì em quên cả lối về. Hôm nay ngồi ôm chai rượu ở góc đường này, ngày mai co ro ở xó chợ kia, thân thể mỗi ngày mỗi tiều tụy để rồi ngày em vĩnh biệt cõi trần trước hiên nhà của một kẻ xa lạ; Cha mẹ, anh em, không ai muốn nhìn nhận em, cũng chẳng có ai đứng ra lo việc tang chế cho em cả…
Làm người thì ai cũng có lầm lỗi, nhưng tình yêu sẽ khỏa lấp mọi khuyết điểm vì tình yêu là thần dược, là sức mạnh, là động lực giúp cho con người thăng hoa trong cuộc sống; Thật vậy, vợ em đã thật sự yêu em, yêu rất chân tình, yêu hết mình và mong cho bản thân và gia đình được thăng hoa, nhưng em lại không nhìn ra những ưu điểm tuyệt đẹp đó. Em đã để cho tính ích kỷ, sự ghen tương vô cớ được tự do đi lại trong tâm trí; Và rượu đã biến em từ một con người hiền hòa, nhỏ nhẹ, vui tính trở thành con người nhỏ nhặt, ngu xuẩn, thô bạo, luôn làm tan nát tâm hồn của vợ, làm mất hạnh phúc gia đình, và làm mất luôn cả mạng sống mình!
Có lẽ chúng ta cũng nên dành ra chút thì giờ để trả lời những câu hỏi như: Nên hay không khi chọn người có quá khứ "xấu" làm bạn đời? Sẽ được gì khi "bươi móc" dĩ vãng của nhau… Và hôn nhân là chuyện đại sự của cả đời người, hãy suy nghĩ, cân nhắc và cầu nguyện liên lỉ trước khi quyết định.
â
Thăng Hoa
Báo Động! Về Cuộc Bầu Cử Đặc Biệt
Vào ngày thứ Ba, 19 tháng 5 năm 2009 tới đây, cư dân trong toàn tiểu bang California sẽ có cuộc bầu cử đặc biệt để quyết định các dự luật 1A, 1B, 1C, 1D, 1E, và 1F.
Theo nguồn tin của Hiệp Hội Những Người Nộp Thuế (Taxpayers Association) thì tác giả của dự luật 1A đã dùng lời hoa mỹ để gạt gẫm cử tri. Xin để ư đọc kỹ dự luật này ở mục "tác động tài khoá": Thu thuế nhiều hơn, tăng thêm khoảng 16 tỷ đôla nữa, ngoài số thuế hiện hành.
Được biết vừa qua, trong các kỳ họp tại Hạ viện và Thượng viện của tiểu bang California, tất cả các vị dân biểu và nghị sĩ đảng Dân Chủ đều đã đồng thuận bỏ phiếu tăng thuế, riêng đảng Cộng hoà đã có 3 vị dân biểu, và 3 vị nghị sĩ cũng bỏ phiếu thuận; Nay mai người dân sẽ trả thêm thuế mới nầy. Tăng thuế thì thức ăn tăng giá, mọi thứ đồ dùng trong nhà cũng tăng giá.
Nếu dân cư trong Tiểu bang California, trong ngày bầu cử đặc biệt này bỏ phiếu thuận "YES" cho dự luật 1A, thì người dân sẽ phải chi trả thêm một khoản thuế khổng lồ lên đến 16 tỷ (tức là 16 ngàn triệu) đô-la. Xin nhớ đây sẽ là phần thuế tăng thêm, ngoài khoản thuế đã được Quốc Hội Tiểu bang California vừa thông qua. Cũng cần ghi nhớ là khoản thuế này sẽ được thu đủ từ nay cho đến năm 2013, sau đó mức thuế có lẽ vẫn duy trì luôn.
Cử tri California hãy đề cao cảnh giác kẻo bị lừa gạt, hãy rủ rê bạn bè bà con đi bầu thật đông và bỏ phiếu chống, "NO" dự luật 1A. Con cháu chúng ta sẽ nhớ ơn cô chú ông bà.
|
Dự luật đệ trình 1A- QUỸ "DỰ PHÒNG KHÓ KHĂN” ĐỂ ỔN ĐỊNH NGÂN SÁCH
Thay đổi tiến trình lập ngân sách. Có thể giới hạn thâm thủng ngân sách hoặc chi tiêu trong tương lai bằng cách gia tăng quỹ “dự phòng khó khăn” và buộc phải ký thác thu nhập trên mức trung bình vào đó, để dùng vào những lúc suy thoái kinh tế và các mục đích khác. Tác Động Tài Khoá : Thu nhập thuế tiểu bang nhiều hơn vào khoảng $16 tỷ từ 2010-11 đến 2012-13. Về lâu dài, ngân khoản gia tăng trong quỹ tích trữ để dự phòng khó khăn có thể giảm bớt mức lên xuống về chi tiêu của tiểu bang. |
1A– "RAINY DAY’ BUDGET STABILIZATION FUND
Changes the budget process. Could limit future deficits and spending by increasing the size of the state "rainy day" fund and requiring above-average revenues to be deposited into it, for use during economic downturns and other purposes. Fiscal Impact: Higher state tax revenues of roughly $16 billion from 2010-11 through 2012-13. Over time, increased amounts of money in state rainy day reserve and potentially less ups and downs in state spending.
|
â
Nguyễn Văn Du
Hình Ảnh Mẹ
Quê tôi có nhiều giòng sông, mỗi giòng sông chia thành nhiều nhánh, mỗi nhánh trôi về một hướng mà tôi gọi là mỗi con đường đời nổi trôi muôn nẽo. Sông vẫn xuôi chảy hiền hòa, khi vơi khi đầy theo từng con nước lớn ròng, sông vẫn mang theo phù sa cho đất thêm đẹp, cho cây thêm xanh, cho lòng người vui thỏa như lòng mẹ bao la, và vì thế mà giòng sông được ví như là hình ảnh của những người mẹ.
Vâng! Mẹ, tấm lòng của mẹ, tình yêu của mẹ, vòng tay của mẹ ấm êm cùng với đôi chân lặn lội hàng vạn dặm đường đời, mòn nhẵn hàng trăm đôi guốc mộc, rách nát hàng trăm chiếc nón lá, mòn nhẵn cả tấm thân, gầy guộc cả một đời, cho con khôn lớn, cho con vào đời, cho con trưởng thành, cho con tiến bước, cho núi Thái Sơn phải cúi đầu, cho biển Thái Bình ngại ngần không dám trào dâng ngàn con sóng…
Thế nhưng, trong thời buổi gọi là văn minh hiện nay, những hình ảnh đẹp ngời về người mẹ với muôn vàn màu sắc yêu thương mà nhân loại vẫn thường tô vẽ đã bị hoen ố, bị trở nên đen đúa vì những bà mẹ sinh con rồi vất bỏ bên đường, vì những bà mẹ bán con cho khách mua vui khi đôi mắt thơ ngây của chúng chưa vướng chút u buồn, tàn nhẫn hơn nữa là những bà mẹ bức tử con mình, giết con khi đang tượng hình trong cung lòng của mình.
Sao thế! Trần gian có biết bao việc tốt lành và hữu ích mà sao con người không chịu làm; Cuộc đời có muôn vàn ‘cái đẹp’ mà Thiên Chúa đã ân ban mà sao con người không chịu chiêm ngắm, không cộng tác để tô điểm cho ‘tác phẩm’ ấy đẹp hơn thêm. Và Thiên Chức Làm Mẹ là một vinh dự, là một đặc ân, nhưng vẫn có những bà mẹ khước từ thiên chức ấy bằng một tội ác: Tội sát nhân, "Tội Mẹ Giết Con"! Đây là một việc làm quá tàn ác, vừa xúc phạm đến Thiên Chúa, vừa đáng cho người đời nguyền rủa đến muôn đời; Một tội ác sẽ làm cho lương tâm của những bà mẹ sát nhân mất hết bình an vì lương tâm của họ luôn cắn rứt. Thật vậy, những bà mẹ sát nhân ấy sẽ cảm thấy xót xa vào những trưa hè vắng vẻ chợt nghe tiếng con trẻ đâu đó khóc la đòi sửa; Khi mùa đông sang, những bà mẹ sát nhân ấy chợt thèm khát những đứa con để ấp ủ chúng trong vòng tay nồng ấm của mình. Khi nhìn những đôi chân bé nhỏ, chập chửng tập đi từng bước, hay những bước chân liếng thoắn chạy nhảy ở những sân cỏ quanh nhà thì những bà mẹ sát nhân ấy sẽ xót xa như thế nào? Rồi khi Xuân về, đất trời rạo rực, những bà mẹ sát nhân ấy có hạnh phúc khi thấy con cái của người khác ngày càng thêm tuổi, càng thêm khôn ngoan, họ có thể mĩm cười khi ngồi nhìn con thơ của người khác ngoan ngoãn khoanh tròn vòng tay mừng tuổi mẹ. Những bà mẹ sát nhân có thể dững dưng khi thấy những bà mẹ khác đang hạnh phúc vì họ đang trong thời gian thai nghén và chờ ngày sinh nở, chờ cái ngày được làm mẹ và nuôi nấng, dạy bảo con cái thật thiêng liêng, cao cả và đẹp đẽ nhất trên cõi đời này chăng? Và rồi, bà mẹ sát nhân có nghĩ là một ngày nào đó, bà cũng sẽ giã từ cõi đời tạm dung này, thân xác bà cũng sẽ chìm sâu vào lòng đất và rã nát như đám lục bình tan rã trên giòng sông, nhưng linh hồn bà sẽ đứng trước Thánh Nhan Chúa, và bà sẽ phải đối diện với đứa con mà bà đã giết chết, đứa con mà bà đã bức tử khi nó đang hình thành trong bụng bà… Vâng, bà sẽ trả lời với Chúa ra sao, và bà sẽ nói gì với đứa con mà bà đã nhẫn tâm giết chết nó trong cái ngày mà "hai mẹ-con" sẽ gặp lại nhau ở bên kia thế giới…
Ước sao tấm lòng của những người mẹ mãi mãi bao dung, hiền hòa như giòng sông quê tôi, cho những đứa con dù trôi đi muôn nẽo vẫn nhớ hoài lòng mẹ, vẫn cần mẹ làm giòng sông nước trôi xuôi cho thuyền đời êm ái buông chèo. Dẫu sóng gió cuộc đời có cuồn cuộn vây quanh, nhưng nếu có mẹ thì mẹ ơi, con sợ gì những gian nan, bão tố của cuộc đời mẹ nhỉ?
Ước gì những người làm mẹ đều cảm nhận được tình mẫu tử thiêng liêng là đặc ân của Chúa tặng ban; Ước gì những bé thơ đều được chào đời trong vòng tay ấm êm hạnh phúc của mẹ; Ước gì thế gian này luôn mở rộng vòng tay mời đón những người con gái lầm lỡ quay về…
â
Sông Quê
Con Tìm Chúa; Chúa Ở Đâu?
Sớm mai, khi mặt trời chưa thức giấc, cảnh vật chung quanh còn ngủ say, tôi ra đồng đi tìm Thiên Chúa, tôi tự hỏi: "Chúa ở đâu?”
Đứng trên ven đê, tôi ngắm trời cao, trên cao ấy, nàng mây cũng đang ngủ, ngủ ngon không "nhúc nhích", mây mặc bộ đồ ngủ màu xám trắng nhạt, phơn phớt sắc hồng trông thật hiền hòa. Tôi gọi gió, anh gió chẳng trả lời, có lẽ gió cũng còn mê mệt với giấc ngủ vùi vì suốt đêm gió rong chơi nhiều quá! Tôi nhìn xuống chân, màu nâu của đất thật hiền hòa, hiền hòa như tấm lòng bao la của mẹ, và chung quanh là màu xanh của lá, màu của bình yên, của một thời dệt mơ ước và hy vọng trong đời người. Lá cũng như những thọ tạo khác, có nghĩa là lá say ngủ, say ngủ đến đổi sương đọng ướt mèm trên mặt lá mà vẫn không hay. Bước nhẹ trên cỏ, tôi sợ làm thức giấc các thọ tạo, nhưng bước chân của tôi đã làm những hạt sương bé nhỏ thức giấc, chúng vội rời bỏ những cành lá, nghịch ngợm ôm chầm lấy đôi chân của tôi và tan chảy làm chân tôi mát lạnh, cảm giác lành lạnh buổi sớm hòa quyện, tan nhanh trong cơ thể thật vui thích lòng người. Tôi xuống xuồng, chiếc xuồng chòng chành giống như còn ngái ngủ không muốn theo tôi ra ruộng, nhưng với chiếc sào nhỏ, tích tắc tôi và xuồng đã nhấp nhô trên cánh đồng bao la.
Tôi gọi cánh đồng là "công viên thiên nhiên" bởi vì trên cánh đồng bao la ấy, không chỉ có lúa mà còn bao là hoa dại, rau dại mọc đầy hòa quyện vào chân lúa, mỗi loài hoa là một sắc thắm, mỗi loại rau mang hương vị khác nhau. Hoa vàng rực rỡ, hoa trắng dịu dàng, hoa xanh dễ thương, hoa tím trầm lặng, rau dừa chan chát, rau bợ ngòn ngọt, rau mát giòn giòn, rau chóc mềm xốp… Dưới làn nước trong veo mát lạnh ấy bao loài thủy sản tung tăng vẫy vùng, ca múa… Thật là tuyệt! Muôn cảnh sắc tô đẹp thiên nhiên, muôn điều kỳ diệu hằng ngày tái diễn trên cánh đồng này, không có một bàn tay phàm nhân nào có thể làm được và sánh ví. Tôi gác sào, dùng tay bơi nhè nhẹ dưới nước, tôi muốn nghịch ngợm với thiên nhiên, muốn hòa mình với thiên nhiên, và thế là hai tay tôi cứ bì bỏm trong cái lạnh của nước buổi sớm tạo cho tôi một cảm giác thật sảng khoái làm cho tôi càng gần gủi với thiên nhiên hơn.
Ôi, thiên nhiên đáng yêu biết bao! Mãi đến bây giờ tôi mới hiểu được một chút tâm tình của Cha Thánh Phanxicô đối với các tạo vật: Kìa, anh ốc bươu to kềnh nổi vật vờ trên mặt nước, trông anh thô kệch và lờ đờ, nhưng đừng tưởng dễ ăn nha! Anh đang hứng sương đấy; Chỉ cần một cái chạm nhẹ vào anh, anh sẽ chìm sâu dưới đáy nước trốn biệt ngay; Một chú nhái xanh đang ngồi yên trên đám rau trơ mắt, thấy bóng dáng tôi, chú nhảy tòm ngay xuống nước; Chú cua đồng ham ăn, đi ăn suốt đêm tới sáng không biết đường về hang, đang bò luýnh quýnh trên bờ giồng, tôi chạm nhẹ vào chú, chú giơ càng kẹp lên huơ huơ để tự vệ, trông thật dễ thương và buồn cười vô cùng.
Màu vàng rực rỡ của nắng đang lan tràn trên cánh đồng xanh mướt và trên ngàn thọ tạo, ánh sáng đang mĩm cười, và đang cùng muôn vật reo vui chào mừng ngày mới. Tôi ngẩng nhìn anh mặt trời và chào anh, chào ngày mới và tất cả các loài thọ sinh, và, ô kìa! Nàng mây đã thay áo từ bao giờ mà trông xinh đẹp hẳn ra, chiếc áo xám trắng đã được thay bằng chiếc áo xanh pha sắc trắng, lại phơn phớt ửng hồng, nàng mây điệu quá! Còn anh gió cũng đã bắt đầu làm việc, công việc của anh là làm mát dịu cho người vào những trưa hè êm ả, là đưa chị mây rong chơi phiêu lãng vô định; Cây cỏ cũng bắt đầu xào xạc đong đưa theo gió, các chú chim thì cất tiếng hót vang, cả đàn chấp cánh bay vút vào không gian bao la choán ngợp ân tình của Tạo Hóa. Dưới thấp, chuồn chuồn bay lượn, đàn bướm nhởn nhơ, đàn ong nhanh nhẹn đi tìm hoa hút mật, hai bên ven đê hoa dại mọc chi chít, nhiều nụ hoa ẩn mình giờ đua nhau khoe săc. Sương lạnh vội vã giã từ ánh sáng, trả sự nồng ấm, ồn ào của ngày mới cho con người.
Chúa ở đâu! Nghĩ mà xem, trời đất bao la bởi đâu mà có, muôn cây, muôn thú bởi đâu mà ra, ai cho mặt trời tỏa sắc vàng rực rỡ, ai mặc cho vòm trời chiếc áo trắng, áo xanh, ai ban ngàn hạt mưa cho trần gian tắm mát, ai cho nước lan tràn trên đồng nuôi từng cây lúa, cọng rau, ai cho đất mang sắc nâu thầm lặng nuôi dưỡng con người, ai cho giòng sông thân khúc dịu êm lặng thầm xuôi chảy, ai cho cánh đồng xanh mướt rồi trở mình chuyển sang màu lúa chín, ai ra lệnh cho gió vây quanh đùa vui với con người, ai cho cây trái xum xuê để con người hưởng dùng, ai cho hoa lá thắm nở tô đẹp trần gian, ai làm được những điều kỳ diệu ấy.
Thiên Chúa! Vâng, Thiên Chúa ở trong thiên nhiên, thiên nhiên đang ca hát để tạ ơn Đấng Hóa Công, thiên nhiên đang nói với ta ngàn lời rằng: "Hãy luôn nhớ ơn Người Sinh Dựng". Muôn vật cũng đang nhắc nhở ta từng giây phút: “Hiển vinh Chúa nơi nơi, tình yêu Người bao la ngự trị cùng khắp cõi địa cầu”. Chúa luôn ở giữa hai đầu thời gian, cho ngày đêm phối hợp nhịp nhàng luân chuyển mang lại biết bao ích lợi cho con người, Chúa ở giữa con người, cho trái tim con người luôn biết yêu thương, Chúa không ở đâu xa xôi, Chúa hằng hữu bên ta, trong ta từng giờ phút, chúng ta sẽ nhận ra được sự hiện diện của Thiên Chúa nếu chúng ta biết yêu thương và quý trọng mọi tạo vật.
Hãy cảm tạ Thiên Chúa, hãy thân thưa với Chúa Thánh Thần tâm tình cảm mến của mình đối với Người vì Thánh Thần Chúa chan hòa khắp vũ trụ, Người nắm giữ mọi sự và thông biết mọi lời. (Sap 1,7)
â
Thóc Vàng
Kén Rễ Phan Sinh
Ông Hợi ở cạnh đồi La San đã lâu, từ hồi mới định cư, gia đình ông là giáo dân xứ Thanh Hải, ông cũng là thành viên Dòng Ba Phan Sinh từ hơn chục năm nay. Ông có một cô con gái tuổi đôi mươi, rất xinh, đẹp người đẹp nết, lại hiền lành, tháo vát như mẹ và chăm chỉ giỏi giang như bố.
Tuy không nói ra nhưng hai ông bà Hợi, từ mấy năm nay, đã để ư tìm bạn cho con gái mình. Nói là tìm bạn cho con gái nhưng thực ra là kén rể. Gia đình ông Hợi thuộc hạng trung lưu, gia sản cũng khá mà chỉ có một cô con gái rượu nên ông muốn có một anh con rể hiền lành, chí thú làm ăn và biết thương vợ thương con; Những tiêu chuẩn này tự vợ chồng ông đặt ra, xem thì dễ, nhưng gặp được cũng khó. Một năm, hai năm rồi ba năm, ông vẫn chờ đợi và để ư tìm kiếm…
Ông tìm trong chỗ bạn học, chỗ quen biết, những người cùng xứ đạo như con ông bà Chánh cùng quê với ông, nhưng vợ ông chê cậu này hay nhậu nhẹt, ăn nói bạt mạng. Đến con ông Thành có tiệm bán đồ gỗ, vợ ông cũng lại chê, tay này ỷ dựa vào ông bố, chỉ ăn chơi chứ không biết lo. Cha mẹ kén chọn, con gái mỗi ngày mỗi lớn, bà Hợi bắt đầu lo; Vừa lo con gái muộn chồng, lo không tìm được anh rể vừa ư, mà cũng lo cái chuyện ấy, như người ta thường ví: "Có con gái trong nhà như chứa một quả bom nổ chậm... không biết lúc nào..." Đôi khi thấy mệt mỏi quá, ông Hợi thở dài nói với vợ: "Nó lớn rồi, thôi thì để nó tự chọn lấy tấm chồng, khôn nhờ dại chịu, mình có sống mãi mà lo cho nó được đâu?" Nói thì nói thế nhưng ông Hợi vẫn khôn khéo theo dõi, hướng dẫn con gái mình.
Đan Thanh năm nay 25, ở nhà thì vẫn gọi là Bé, Bé Thanh, ra đường, Đan Thanh đã tốt nghiệp y tá khoa Răng Hàm Mặt và đang làm việc tại Trung tâm chỉnh hình của bệnh viện tỉnh. Trong tuần, Đan Thanh đi làm ở nhà thương, cuối tuần cô sinh hoạt với Giới Trẻ Phan Sinh tại Giáo xứ Thanh Hải, đoàn được cha Hải làm Trợ úy nên các anh chị thanh niên thích lắm, đến xin gia nhập khá đông.
Cha Hải ngoài 40 tuổi, từng là huynh trưởng Hướng-đạo, rất giỏi trong sinh hoạt giới trẻ, Cha lại vui vẻ, cởi mở, biết lắng nghe và chỉ bảo, hướng dẫn cho từng anh chị trong Đoàn nên ai cũng quí mến. Mục đích của Đoàn là Sống Đạo theo gương Thánh Phanxicô thanh niên. Ấy! chính cái từ "thanh niên" này đã gây nhiều tranh cãi trong Đoàn. Có mấy anh cứ vịn vào đấy để sinh hoạt thoải mái như các nhóm bạn ngoài đời; Nhưng cha Hải đã sớm cắt nghĩa cho rõ và điều chỉnh những xu hướng sai lạc, Cha nói: “Theo sử liệu, thánh Phanxicô thời trai trẻ cũng có vui chơi, đàn ca hò hét, tán tỉnh các nàng khuê các với bạn bè, nhưng không phải là ăn chơi tội lỗi, hiểu theo nghĩa xấu, phá làng phá xóm. Giới Trẻ Phan Sinh không bắt chước cuộc sống của thánh Phanxicô trước khi Ngài trở lại nhưng học hỏi ở vị thánh này làm thế nào để biến một cuộc đời thanh niên ăn chơi tầm thường, không lư tưởng thành một cuộc đời thanh niên hiến dâng trọn vẹn cho Thiên Chúa; Nên nhớ rằng thánh Phanxicô trở lại hồi 20-25, qua đời lúc 44 tuổi, ở tuổi thanh niên".
Nhờ Giới Trẻ Phan Sinh, Đan Thanh quen biết được bạn bè tốt, trai cũng như gái. Nhờ Giới Trẻ Phan Sinh, Đan Thanh tìm hiểu, học hỏi sống Đạo có ư thức hơn, tốt lành hơn, dấn thân hơn. Ông bà Hợi rất mừng và an tâm. Thỉnh thoảng Đan Thanh lại mời Đoàn và cha Trợ úy đến nhà họp hành, sinh hoạt làm cho gia đình ông Hợi được vui thêm; nhất là bà Hợi có dịp trổ tài nấu nướng đãi các cháu "đến thăm nhà bác", có khi đến hai ba chục người. Cha Hải có lần nói: "Truyện "Ba người bạn" kể: Thánh Phanxicô, khi trở lại, không hề có ư định lập Dòng. Phanxicô chỉ muốn kêu gọi một số anh em bạn cũ đến sống Phúc âm theo như Chúa đã soi sáng cho ngài. Nhóm người đầu tiên đến với Phanxicô là những bạn trẻ đã từng tham gia các bữa tiệc liên hoan, ca hát, nhảy nhót, ngay cả những người chưa quen biết nhưng nghe tiếng rồi tìm đến xin nhập bọn với Phanxicô cũng là những thanh niên trai tráng. Dân chúng trong thành phố đã phải ngạc nhiên: "Lại cái bọn trẻ ăn chơi phá phách, bày trò. Không biết lần này chúng làm gì đây?" và người ta đã không tin Phanxicô và các bạn". Rồi cha Hải kết luận: Nhóm anh em Phanxicô, sau này là Dòng Phanxicô, được thành lập trước hết là cho giới trẻ, cho các anh chị thanh niên nhiệt tình, muốn theo Chúa thật và muốn sống những điều Chúa chỉ dạy trong Phúc âm thật. Qua giòng thời gian, tinh thần Phanxicô bị "già" đi, bị công thức hoá, bị gọt dũa sàng lọc để trở thành một khuôn mẫu nghiêm nghị, khắc khổ, khô khan, mất đi tính chất nhân bản, trẻ trung, khoáng đạt, sáng tạo của buổi đầu. Cha Hải còn nói: Giới Trẻ Phan Sinh không phải là Dòng Ba Phan Sinh, cũng không phải Dòng Ba thu nhỏ hay Dòng Ba của giới trẻ. Giới Trẻ Phan Sinh sống tinh thần thánh Phanxicô, sống linh đạo Phan Sinh theo gương người anh cả Phanxicô của mình lúc tuổi thanh niên, cả trước khi trở lại, khi mới trở lại và khi đã thánh thiện. Cha còn nói nhiều lắm nhưng tựu chung cha muốn mời gọi anh chị em thanh niên đừng để mất cơ hội sống Đạo khi mình đang trẻ trung, nhiều nhiệt huyết, nhiều khả năng lãnh hội cũng như khả năng chia sẻ, cho đi, hiến tặng cho Chúa, cho Giáo hội, cho người khác, đừng để đến khi lớn tuổi rồi mới vào Dòng Ba, rồi mới sớm hôm kinh kệ, món quà dâng Chúa nên là món quà "tươi ngon", bó hoa dâng Chúa nên là bó hoa mới nở, còn thắm đượm những giọt sương mai. Giới Trẻ Phan Sinh cũng có những điều luật và nội qui riêng của giới trẻ để giúp anh chị em nắm vững mục tiêu, tinh thần và trách nhiệm của mình. Điều cần thiết nhất, cha Hải luôn nhắc nhở là anh chị em hãy trân trọng tuổi xuân, tuổi thanh niên Chúa ban, hãy giữ gìn tình bạn trong sáng, đoàn kết, quí mến nhau để giúp nhau thăng tiến cuộc sống nhân bản và tâm linh.
Đan Thanh đã là thư ký của Đoàn Agnès, cô chững chạc hẳn ra, ăn nói có duyên hơn, có đầu có đuôi, nhất là không đòi đi mua sắm với mẹ hay đi ăn sáng với bố. Có những buổi họp Ban Phục vụ ở nhà ông bà Hợi, cô điều khiển buổi họp, hướng dẫn đọc kinh Phụng vụ và chia sẻ Lời Chúa rất khéo, nhẹ nhàng, vui vẻ làm mọi người đều mến và ông bà Hợi lại đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác về con gái mình. Một hôm thứ bảy cuối tuần, hai mẹ con đang làm cơm trưa, bà Hợi bỗng vui miệng hỏi con gái: "Con đi họp Giới Trẻ Phan Sinh đã lâu, con đã quen anh nào chưa?" Đan Thanh trả lời: "Thưa Mẹ, con vào Giới Trẻ Phan Sinh không hề có ý đó. Mẹ có nhớ là chính Mẹ đã đưa cho con đọc cuốn sách Hạnh Thánh Phanxicô của tác giả Linh mục Trần Phổ không? Mẹ nói: Hay lắm đọc đi! Và con đã đọc say mê, một là vì Truyện Thánh Phanxicô hay quá, đẹp và thu hút quá; hai là vì cha Trần Phổ viết văn nhẹ nhàng, tinh tế, hấp dẫn như một nhà văn chính gốc. Cũng vì thế mà con mê luôn ông Thánh Phanxicô, mê cuộc đời thánh thiện, khâm phục sự trở lại của ngài. Con cũng rất phục Thánh Clara, Thánh Agnès, các chị cũng còn trẻ như chúng con mà dám quyết định theo Chúa một cách dứt khoát cho dù bị gia đình cấm cản. Con thì không dám thế, hôm nào có dịp, con sẽ giới thiệu với Ba Mẹ, anh Đạt, bạn con, chắc Mẹ sẽ bằng lòng.
- Có phải cái anh cao ráo, hát hay đó không? Bà Hợi mau miệng.
- Dạ không, anh ấy cũng trong Giới Trẻ nhưng ở Đoàn Anrê nhà thờ chính tòa, nhà anh ở Chợ Đầm, anh làm trong Ban Nông nghiệp của Tỉnh. Noel có họp các Trưởng Phục vụ Đoàn trong Tỉnh, anh ấy cũng đã đến nhà mình. Cái anh vừa mới vào nhà đã "Thưa bác gái" thật to làm cả bọn chúng con cười vỡ bụng hôm nào đó, Mẹ nhớ không?
- Cái anh trông hiền nhưng có vẻ lanh lắm.
- Vâng, anh ấy hiền, dễ thương lắm, Mẹ ạ.
- Đã dễ thương rồi hả con!
- Thưa Mẹ, chúng con chỉ mới quen nhau mà đã không qua mắt được cha Trợ úy. Cha biết, có hôm, cha gọi hai đứa con lại hỏi thăm và nhắc nhở: "Chúng con có dịp tìm hiểu nhau trong khi sinh hoạt Đoàn, cũng tốt thôi, nhưng nhớ kín đáo tế nhị vì còn có các bạn khác; Hơn nữa, cha không muốn việc của chúng con gây ảnh hưởng tiêu cực cho Đoàn, cho người khác đàm tiếu, Đoàn có thể là nơi chúng con gặp gỡ rồi đi xa hơn nhưng Đoàn không phải là chỗ hẹn hò. Rồi khi nào thuận tiện chúng con phải thưa với cha mẹ hai bên, xin phép các ngài, rồi mới tính chuyện "đổ gạo nấu chung". Cha chúc chúng con khôn ngoan, cẩn trọng và cầu nguyện xin Chúa hướng dẫn, chúc lành cho tình bạn của chúng con."
- Cha Hải chu đáo lắm đấy con ạ, con phải nghe lời cha Hải. À, mà Mẹ nghe Đạt nói Mẹ của Đạt cũng trong Dòng Ba phải không con?
- Dạ vâng, Mẹ anh Đạt là thủ quĩ Huynh Đệ Đoàn Phanxicô Năm Dấu bên Cầu Đá.
- Thế thì hay quá, toàn là Phan Sinh!
...
Hai năm sau, đám cưới của Đạt và Đan Thanh được cử hành tại Giáo xứ Thanh Hải trước Tết hai tuần, chủ tế lễ cưới là cha Bề Trên Dòng Phanxicô, chánh xứ Vĩnh Phước, làm phép Hôn phối là cha Hải Trợ úy. Nhà thờ hôm đó chật ních người, năm hàng ghế đầu là các em Thiếu Nhi Phan Sinh, kế đến là các Huynh Đệ Đoàn Phan Sinh Tại Thế: Đoàn Ysave, Năm Dấu, Agnès, Đức Mẹ Vô Nhiễm... Tiếp theo là các anh chị Giới Trẻ Phan Sinh từ Đồng Hộ, Cư Thịnh, Hà Dừa, Chính Tòa đến Xóm Bóng, Ba Làng, Thanh Hải… Được cha Phúc sắp xếp thành Ca đoàn với 3 bè hát lễ thật hay, thật hùng tráng. Trong bài giảng lễ, cha Bề trên, chủ tế, nói: "Đạt và Đan Thanh thân mến, có một nhà văn người Pháp đã viết: Yêu không phải là nhìn nhau, mà là cùng nhau nhìn về một hướng. Cha không đồng ư với ư kiến này vì nếu không nhìn nhau thì có biết nhau đâu để mà cùng nhau nhìn về một hướng; Đạt và Đan Thanh đã gặp nhau, nhìn nhau, tìm hiểu nhau, thông cảm quí mến nhau, và yêu nhau với sự nâng đỡ, góp ư, khuyên bảo của cha mẹ đôi bên, sự hướng dẫn của cha Trợ úy và khuyến khích, hỗ trợ của các bác trong Dòng Ba, các anh chị trong Đoàn. Hôm nay, trước mặt Chúa và trước mặt cộng đoàn, các con thề hứa yêu thương, trung thành với nhau và cùng nhau xây dựng một mái ấm gia đình, cùng nhau xây dựng một căn nhà Chúa mang tên Đan Thanh và Đạt. Nhà Chúa thì có nhiều loại kiến trúc, to nhỏ, gô-tích hay rô-manh, kiểu tây hay á đông... Cha mong rằng căn nhà của chúng con dâng Chúa sẽ có "dáng vẻ" Phan Sinh; vì chúng con là Giới Trẻ Phan Sinh, cha mẹ chúng con là Dòng Ba Phan Sinh, các bác, cô chú, anh chị ở đây là Phan Sinh. Mái ấm của chúng con, ngoài việc gìn giữ những đức tính truyền thống Á đông, kính trên nhường dưới, trên thuận dưới hòa, phải có thêm những đức tính Phan Sinh như đơn sơ chân tình, hiền lành khiêm nhường, rộng lượng tha thứ và yêu thương phục vụ, không phải chỉ trong gia đình chúng con mà còn mở rộng ra với mọi người."
Tiệc cưới được tổ chức tại Hội trường Giáo xứ, hơn 30 bàn do chính các bác trong Dòng Ba nấu nướng và các anh chi giới trẻ tiếp tân. Hai ông bà sui gia, tức Ba Mẹ của Đạt và Đan Thanh ngồi chung bàn với các cha. Cha Hải trong lúc cụng ly với ông Hợi, hỏi khéo: "Nghe nói ông Hợi kén rể lắm, bây giờ có rể mới, ông có vui không? Ông Hợi thưa: Thưa cha, đúng là con có ý lựa chọn, nhưng mình chọn không bằng Chúa ban cho; Thưa cha, chúng con là Phan Sinh, kén được dâu rể Phan Sinh là tốt nhất rồi". Cả bàn tiệc cùng vỗ tay hoan hô ý kiến bộc trực nhưng rất thành thật của ông Hợi, trong lúc ban nhạc bắt đầu trổi lên khúc ca đám cưới quen thuộc: "Em bên mình anh, lặng yên trước bàn thờ ..." (Oui devant Dieu).
â
Nguyễn Đình Nam
|
|

Trở về mục lục >>

Lời Mời Gọi
Khi cầu nguyện cho người khác cũng là cầu nguyện cho chính mình, và khi cùng cầu nguyện với nhau thì hiệu quả của lời cầu nguyện càng hữu hiệu hơn.
Nếu quí vị có những ý chỉ muốn cùng cầu nguyện với chúng tôi, xin hãy liên lạc với chúng tôi qua điện thoại 714-720-4465, hay qua email psttvnusa@yahoo.com hoàn toàn miễn phí. Chúng tôi không thể tự ý phổ biến công khai những ý chỉ cầu nguyện nếu không có ý kiến của quí vị.
Xin những ai quan tâm đến những ư chỉ dưới đây, cùng hiệp ý cầu nguyện với chúng tôi vào lúc 9 giờ tối mỗi đêm (theo giờ California, Hoa Kỳ). Tuy nhiên, xin quí vị cứ tiếp tục cầu nguyện vào những lúc thuận tiện với hoàn cảnh của mình.
Tâm Tình Tạ Ơn
- Nhờ ơn Chúa thương, và nhờ lời cầu nguyện của các anh chị Phan Sinh, tôi đã mỗ mắt an toàn dù là trường hợp khá tế nhị vì vừa bị tiểu đường vừa bị glaucoma. Thị lực của tôi trở lại được 70%; Các bác sĩ nói tôi có thể sinh hoạt bình thường. Xin tạ ơn Chúa và cám ơn lời cầu nguyện của các anh chị. (Nguyễn Đình Nam)
Xin Ơn Chữa Lành Thể Xác
- Chị Đông thuộc hđđ PSTT ở Bocton xin cầu nguyện cho mẹ là bà Maria Trần thị Xang 99 tuổi, bị bệnh nặng và hiện đang nằm trong bệnh viện ở Phan Thiết, Việt Nam.
- Xin cầu nguyện cho anh Gioan Nguyễn Đức Thu, phó Phục vụ trong Hội Đồng Miền Phan Thiết bị chẹt thần kinh cổ và lưng, do đó bị tê chân tay tê lưng và đau các khớp, rất nguy hiểm, đi đứng không được.
- Xin cầu nguyện cách đặc biệt cho anh Nguyễn Văn Thắng, sfo của thuộc huynh đệ đoàn Clara, quận Cam, bang Cali mới bị bệnh nặng.
- Và cầu cho các bệnh nhân: Trần Việt Cường, Nguyễn Thanh Thủy, Đào Đình Ngọc, Lý Bùi, Nguyễn Thanh Hằng, Nguyễn K. Phượng, Trần C. Kevin, Trần T. Cúc. Trần T. Huệ, Nguyễn Kim Ngọc, Quyên Trần, Dương Diệu Lydia, Minh Thu, Nguyễn Tùng, Babi P.Khanh Lê, Phạm Linh, Kinh Lê, H. Lê, Lê Đoàn, C.Nguyễn, Hoàng Hậu, Trân Trần, Vũ Ngọc Jennifer, Ray Hardwick, LM William Brand, ĐGM Nicolas Huỳnh Văn Nghi.
Xin Ơn Chữa Lành Tâm Hồn
- Chị Vân xin cầu nguyện cho gia đình của người con trai được ấm êm, thoát cảnh lục đục vì lý do việc làm và kinh tế chi phối.
- Một gia đình xin cầu nguyện cho một số tu sĩ và nữ tu đang giao động ơn gọi vì bị ảnh hưởng của sức khỏe.
Xin Cầu Nguyện Theo Ý Đặc Biệt
- Hiện nay, "Văn Hóa Sự Chết” đang lan tràn khắp nơi, riêng nước Hoa Kỳ ngày càng tồi tệ hơn, nhất là những chương trình ủng hộ "phá thai" và "tế bào gốc" lấy từ phôi thai nhi… Do đó, xin quí anh chị hãy KÊU NÀI CÁC LINH HỒN THAI NHI, NHẤT LÀ NHỮNG LINH HỒN ĐÃ BỊ PHÁ HỦY TỪ TRONG CUNG LÒNG CỦA NGƯỜI MẸ và cùng kêu cầu CÁC THẦN THÁNH TRÊN THIÊN QUỐC hiệp ý với CHÚNG TA nài xin Chúa Thành Thần soi lòng dạy dỗ cho những nhà lãnh đạo các quốc gia, những người làm Luật, những bác sĩ và chuyên viên y tế cũng như những người làm Cha-Mẹ hãy ngưng việc sát hại những thai nhi vô tội. Uớc mong quí anh chị hãy tưởng nghĩ đến các linh hồn thai nhi và cầu nguyện với các linh hồn thai nhi ít là 2 lần trong ngày: vào giờ Kinh Sáng và Kinh Tối. Mong lắm thay.
Xin Cầu Nguyện Cho Các Linh Hồn
- Linh hồn mới qua đời là: Phêrô Diệu
- Và các linh hồn Angela: Ngọc.
Anna: Hoa, Sáu, Chiểu,
Điểm, Phượng, Ri. Antôn: Vượng, Đại. Cecilia Kỷ. Giacôbê: Dũng. Gioan Baotixita: Ngọc, Vinh Chính, Hoả, Khoát. Gioankim: Thống. Gioan-Phaolô: Bất. Giuse: Luận, Tý, Bình, Đoài, Hân, Hiền, Hồng, Kiên, Long, Mỹ, Thanh, Tính, Từ Giuse-Maria: Diệm, Phán. Katarina: Kính. Luca Khoa. Lucia: Phụng. Madalêna: Hà, Kim Cúc. Maria: Nhật Ánh, Tín, Thứ, Vân, Bình, Đường, Khiếu, Như, Oanh, Phúc, Tính, Trang, Tranh. Maria Juliette: Độ. Maria Rosa: Quang. Matta: Tốt. Phanxicô Saviê: Xân. Phaolô: Lộc, Nghị, Qui, Thông. Phêrô: Tụng, Cư, Hữu, Lý, Lộc, Thạnh, Thế, Tự. Têrêsa: Phương Anh, Chi, Bích Mai, Thu. Tađêô: Dương. Tôma: Toàn. Vêrônica: Úy. Hồng y: Phaolô Giuse Tụng. Các linh mục: Giuse Biên, Phêrô Bá, Gabriel Phong. Các linh hồn thân quen: Diệp Hoa, Diệp Thọ, Mai Anh, Dorren Harvey. Và các linh hồn không ai nhớ đến.
- Linh mục Lê Quang Uy, DCCT xin chúng ta cầu nguyện cách đặc biệt cho linh hồn các thai nhi đã bị giết chết (phá thai) ngay khi còn trong bụng của các bà mẹ.

Trở về mục lục >>

Tin Tức Của Hội
Đồng Phục Vụ Miền
- Lịch trình các buổi Học Hội Đợt II
1-. San Diego County ngày 22/03/2009 tại St. Patrick’s Church Hall
3538 30th St. San Diego, CA 92104. ĐT: 619-296-2385
2-. Orange County ngày 18/04/2009 tại Santiago de Compostella Catholic Church 21682 Lake Forest Drive, Lake Forest, CA 92630
3-. San Bernardino-Riverside Area ngày 30/05/2009 tại Our Lady of the Assumption Church; 435 Berkeley Ave. Claremont, CA 91711
4-. Los Angeles ngày 25/0 7/2009 tại St. Francis of Assisi Church (địa chỉ sẽ thong báo sau)
5-. Tri-Counties ngày 05/09/2009 tại Santa Barbara Mission (địa chỉ sẽ thong báo sau)
- Tĩnh tâm hằng năm: (Serra Retreat) ngày 22-24/05/2009 tại Malibu
- Đại hội Miền ngày ngày 17/10/2009: Kỷ niệm 800 năm thành lập Gia Đình Phan Sinh tại St. Margaret Mary Parish, 12686 Central Avenue, Chino, CA 91710. Đt (909) 627-8466
Tin Tức Của Hội Đồng Trợ Úy Miền
- Khóa huấn luyện về Trợ Úy và Huấn Luyện sắp sửa kết thúc, các anh chị ấy sẽ có một ngày tĩnh tâm trước khi được “sai đi” vào tháng 5, Và cũng trong tháng Năm 2009 sẽ có ngày "gặp gỡ" để giới thiệu về chương trình học tập cho các anh chị muốn trở thành người Trợ Úy Tinh Thần và Phụ Trách Huấn Luyện. Xin các anh chị Phục Vụ các Hđđ báo cho Miền biết số ứng viên muốn tham dự chương trình huấn luyện này càng sớm càng tốt.
Tin Tức Của H đđ Antôn, San Diego
- Dự kiến huynh đệ đoàn Antôn sẽ có 2 anh chị đi học khóa Trợ Úy và Huấn luyện, xin chúc mừng.
- Tuần qua trong huynh đệ đoàn Antôn có chị Maria Phạm Thị Lụa được Chúa gọi về.
- Ngày học hội kỳ II do Miền tổ chức tại San Diego có 9 anh chị tham dự. - Huynh đệ đoàn Antôn mới tổ chức Nghi Thức Giới Thiệu cho 3 thành viên mới là anh Giuse Tạ Quang Vinh, chi Lucia Nguyễn Thị Ngoc Yến và chị Têrêsa Trần Thị Tuyết. Và 3 thành viên mới dến tìm hiểu là anh Vincente Nguyễn Công Uẩn, chi Teresa Nguyễn Thị Thơm và chị Maria Mai Thi Châu. (Chị Maria Phạm Phúc đưa tin)
Tin Tức Của H đđ Agnes, Westminster
- Chuẩn bị báo cáo quý I, năm 2009,
- Chuẩn bị để đón tiếp Hội Đồng Phục Vụ và Hội Đồng Trợ Úy đến thăm viếng Mục Vụ và Huynh Đệ vào ngày 6 tháng 9, 2009 để chuyển Nhóm Tân Lập Agnes thành Huynh Đệ Đoàn chuyển tiếp.
- Dự kiến tháng 7, 2009 sẽ có ngày Hành Hương Kỷ Niệm 800 năm thành lập các Dòng Tu thuộc Đại Gia Đình Phan Sinh.
- Dự kiến Hđđ Agnes sẽ có 2 chị đi học khóa Trợ Úy và Huấn luyện, xin chúc mừng.
Tin Tức Của H đđ Clara, Santa Ana
- Ngày Chúa Nhật 3/5/2009, HĐĐ sẽ có cuộc bầu cử Hội Đồng Phục Vụ cho nhiệm kỳ mới. Hy vọng quí anh chị trong ban bầu cữ đã chuần bị cho ngày sinh hoạt quan trọng ấy. Xin quí anh chị được anh chị em tín nhiệm đề cử hãy can đảm và quảng đại đáp trả lời mời gọi để dấn thân phục vụ Chúa qua anh em của mình. Xin cùng cầu nguyện cho cuộc bầu cử luôn thuận theo ý Chúa.
Tâm Tình Của Ban Biên Tập
- BBT hiện đang gặp trở ngại về cộng tác viên: từ người viết bài, sửa bài, đánh máy, lên khuôn, đưa đi copy, và đi gởi… vì trong số các anh chị ấy có người bị bệnh tật không thể viết bài, có người vì bận bịu về công việc làm, chuyện gia đình, và một số anh chị phải đảm nhận nhiều công tác khác của hội dòng… xin những anh chị nào có thể cộng tác với BBT, xin vui lòng hy sinh chút thì giờ quí báu cộng tác với chúng tôi để duy trì tờ Bản Tin được tiếp tục đến tay các anh chị phan sinh tại thế và thân hữu. Mong lắm thay!
Chủ
Đề Của Tháng 06-2009
Tháng Ba, xin quí anh chị viết về "Sống Cầu Nguyện". Nếu có thể, xin vui lòng gởi bài trước ngày 20 mỗi tháng. Vì những mục định kỳ không thể cắt xén, và số trang bị giới hạn, do đó mục Những Bài Đọc Thêm xin quí anh chị vui lòng thu ngắn bài viết cho tiện việc in ấn. Hơn nữa, những bài viết đã gởi và đăng nơi những Bản Tin hay Báo Chí khác, xin đừng gởi cho psttvnusa.net vì đây là sự tế nhị. Nhất là khi phải sửa đổi đôi chút vì lý do kỹ thuật hay ý tưởng cho phù hợp với Bản Tin của psttvnusa.net. Kính mong quí vị thông cảm.
Trở về mục lục >>
|