Mọi thư từ liên lạc, xin gửi về PSTTVNUSA@YAHOO.COM. Copyright © 2002 WWW.PSTTVNUSA.NET. All rights reserved.
|
|
TÍNH NHÂN BẢN TRONG ĐỜI SỐNG KITÔ HỮU
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Trong Số Này:
Thưa quí anh
chị, Trong Tháng Hoa
mừng kính Đức Mẹ Mân Côi, xin được nhắc nhớ một nét nhỏ về gương sống của Mẹ
Maria, một gương sống rất thực tế của Người Mẹ tuyệt hảo nhất nhân loại, và là
Người Mẹ cao trọng và vẹn toàn nhất của mọi Kitô hữu. Ngày xưa, khi
cúi đầu trước Sứ Thần Gabriel để lănh nhận Thiên Chức Làm Mẹ, khi lên tiếng trả
lời Sứ Thần qua tiếng Xin Vâng th́ Chúa Thánh Thần đă hiển trị để bao phủ xác
hồn, tâm trí của Mẹ; và cũng trong giây phút huyền siêu ấy, Đức Thánh Nhi Giêsu
đă ngự xuống nơi cung ḷng của Mẹ, và làm cho Mẹ trở thành Mẹ Thiên Chúa, Mẹ
nhân loại. Khi lănh nhận
Thiên Chức Làm Mẹ, Mẹ không nghĩ đến danh phận cao sang mà Thiên Chúa sẽ trao
tặng Mẹ; Mẹ chỉ luôn tâm niệm rằng đây là sứ mệnh, là bổn phận của Mẹ khi đem
Chúa vào đời… Một khi Chúa chấp nhận mang thân phận thấp hèn để đến với con
người như thế nào, th́ Mẹ cũng sẽ đem Chúa đến với ‘con người’ một cách khiêm
cung thẳm sâu như thế. Cùng với Hài
Nhi Giêsu, Mẹ đă ra đi trong vội vả mà không quản đường dài, không ngại vất vả
gian nan để lên đường khi biết tin người chị Họ là bà Isave đang mang thai. Khi
gặp bà Isave, Mẹ lại cúi ḿnh chào ‘con người’ trước khi ‘con người’ lên tiếng
chào Mẹ. Và Mẹ đă ở lại nơi đấy gần ba tháng để hầu hạ, chăm sóc, phụng sự ‘con
người’ như một kẻ tớ hèn với trọn vẹn yêu thương. Qua việc Mẹ đi
thăm viếng bà Isave, chúng ta hăy suy niệm về ḷng Mẹ quá đổi bao la như thế
nào? Sự khiêm cung của Mẹ thẳm sâu như thế nào? Vâng, trái tim Mẹ dào dạt t́nh
mến đă thôi thúc Mẹ phụng sự Chúa đến quên cả thời gian, quên cả bản thân ḿnh…
Cũng vậy, là Mẹ Thiên Chúa, nhưng Mẹ lại đến với ‘con người’ bằng trái tim chứ
không bằng uy quyền. Là Mẹ nhân loại nhưng Mẹ đă tự hạ ḿnh phục vụ cho nhân
loại bằng hết cả tâm trí, xác hồn… Thực vậy, sự
lên đường vội vả của Mẹ dạy chúng ta phải lên đường mỗi ngày với ḷng nhiệt
huyết hăng say. Mẹ không ngại gian nan khốn khó trên đường dài, dạy chúng ta tập
sống hy sinh. Mẹ đi thăm viếng dạy chúng ta biết yêu thương anh em ḿnh. Mẹ hầu
hạ dạy chúng ta sống đơn sơ hèn mọn. Mẹ phục vụ dạy chúng ta sống quên ḿnh. Mẹ
lưu lại trong gia đ́nh của d́ Isave dạy chúng ta sống b́nh dị, gần gủi, giúp
nhau hoàn thiện… Gương sống đạo của Mẹ
cũng đă nhắc nhở cho chúng ta về một cuộc sống nhân bản Kitô giáo: “Để trở nên
người Kitô hữu đúng nghĩa th́ phải biết yêu thương trong đơn sơ, chân thành.” V́
tâm đơn sơ th́ ḷng mới thanh, trí mới sạch. Có ḷng thanh trí sạch th́ mới có
thể vượt qua rào cản vật chất đang chằn chịt cản bước yêu thương. Có yêu chân
thành mới dám hy sinh. Có biết hy sinh mới dám quên ḿnh; Và dám quên ḿnh mới
có thể phục vụ anh em. Biết quên ḿnh mới chế ngự được mọi tội lỗi xấu xa, ghê
tởm đang hoành hành khắp mọi ngơ nghách trong tâm hồn của ḿnh. Thưa quí anh
chị, Mẹ đă dành cả một đời để đem Chúa đến cho mọi người và gieo rắc yêu thương
bằng cách phụng sự Chúa trong mọi người. Chúng ta, hăy bắt chước Mẹ để trở thành
một “Maria khác” giữa ḷng đời hôm nay. Nếu mỗi người làm được một khía cạnh nhỏ
như Mẹ đă làm th́ thế giới này sẽ đổi thay và tiến dần đến chổ hoàn thiện… Hăy
làm ngay v́ thời gian không chờ đợi một ai cả! Hăy vội vả lên đường kẻo không
kịp! BBT
(Mátthêu 28,16-20; Thăng Thiên: A)
28:16Mười
một môn đệ đi tới miền
Ga-li-lê, đến ngọn núi
Đức Giê-su đă truyền cho các ông đến. 28:17Khi thấy Người, các ông
bái lạy,
nhưng có mấy ông lại
hoài nghi. 28:18Đức
Giê-su đến gần, nói với các ông: "Thầy
đă được trao toàn quyền trên trời dưới đất.
8:19Vậy anh em
hăy đi và làm cho muôn dân trở thành môn
đệ, làm phép rửa cho họ
nhân danh Chúa Cha, Chúa
Con và Chúa Thánh Thần,
28:20dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đă truyền cho anh em. Và
này đây,
Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế".
1.- Ngữ cảnh
Ở đây, chúng ta chỉ đề cập đến ngữ cảnh trực tiếp, đó là mộ
trống với hai sứ điệp, một tích cực, một tiêu cực:
a) Sứ điệp tích cực
Sứ điệp tích cực được gửi đến trong hai th́:
- bởi sứ thần khi ngài giao phó cho các phụ nữ hai sứ mạng là
làm chứng về sự Phục Sinh của Đức Giêsu và loan báo cho các môn đệ lệnh triệu
tập của Đức Giêsu (28,1-8). Đây là kinh nghiệm tiêu cực về sự Phục Sinh.
- bởi chính Đức Giêsu Phục Sinh (28,9-10): Người cho các phụ nữ
sống một kinh nghiệm thực hữu về sự Phục Sinh của Người và giao cho họ cùng một
sứ mạng, là triệu tập các môn đệ về Galilê.
Đoạn văn 28,16-20 cho hiểu rằng các phụ nữ đă chu toàn hai sứ
mạng được giao: khi quy tụ về quả núi đă được chỉ định tại Galilê, các môn đệ
chứng tỏ các ông đă tin vào chứng tá của các phụ nữ liên hệ đến cuộc Phục Sinh
để cũng có thể tin vào lệnh triệu tập được các bà chuyển cho.
b) Sứ điệp tiêu cực
Sứ điệp tiêu cực là truyện sai lạc về Đức Giêsu, được toán lính
tung ra theo tṛ bịp bợm của các thủ lănh Do-thái.
Đoạn văn này nêu bật sự tương phản (c.16: de) giữa các
thủ lănh Do-thái và toán lính một bên, và bên kia, là Đức Giêsu và các môn đệ
Người, giữa sứ điệp do người Do-thái tung ra và thực tế; vậy đoạn văn này chính
là một lời phi bác tin đồn thất thiệt đă được phổ biến. Đối với người Do-thái,
Đức Giêsu là một xác chết, c̣n các môn đệ Người là những tên trộm cắp và dối
trá; trong thực tế, Đức Giêsu đă chiến thắng cái chết, đă sống lại, được ban cho
toàn quyền của Thiên Chúa và đảm bảo bằng sự hiện diện đầy uy lực của Người; các
môn đệ Người không t́m cách đánh cắp thi hài, nhưng đă đi về Galilê, đi xa ngôi
mộ, để gặp Đức Giêsu Phục Sinh. Tin Mừng sẽ đi đến với “mọi dân tộc”, chứ không
như tin đồn thất thiệt kia, chỉ được loan truyền “giữa người Do-thái” mà thôi.
Giáo huấn phổ quát (didaskontes) mà các môn đệ của Đức Giêsu, vị Tôn Sư
tuyệt đối (didaskalos, 23,8), sẽ cống hiến cho mọi dân tộc sẽ hoàn toàn
vượt xa những ǵ toán lính phổ biến, v́ họ đă làm theo lời “các thượng tế dạy” (edidachthêsan
, 28,15). Các môn đệ sẽ được che chở và nâng đỡ “cho đến tận thế”, không phải
bởi một quyền bính nhân loại như quyền bính của các thượng tế, nhưng bởi uy
quyền của Đấng Phục Sinh, Chúa tể vũ hoàn.
2.- Bố cục
Bản văn có thể chia thành hai phần:
1) Cuộc diện kiến của Nhóm Mười Một với Đức Giêsu (28,16-17);
2) Các lời nói của Đức Giêsu (28,18-20):
a) Mạc khải về quyền năng (18),
b) Lệnh truyền giáo (19-20a),
c) Hứa hiện diện hỗ trợ (20b).
3.- Vài điểm chú giải
- Về phần mười một môn đệ (16):
Ở đầu c.16 này, có tiêu từ de (“và”, “rồi”; “nhưng”; “về phần”) hẳn là để
nêu lên sự tương phản giữa báo cáo sai lạc của toán lính với sự thật về cuộc
hiện ra của Đức Giêsu với mười một môn đệ.
- Mười một môn đệ
(16): Trong Mt, Đức
Giêsu có một nhóm các “môn đệ” (mathêtês: Mt 73 lần, Mc 46 lần, Lc 37
lần, Ga 78 lần. Có 65 trong Mt ở số phức) luôn luôn được xác định bằng quán từ
(article) hoi (x. 5,1; 8,21; 9,10; 12,1; 13,10; 14,15; 15,2; 16,5; 28,7).
Điều này khẳng định rằng họ được biết rơ trong tư cách đó và họ không phải là
nhóm “bảy mươi hai” của Lc (vả lại, Lc không gán cho nhóm “bảy
mươi hai” cái tên “môn đệ”, mà là “bảy mươi hai người khác”, x. Lc 10,1). Các
ông là những người sống hiệp thông với Thầy ḿnh (“einai meta” [“ở
với”]), tháp tùng Thầy trong sứ vụ của Người (9,19), cùng làm việc với Người để
phục vụ các đám đông (9,36-37), được nêu ra làm gương cho các đám đông và được
giới thiệu như là gia đ́nh đích thực của Đức Giêsu (12,46-50). Mt xác
định rằng các ông là “mười hai môn đệ” (10,1; 11,1; hay là “Nhóm Mười Hai”:
20,17; 26,20; ở c. 10,2, các ông cũng được gọi là “mười hai tông đồ” cùng với
tên của các ông).
Con số “mười một” nhắc đến sự vắng mặt thê thảm của Giuđa, “một
trong Nhóm Mười Hai” (26,14.47; x. 10,2.4): sự hư hỏng đă xảy ra ngay trong
nhóm, tức là đây không phải là một nhóm toàn vẹn; với lại, tất cả các ông khác
đều đă té ngă (x. hoi mathêtai: 26,56b; Phêrô: 26,69-75). Nhưng sứ điệp
mà Đức Giêsu ban cho các ông nhờ trung gian các phụ nữ đă là một dấu cho thấy
Người tha thứ và ḥa giải; Người gọi các ông là “anh em của Thầy” (28,10). Bây
giờ, cuộc hành tŕnh của các ông tiến về với Đức Giêsu và sự hiện diện của các
ông tại nơi Người đă chỉ định là một dấu chứng tỏ các ông đón nhận sự tha thứ và
ḥa giải.
- ngọn núi
(16): To oros
(danh từ với quán từ) khẳng định rằng chính là trên một quả núi mà Đức Giêsu và
các môn đệ đă biết, nhưng không cung cấp một xác định nào khác.
-
Bái lạy
(17): Mt
chỉ dùng động từ proskyneô (Mt 13 lần; Mc 2 lần;
Lc 2 lần) cho những ai đă nh́n nhận phẩm giá của Đức Giêsu và
diễn tả sự nh́n nhận đó ra bằng hành vi này (x. các hiền sĩ: 2,2.8.11; người
phong cùi: 8,2; ông trưởng hội đường: 9,18; các môn đệ trên thuyền: 14,33; bà
Canaan: 15,25; mẹ các con ông Dêbêđê: 20,20; các phụ nữ tại mồ: 28,9).
- Nhưng có mấy ông lại hoài nghi
(17): Trong Tân Ước, động từ
distazein chỉ xuất hiện ở 14,31 (Phêrô đi trên mặt nước) và ở đây. Động từ
này nhắc đến những ǵ Tin Mừng đă nói biết bao lần về phẩm chất của đức tin của
các môn đệ: ở 6,30; 8,26-27; 14,31; 16,8; 17,20 (x. câu 17). Mt là tác
giả duy nhất ghi nhận “đức tin lớn (megalê hê pistis)” của bà Canaan
(15,28). Cùng với đề tài đức tin, Mt tŕnh bày đề tài sự hiểu biết (synienai)
và không hiểu biết: ở 15,16; x. 16,12; 17,13.
- Thầy đă được trao toàn quyền trên trời dưới đất
(18): Động từ edothê ở
th́ aorist thái bị động trần thuật (passive indicative): Th́ aorist nhắm đến một
sự kiện đă hoàn tất, chứ không phải là một lời hứa hay một niềm hy vọng; hẳn là
ta có thể nghĩ đến một quan hệ mặc nhiên với sự phục sinh. Thái bị động đây là
một thái bị động thay tên minh nhiên của Thiên Chúa. Hơn nữa, cách thức khẳng
định cách tuyệt đối như thế gợi ư rằng Thiên Chúa là tác giả (so sánh c. 18b với
11,25).
Đề tài exousia cũng là một đề tài quan trọng của Mt
(9 lần: 7,29; 8,9; 9,6; 9,8; 10,1; 21,23; 21,24; 21,27; 28,18). Từ ngữ có nghĩa
là “quyền hành”, “uy quyền”, “quyền lợi”, “khả năng”, là những đặc tính của giáo
huấn và cách hành động của Đức Giêsu: phân đoạn 5,1–7,29 (Bài Giảng trên núi)
giới thiệu Đức Giêsu như là “Đấng Mêsia có uy quyền trong lời nói” (x. 7,28),
c̣n phân đoạn 8,1–9,38 giới thiệu Người như là “Đấng Mêsia có uy quyền trong
hành động” (x. 11,2) (Đức Giêsu khẳng định rằng Người có exousia này:
9,6; dân chúng: 7,29; viên sĩ quan: 8,9; khi thấy người bại liệt được chữa lành,
dân chúng tôn vinh Thiên Chúa: 9,8; Đức Giêsu nói về quyền của Người và từ chối
cho biết nguồn gốc của quyền ấy: 21,24.27). Câu 28,18 là như tổng hợp về đề tài
này và là một câu trả lời cho nhà chức trách tôn giáo: Đức Giêsu không phải là
một người mất trí hay một kẻ tiếm quyền; Người đă nhận được quyền bính này trọn
vẹn, trên toàn vũ trụ, từ Thiên Chúa (chứ không phải từ tay ma quỉ, x. 9,34). Ở
đây, điều được khẳng định là quyền (exousia) đă được Thiên Chúa
ban.
- hăy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ
(19): Trong các Tin Mừng,
động từ mathêteuein chỉ được sử dụng ở Mt (13,52; 27,57; 28,19)
với hai nghĩa: 1) nghĩa ngoại động (intransitive): trở thành môn đệ (13,52;
27,57); 2) nghĩa nội động (transitive): làm thành môn đệ; làm cho ai thành môn
đệ (28,19; x. Cv 14,21). Đây không phải là chỉ tŕnh bày, cống hiến sứ điệp,
loan báo Tin Mừng, nhưng là kiến tạo một quan hệ chặt chẽ và riêng tư. Kiểu mẫu
của quan hệ này chính là quan hệ của Đức Giêsu lịch sử với các môn đệ đă được
Người kêu gọi (môn đệ đi theo [akolouthein, x. 4,20.22; 8,23; 19,27.28],
Thầy đi trước [proagein, x. 26,32; 28,7]).
-
nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần
(19): Công thức “nhân danh
Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần ”một công thức phép rửa . Qua
công thức này, ta găp thực tại chúng ta có trong các Tin Mừng Nhất Lăm:
đó là quan hệ chặt chẽ giữa đời sống và công tŕnh của Đức Giêsu với Cha
Người trong Chúa Thánh Thần. Cựu Ước biết đến vị Thiên Chúa tạo thành
trời đất, đây là vị Thiên Chúa mà họ đến tŕnh diện trong tư cách là các thọ tạo
hoàn toàn khác với Ngài và không có quyền đi vào đối thoại với Ngài. Đức Giêsu
loan báo vị Thiên Chúa có một người đối thoại trong b́nh diện thần linh. Chúa
Con ở trước mặt Chúa Cha, và hai Đấng được liên kết với nhau, biết nhau, hiểu
nhau và yêu thương nhau trọn vẹn và hoàn hảo nhờ Chúa Thánh Thần. Bí tích Rửa
tội nhận ch́m chúng ta vào trong vùng quyền lực của vị Thiên Chúa này.
-
Này đây
(20): Mt
chuộng thức mệnh lệnh idou này. Nên ghi nhận là công thức long trọng
idou ego luôn luôn có quan hệ với ư tưởng sứ mạng: 10,16; 23,34 et 28,20.
-
Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế
(20): Khi nói minh nhiên
pasas tas hêmeras (tất cả các ngày), Đức Giêsu khẳng định Người sẽ ở thường
trực và trọn vẹn với các môn đệ. Heôs tês synteleias tou aiônos (cho đến
tận thế) có nghĩa mục tiêu, nơi đến: nhắm đến tận thế. Từ ngữ synteleia
(hoàn tất; kết cục) luôn được sử dụng với aiôn có nghĩa là “thời gian
hiện tại”, “t́nh trạng hiện nay của tạo thành” (x. 13,22; 12,31). Synteleia
tou aiônos có nghĩa là “khi kết thúc thời gian của thế giới này”. Người ta
chờ đợi một kết thúc thời gian này với việc Đức Giêsu ngự đến (x. 24,3).
4.- Ư nghĩa của bản văn
* Cuộc diện kiến của Nhóm Mười Một với Đức
Giêsu (16-17)
Phần thứ nhất kể lại các hành vi của các môn đệ trong quá khứ
(aorist) (đi tới, c.16; bái lạy, c.17; hoài nghi, c.17).
Bản văn cũng ghi nhận một hành vi của Đức Giêsu, “đă truyền” (etaxato,
c.16), nhưng chắc chắn đây là một hành vi Đức Giêsu đă làm trước các hoạt động
của các môn đệ được kể lại trong đoạn văn này; hành vi này lại chỉ là một mệnh
lệnh, một hành vi nói. Ngược lại, trong các bản văn khác về hiện ra, Đức Giêsu
hành động cùng nhịp với những người có mặt, chẳng hạn, ở Mt 28,9, Đức Giêsu đến
gặp (hypentesen) các bà. Phải chờ đến c.18 để gặp được một hành vi của
Đức Giêsu, nhưng cả hành vi này cũng chỉ là một hành vi nói (elalesen).
Các nhân vật chính của phần thứ nhất là hoi hendeka methetai,
“mười một môn đệ”. Con số này nhắc đến sự phản bội của cả nhóm. Nhưng sứ điệp mà
Đức Giêsu ban cho các ông nhờ trung gian các phụ nữ đă là một dấu cho thấy Ngài
tha thứ và ḥa giải; Ngài gọi các ông là “anh em của Thầy” (28,10). Bây giờ,
cuộc hành tŕnh của các ông tiến về với Đức Giêsu và sự hiện diện của các ông
tại nơi Ngài đă chỉ định là một dấu chứng tỏ các ông đón nhận sự tha thứ và ḥa
giải. Các môn đệ tiến về một nơi đă được Đức Giêsu xác định trước và theo thông
tin của các phụ nữ (lệnh của sứ thần (28,7) và lệnh của Đức Giêsu ban cho các
phụ nữ).
Trong
Mt, ta không thấy có một lệnh
minh nhiên của Đức Giêsu là đi đến một ngọn núi được xác định, nhưng có những
chi tiết liên hệ đến Galilê. Tất cả các chi tiết này, khi được đặt vào trong bối
cảnh là cuộc Thương Khó và Phục Sinh, th́ giống như những tia chớp hy vọng được
ban cho các môn đệ (tại núi Ô-liu, Đức Giêsu đă nói đến Galilê: 26,32; tại mộ,
vị thiên thần đă nhắc đến Galilê: 28,7; Đức Giêsu xác nhận sứ điệp: 28,10).
Chuyến đi đưa các ông về nơi Đức Giêsu đă chỉ định cho thấy rằng họ vừa thi hành
lệnh Đức Giêsu truyền, họ vừa ư thức rằng họ đang được trở vào trong t́nh bằng
hữu với Ngài, t́nh bằng hữu mà Ngài đă mời họ đến khi gọi họ là “anh em của
Thầy” (28,10).
Như thế, câu truyện sẽ kết thúc ngay tại nơi mà sứ vụ của Đức
Giêsu đă bắt đầu: tại “Galilê, miền đất của dân ngoại”, đă xuất hiện ánh sáng có
sức thắng vượt bóng tối của tử thần (4,15-16) và giúp cho có thể bắt đầu việc
rao giảng cho muôn dân (28,19). Ở đây tầm quan trọng của Galilê đặc biệt có tính
thần học: Đấng Phục Sinh gặp lại các môn đệ Ngài tại nơi chính của hoạt động
trần thế Ngài (nhất là theo Mc và Mt); điều này giả thiết có một
sự tiếp nối giữa Đức Giêsu trần thế và Đức Kitô Phục Sinh, một sự tiếp nối mà
c.20a sẽ nêu bật minh nhiên (“[bằng cách] dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy
đă truyền cho anh em”). Do chính sự kiện này, Ngài xác nhận việc loan báo
đầu tiên của Ngài, hoặc đơn giản hơn, xác nhận trọn vẹn sứ mạng của Ngài và giới
thiệu sứ mạng ấy như mẫu mực cho các môn đệ.
Lời Đức Giêsu nói với các phụ nữ (28,10), “họ phải đi đến
Galilê”, là một mệnh lệnh, c̣n “họ sẽ được thấy Thầy ở đó” là một lời hứa. Vậy
bản văn của chúng ta là sự hoàn tất mệnh lệnh ấy và sự thực hiện lời hứa ấy.
“Ngọn núi” không phải là một nơi mà người ta hẳn là có thể xác
định theo địa lư; đây là nơi tiêu biểu cho mạc khải (5,1: “Bài Giảng trên núi”;
15,29: mạc khải của Đấng cứu thế, Đấng nuôi dưỡng dân Ngài như ông Môsê xưa kia
trong hoang địa; 28,16: “ngọn núi” xuất hiện lần thứ ba, để cũng nêu bật tầm
quan trọng của mạc khải như thế).
Sự kiện các môn đệ “thấy” Đức Giêsu được kín đáo giới thiệu bằng
một vị tính từ (participle), lệ thuộc động từ chính: “các ông bái lạy”.
Việc “thấy Đức Giêsu” chỉ được nhắc đến ngắn ngủi ở đây, khác với các bài tường
thuật khác về hiện ra, nhưng nó chẳng c̣n giá trị ǵ khi nói về niềm tin Phục
Sinh. Sự kiện quan trọng đối với Mt là “các ông bái lạy” (prosekynesan),
đây là cách tôn kính mang tính tôn giáo và thậm chí phụng vụ. Thái độ này diễn
tả trước những ǵ sẽ được lời tuyên bố ở c.18b loan báo về quyền của Đức Giêsu.
“Nhưng có mấy ông lại hoài nghi” (c.17). Ở đây, nỗi ngờ vực đă xảy đến
idontes, “khi thấy Người” như là Đấng Phục Sinh. Chúng ta phải ngạc nhiên
khi thấy phát sinh nỗi ngờ vực, nghĩa là một t́nh trạng ngần ngại, lưỡng
lự, trong bối cảnh lại quá đậm đặc và tiêu biểu này. Phản ứng này xuất hiện
nhiều lần trong các bài tường thuật khác về hiện ra. Nỗi hoài nghi được thắng
vượt mỗi lần một cách: Đấng Phục Sinh xin các ông cho ăn (Lc 24,41tt); Đức Giêsu
hiện ra một lần nữa với các môn đệ lúc đầu không tin (Mc 16,14tt); Tôma có thể
chạm tới các vết thương của Đức Giêsu (Ga 20,24-29). Ta không thấy có ǵ tương
tự ở đây cả. Có lẽ sự hoài nghi này liên hệ đến một thời đại muộn màng hơn: cộng
đoàn hôm nay không c̣n thấy Đức Giêsu bằng mắt thịt nữa, họ có thể rơi vào hoài
nghi; họ phải thắng vượt khó khăn này nhờ dựa vào lời của Đấng Phục Sinh. Các
lời nói của Đức Kitô Phục Sinh và sự vâng phục của các môn đệ với lời Ngài là
cách thế duy nhất giúp vượt qua nỗi hoài nghi.
* Các lời nói của Đức Giêsu (18-20)
Đứng trước đức tin xen lẫn hoài nghi của các môn đệ, lời Đức
Giêsu nói cung cấp câu trả lời. Đấng Phục Sinh không trách các ông về sự bất
trung hoặc về nỗi hoài nghi; thậm chí Ngài cũng không xua tan nỗi hoài nghi bằng
một cử chỉ hoặc một chứng từ bổ sung. Ngài đến gần các ông và nói . Ngài
từ xa đến với những người là các môn đệ Ngài, vâng phục Ngài và đang cung kính
bái lạy Ngài. Chỉ ḿnh Ngài có thể vượt qua khoảng cách bằng cách đi đến với các
ông. Proserchomai là một động từ được Mt ưa chuộng (Mt 52x; Mc 5x;
Lc 10x; Ga 1x), nhưng chỉ có hai lần ông diễn tả một hành vi chủ động của Đức
Giêsu (ở đây và ở 17,6-7: hai đoạn riêng của Mt ): trong trường hợp này,
Đức Giêsu đến gần là để nâng đỡ những người đang hoài nghi hoặc đang sợ.
Vấn đề ở đây là một lời nói, vấn đề ở đây là nghe
chứ không phải là thấy. Chính lời nói của Đức Giêsu tạo được sự trấn an diễn tả
ra bằng hành vi đến gần: Ngài tự tỏ ḿnh ra trong lời Ngài nói như là Đấng được
đặt để trong quyền bính và nói với uy quyền. Trong tư cách đó, Ngài hiện diện
trong thời gian của thế giới, trong Giáo Hội cho đến tận thế.
Thầy đă được trao toàn
quyền trên trời dưới đất (18b).
Được đặt ở đầu bài diễn từ, mạc khải này đỡ nâng các khẳng định tiếp sau: lệnh
truyền và lời hứa. Đức Giêsu khẳng định quan hệ của Ngài với Thiên Chúa và vị
trí hiện nay của Ngài: chính Thiên Chúa, Cha của Đức Giêsu (so sánh với 9,6.8;
11,27 và Đn 7,14), đă ban cho Ngài tất cả các quyền hành trên trời dưới đất.
Theo lời rao giảng tiên khởi (kerygma) của các tông đồ,
do Phục Sinh, Ngài đă được đặt làm Đức Chúa (Kyrios) trên vũ trụ và làm
Thẩm phán vào lúc tận thế. Trong thực tế, bản văn không nói cho biết là Ngài đă
được Chúa Cha đặt để như thế khi nào, nhưng nhấn mạnh rằng quyền lực tối thượng
này của Đấng Phục Sinh là vô biên (pasa ) tự nó trong sự viên măn và
trong cường độ của nó: trong không gian, Đấng Phục Sinh hiển trị trên vũ hoàn
(trời và đất), như trong Cựu Ước, Thiên Chúa được nh́n nhận là Chúa tể trời đất,
nghĩa là Đấng Tạo hóa và Bảo toàn tất cả vũ trụ; và trong thời gian, Ngài hiển
trị bây giờ và cho đến tận thế.
Bây giờ, trong tư cách là Đấng đại diện toàn quyền của Thiên
Chúa, Đức Giêsu là Đấng mạc khải cánh chung cho biết ư muốn của Thiên Chúa và là
Đấng thực hiện dự phóng cứu độ của Ngài. Các môn đệ có thể hoàn toàn chắc chắn
rằng họ được ban cho quyền này.
Từ oun , “vậy”, gợi ư là lệnh truyền này là hậu quả của
tuyên bố về quyền vũ hoàn của Đức Giêsu, là sứ mạng của Nhóm Mười Một phát xuất
từ quyền bính của Đức Kitô. Tuy nhiên, lệnh truyền được ban cho toàn nhóm, điều
này cho thấy rằng bổn phận truyền giáo là một nhiệm vụ của toàn thể cộng đoàn
chứ không của một vài cá nhân. Uy quyền (c.18) và sự hiện diện của Đức Giêsu
(c.20) sẽ cho các ông đủ tư cách và uy tín mà chu toàn bổn phận này.
Khi đi rao giảng, các môn đệ không chỉ tŕnh bày, chỉ cống hiến
sứ điệp, loan báo Tin Mừng (keryssein), nhưng là kiến tạo một cộng đoàn
có quan hệ chặt chẽ và riêng tư. Tương quan của các môn đệ với Đức Giêsu là kiểu
mẫu cho sự hiệp thông với Ngài mà mọi dân tộc đang được đưa dẫn tới. Kể từ nay,
kiểu mẫu này là chuẩn mực cho mọi ki-tô hữu: “môn đệ” có thể nói là định nghĩa
ngắn nhất của ki-tô hữu. Được giao sứ mạng “làm ra các môn đệ”, Nhóm Mười Một
đang hiện diện ở đây sẽ có thể rút ra từ đó biết bao hệ luận: một đàng, kinh
nghiệm sống với Đức Giêsu phải luôn luôn là điểm qui chiếu cho họ trong hoạt
động; đàng khác, tư cách môn đệ không phải là của riêng thuộc về những bạn đồng
hành lịch sử của Đức Giêsu trần thế, trái lại đây là tư cách mà kể từ nay mỗi
người được mời gọi đi vào. Tất cả đều được mời gọi trở thành”môn đệ Đức Giêsu”,
vị Thầy duy nhất (x. 23,8.10).
Chiều hướng phổ quát đă được báo trước trong lời nhắc đến
Abraham (1,1), trong truyện các đạo sĩ (2,1-12), vị sĩ quan Caphácnaum (8,5-13),
bà Canaan (15,21-28), viên sĩ quan canh giữ Đức Giêsu trên đồi Sọ (27,54). Đi
đến với các dân tộc đă là chọn lựa của Đức Giêsu, cho dù trong diễn từ truyền
giáo (ch. 10), Ngài đă truyền các môn đệ là chỉ đi đến với các chiên lạc
Ít-ra-en thôi. Tính phổ quát truyền giáo này c̣n được báo trước ở 24,4 và 26,13,
và bây giờ được khẳng định như là ư muốn chính xác của Đức Giêsu. Điều bị cấm
trước đây ở 10,5 (anh em đừng đi tới vùng các dân ngoại ) bây giờ được
khuyến cáo thi hành (hăy làm cho muôn dân trở thành môn đệ ): như đại đa
số các lần xuất hiện, từ ethne trong Mt có nghĩa chữ là Dân ngoại,
lệnh này chỉ liên hệ đến Dân ngoại. Nhưng nếu Ít-ra-en không c̣n là đối tượng
của một sứ mạng đặc biệt, điều này không có nghĩa là Ít-ra-en bị loại ra khỏi
chân trời Phục Sinh. Rất có thể vào thời của cộng đoàn Mt, đă có một sự đoạn
tuyệt giữa Giáo Hội và Hội đường; nhưng người Do-thái tiếp tục là một thực tại
của cộng đoàn Mt. Nếu Ít-ra-en bị kết án, mỗi người Do-thái vẫn có thể đến với
cộng đoàn các môn đệ. Sẽ xuất hiện một cộng đoàn phổ quát trong đó mỗi người có
một quan hệ trực tiếp và thân t́nh vừa với Đức Giêsu vừa với những người khác.
Hoạt động của các môn đệ là một sự tiếp nối hoạt động của Đức Giêsu (4,23; 9,35;
11,1).
Để làm cho muôn dân thành môn đệ, hai việc các môn đệ phải làm
là “làm phép rửa” nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi và “giảng dạy”. Căn tính mới của
Thiên Chúa là căn tính Cha, Con và Thánh Thần, mà người môn đệ bắt đầu quan hệ
với qua bí tích thánh tẩy. Lệnh truyền giảng dạy đă được đặt vào cuối Tin
Mừng, có thể là v́ Mt coi nhiệm vụ giảng dạy như là nhiệm vụ cao nhất
trong Hội Thánh. Nhóm Mười Một không được phép mở trường, nhưng tiếp tục học ở
“trường” Đức Giêsu: các ông phải giảng dạy, như chính Đức Giêsu đă giảng dạy.
Cho dù các ông đă nhận lănh bổn phận giảng dạy, các ông sẽ phải măi măi duy tŕ
chân tính môn đệ, bằng cách nh́n nhận và chấp nhận uy quyền của Đức Giêsu, bằng
cách bây giờ tin vào Đức Giêsu như tin vào chính Thiên Chúa.
Đề tài giảng dạy đă có sẵn: các lệnh truyền của Đức Giêsu. TM
Mt chứa biết bao lời giảng dạy của Đức Giêsu (trong năm diễn từ), nhưng nhất
là giáo huấn của Bài giảng trên núi đáng được xét đến. Trong lệnh truyền giáo,
Đấng Phục Sinh đă nói với các môn đệ là “dạy bảo họ mọi điều Thầy đă truyền cho
anh em” (c.20). Câu này chắc chắn qui về tất cả mọi lời nhắn nhủ, tất cả giáo
huấn của Đức Giêsu trong TM Mt, nhưng đặc biệt qui về các lời nhắn nhủ
trong Bài Giảng trên núi bởi v́ Bài Giảng này chứa phần lớn những ǵ Đức Giêsu
đă dạy các môn đệ và có một giọng thôi thúc người ta thực hiện các lời nhắn nhủ
này (x. 7,13-27).
Tuy nhiên, Đấng nói đây không c̣n là vị Thầy trần thế nữa, nhưng
là Đức Chúa Phục Sinh, “Đấng đă được ban cho toàn quyền trên trời dưới đất”. Bây
giờ, với uy quyền của Đấng là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta” trong mức viên măn
của sự Phục Sinh, Đức-Giêsu-đang-sống lấy lại giáo huấn của Bài Giảng trên núi
và nhắc lại cho các thế hệ tương lai.
Mục tiêu không c̣n phải là chu toàn Lề Luật hoặc các Ngôn sứ,
nhưng tuân giữ “tất cả những ǵ Thầy đă truyền cho anh em”. Như thế, chính Đức
Giêsu đặt ḿnh vào vị trí của “Lề Luật hoặc các Ngôn sứ” (x. ngay ở 5,21-48 với
các công thức “Anh em đă nghe [Luật] dạy người xưa / C̣n Thầy, Thầy bảo cho anh
em biết”), Ngài là Đấng lập pháp tối cao, diễn tả trọn vẹn ư muốn của Thiên
Chúa. Thái độ này khi đó và lệnh truyền hiện nay gửi trở lại với các công thức
khác nhau của Cựu Ước trong đó chính Yhwh truyền lệnh cho dân Ngài là tuân giữ
điều răn của Ngài (x. 2 Sb 33,8; Xh 34,32; Đnl 4,2; 12,14). Bây giờ Đức Giêsu
thay thế Yhwh khi khẳng định ư muốn của Ngài. Và chắc chắn ư muốn thần linh này
được tập trung nơi điều răn yêu thương, đỉnh cao và sự hoàn tất của Kinh Thánh
(“Lề Luật hoặc các Ngôn sứ”: x. 22,40).
Tuy nhiên, hẳn là ta có thể nới rộng ư nghĩa của “tất cả những
ǵ Thầy đă truyền cho anh em” cho cả bốn bài diễn từ khác, bởi v́ tác giả đă xác
định rằng chúng cũng là những “chỉ thị/dụ ngôn/những điều” của Đức Giêsu (x.
công thức kết luận mỗi bài diễn từ: 11,1; 13,53; 19,1; 26,1; x. 7,28-29). Vấn đề
ở đây là các giáo huấn của Thầy về các điều kiện và bản chất của đời sống đích
thực của người môn đệ và về nẻo đường thánh ư chân thực của Thiên Chúa, “nẻo
đường công chính” (21,32).
Khi nói “tất cả những ǵ Thầy đă truyền cho anh em”, Đức
Giêsu xác định giáo huấn của Ngài là như một lệnh truyền, như một đ̣i hỏi cấp
bách (trong một ngữ cảnh tương tự, Mc nói đến “tin mừng”: 13,10; 14,9;
Lc th́ nói đến “hoán cải và tha thứ tội lỗi”: 24,47). Đấng Phục Sinh biến
lời của Đức Giêsu trần thế thành chuẩn mực cho Hội Thánh mọi thời và “cho đến
tận thế”. Sứ điệp của Đấng Phục Sinh được coi là đồng nhất với sứ điệp của Đức
Giêsu trần thế.
Thầy ở cùng anh em mọi ngày
cho đến tận thế (20b). Ego
meth’ hymon eimi. Giới từ meta + thuộc cách có nghĩa là “với” nhằm
diễn tả sự hiệp thông, sự hiệp nhất (cơ bản là riêng tư cá nhân), sự cộng tác,
khi đó là tương quan của Đức Giêsu với những người khác: Đặc biệt 28,20 đáp lại
khởi đầu Tin Mừng, khi mà Đức Giêsu được giới thiệu lúc chào đời như là Đấng mà
“người ta sẽ gọi tên là Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”
(1,23). Ở đây chúng ta có một thể đóng khung rất lớn bung mở ra chiều kích vũ
hoàn của bản thân Đức Giêsu trên toàn thể lịch sử nhân loại, đồng thời vẫn nêu
bật sự bám rễ của Ngài về phương diện xác thịt trong thời gian và không gian.
Thực tại Emmanuel này được diễn tả xuyên qua toàn thể Tin Mừng: Vào lúc
chào đời của Đức Giêsu (1,23); trong khi hoạt động, Ngài hiện diện giữa nhóm
môn đệ (9,15; 26,18.20.36.38.40; x. “Đức Giêsu dẹp yên biển động”, 8,23-27;
ego eimi, 14,27); những lần Ngài tiếp xúc với người tội lỗi (9,11) và qua
cái chết ban ơn cứu chuộc (26,28; x. 1,21; 17,17 so với Mc 9,19). Mt 28,20 hẳn
là câu trả lời chung cuộc cho câu hỏi ấy. Bây giờ Ngài hứa ở với họ măi măi.
Trong Cựu Ước, bằng những thuật ngữ tương tự Ta sẽ ở với các
ngươi măi măi, Yhwh thường đảm bảo với một tín hữu, một ngôn sứ, một thủ
lănh, toàn dân, nhất là trong bối cảnh một cuộc sai phái, là Ngài sẽ hiện diện,
nghĩa là giúp đỡ tận t́nh, với ḷng từ bi thương xót, để cứu độ. Đấng Kyrios
ban cho các môn đệ cũng một đảm bảo như Yhwh đă ban cho dân Ngài trong Cựu Ước.
Ngài không thế chỗ cho các môn đệ, nhưng sẽ hiện diện với họ để nâng đỡ họ bằng
sức mạnh, không do các đức tính hay các thành tích của các môn đệ, nhưng do sự
trung tín hữu hiệu của Đấng đă đưa các lời hứa trong Kinh Thánh đến chỗ hoàn
tất. Khi nói “tất cả các ngày”, Đức Giêsu khẳng định Ngài sẽ ở thường trực và
trọn vẹn với các môn đệ, và nhắm đến tận thế, “lúc kết thúc thời gian của thế
giới này”.
+ Kết luận
Trên núi Galilê (28,16; x. 5,1), Đức Giêsu Phục Sinh, đại diện
toàn quyền của Thiên Chúa, tỏ ḿnh ra như là Đấng mạc khải tối hậu của Thiên
Chúa và Đấng lập pháp vĩnh viễn, nay cử các môn đệ đi đến với mọi dân tộc. Trong
Cựu Ước, núi Sinai xuất hiện ra như là quả núi của mạc khải và của Giao ước,
trên đó Thiên Chúa tự tỏ ḿnh ra và thông ban các điều răn của Ngài (Xh
19,1–24,11). Từ Sinai, dân Israel bắt đầu cuộc hành tŕnh tiến về Đất hứa; trên
núi Galilê, Đức Giêsu đích thân, trong tư cách Đấng Phục Sinh, tức đă đi vào
trong đời sống Thiên Chúa, cho thấy đâu là mục tiêu của mỗi người trong “tất cả
các dân tộc”.
Các lời kết thúc của Đức Giêsu đă đón nhận lấy các nội dung
chính của Tin Mừng Mt về sứ vụ không biên giới của các môn đệ. Điều này
c̣n cho thấy một lần nữa chiều hướng tổng hợp hướng về sứ vụ phổ quát như là nét
tiêu biểu của Tin Mừng này.
5.- Gợi ư suy niệm
1. Nhóm môn đệ có một vết
thương, gây ra do sự phản bội và sự biến mất của Giuđa.
Họ không c̣n là mười hai, là là mười một. Vết
thương này nhắc nhớ rằng tất cả đă bất trung với Đức Giêsu. Khi Người bắt đầu
chuyến đi vào Thương Khó, các ông đă cắt đứt việc đi theo Người hoặc bằng cách
chạy trốn (26,56) hoặc bằng cách giữ khoảng cách trong ba lần chối (26,69-75).
Tuy nhiên, Đức Giêsu đă chữa lành vết đứt này. Người không gọi những môn đệ mới,
nhưng gọi chính những người đă thất bại trong thử thách Khổ Nạn. Khi các môn đệ
đến nơi hẹn, Đức Giêsu không hề thốt ra một lời trách móc, mà lại c̣n giao sứ
vụ, là sứ vụ của chính Người
2. Nhận biết và hoài nghi là hai thái độ có thể đi với nhau, như
lời xin của cha đứa bé trong Tin Mừng Máccô: “Tôi tin! Nhưng xin Thầy
giúp ḷng tin yếu kém của tôi” (Mc 9,24). Do đó, cần phải nh́n lại tất cả hoạt
động công khai của Đức Giêsu dưới ánh sáng của biến cố Phục Sinh. Bây giờ Đức
Giêsu mạc khải cho các môn đệ biết Người có toàn quyền, Người là Chúa tể không
giới hạn, do quyền Chúa Cha ban cho Người. Người đă gọi các ông, các ông đă đi
theo Người, đă nghe lời Người giảng dạy; Người đă chết trên thập giá, nhưng nay
Người đang sống trước mắt các ông và là Chúa tể tuyệt đối, các ông hăy tin trọn
vẹn vào Người.
3. Các môn đệ của Đức Giêsu phải ra đi để làm cho muôn dân “trở
thành môn đệ” Người, chứ không phải trở thành môn đệ của chính ḿnh. Các môn đệ
mới sẽ cùng các ông bước theo Đức Giêsu, nghĩa là liên kết với Đức Giêsu, hiệp
thông cuộc sống với Người, chấp nhận Người chỉ cho ḿnh lộ tŕnh phải theo, xác
định h́nh thái và chiều hướng sống, kư thác trọn vẹn nơi Người.
4. Những người được nhận lời hứa hiện diện thường trực cho đến
tận thế, không chỉ là các môn đệ ở trên núi Galilê ấy mà thôi. Chân trời mở rất
rộng: Đấng Kyrios không hiện diện giữa dân Người như trong mầu nhiệm nội
tại và trong thực tại thần bí của Người, nhưng đúng ra, tại mọi thời và trong
mọi t́nh huống, Người ở bên cạnh dân để trợ giúp và an ủi họ, để khích lệ và kêu
gọi họ, và Người luôn luôn tháp tùng hoạt động của các sứ giả Người. Mt
không nhắc đến Thăng Thiên để không đưa Đức Giêsu đi xa cộng đoàn của Người:
Người tháp tùng họ trong cuộc hành hương trần thế “cho đến tận thế”. Lm. F.X. Vũ Phan Long, ofm
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||