Mọi thư từ liên lạc, xin gửi về PSTTVNUSA@YAHOO.COM. Copyright © 2002 WWW.PSTTVNUSA.NET. All rights reserved.
 

NỘI DUNG HÀNG THÁNG (05-2008)

TÍNH NHÂN BẢN

TRONG ĐỜI SỐNG KITÔ HỮU

 
Trong Số Này:
TÂM SỰ HẰNG THÁNG
 

Mẹ Đă Lên Đường

HỌC HỎI LỜI CHÚA
 

Sứ Mạng Phổ Quát

LINH ĐẠO PHAN SINH
  Lạc Quan
GIÁO LƯ TÓM LƯỢC
  Bài 53: Thập Giới: Giới Răn V Và VI
LỜI KINH MỖI THÁNG
  Tạ Ơn Mẹ
HÔN NHÂN GIA Đ̀NH
  Giáo Huấn 8: Giữa Các Thế Hệ
NHỮNG BÀI ĐỌC THÊM
   
CẦU NGUYỆN CHO NHAU
   
THÔNG BÁO TIN TỨC
   

 
 

Mẹ Đă Lên Đường…

Thưa quí anh chị,

Trong Tháng Hoa mừng kính Đức Mẹ Mân Côi, xin được nhắc nhớ một nét nhỏ về gương sống của Mẹ Maria, một gương sống rất thực tế của Người Mẹ tuyệt hảo nhất nhân loại, và là Người Mẹ cao trọng và vẹn toàn nhất của mọi Kitô hữu.

Ngày xưa, khi cúi đầu trước Sứ Thần Gabriel để lănh nhận Thiên Chức Làm Mẹ, khi lên tiếng trả lời Sứ Thần qua tiếng Xin Vâng th́ Chúa Thánh Thần đă hiển trị để bao phủ xác hồn, tâm trí của Mẹ; và cũng trong giây phút huyền siêu ấy, Đức Thánh Nhi Giêsu đă ngự xuống nơi cung ḷng của Mẹ, và làm cho Mẹ trở thành Mẹ Thiên Chúa, Mẹ nhân loại.

Khi lănh nhận Thiên Chức Làm Mẹ, Mẹ không nghĩ đến danh phận cao sang mà Thiên Chúa sẽ trao tặng Mẹ; Mẹ chỉ luôn tâm niệm rằng đây là sứ mệnh, là bổn phận của Mẹ khi đem Chúa vào đời… Một khi Chúa chấp nhận mang thân phận thấp hèn để đến với con người như thế nào, th́ Mẹ cũng sẽ đem Chúa đến với ‘con người’ một cách khiêm cung thẳm sâu như thế.

Cùng với Hài Nhi Giêsu, Mẹ đă ra đi trong vội vả mà không quản đường dài, không ngại vất vả gian nan để lên đường khi biết tin người chị Họ là bà Isave đang mang thai. Khi gặp bà Isave, Mẹ lại cúi ḿnh chào ‘con người’ trước khi ‘con người’ lên tiếng chào Mẹ. Và Mẹ đă ở lại nơi đấy gần ba tháng để hầu hạ, chăm sóc, phụng sự ‘con người’ như một kẻ tớ hèn với trọn vẹn yêu thương.

Qua việc Mẹ đi thăm viếng bà Isave, chúng ta hăy suy niệm về ḷng Mẹ quá đổi bao la như thế nào? Sự khiêm cung của Mẹ thẳm sâu như thế nào? Vâng, trái tim Mẹ dào dạt t́nh mến đă thôi thúc Mẹ phụng sự Chúa đến quên cả thời gian, quên cả bản thân ḿnh… Cũng vậy, là Mẹ Thiên Chúa, nhưng Mẹ lại đến với ‘con người’ bằng trái tim chứ không bằng uy quyền. Là Mẹ nhân loại nhưng Mẹ đă tự hạ ḿnh phục vụ cho nhân loại bằng hết cả tâm trí, xác hồn…

Thực vậy, sự lên đường vội vả của Mẹ dạy chúng ta phải lên đường mỗi ngày với ḷng nhiệt huyết hăng say. Mẹ không ngại gian nan khốn khó trên đường dài, dạy chúng ta tập sống hy sinh. Mẹ đi thăm viếng dạy chúng ta biết yêu thương anh em ḿnh. Mẹ hầu hạ dạy chúng ta sống đơn sơ hèn mọn. Mẹ phục vụ dạy chúng ta sống quên ḿnh. Mẹ lưu lại trong gia đ́nh của d́ Isave dạy chúng ta sống b́nh dị, gần gủi, giúp nhau hoàn thiện…

       Gương sống đạo của Mẹ cũng đă nhắc nhở cho chúng ta về một cuộc sống nhân bản Kitô giáo: “Để trở nên người Kitô hữu đúng nghĩa th́ phải biết yêu thương trong đơn sơ, chân thành.” V́ tâm đơn sơ th́ ḷng mới thanh, trí mới sạch. Có ḷng thanh trí sạch th́ mới có thể vượt qua rào cản vật chất đang chằn chịt cản bước yêu thương. Có yêu chân thành mới dám hy sinh. Có biết hy sinh mới dám quên ḿnh; Và dám quên ḿnh mới có thể phục vụ anh em. Biết quên ḿnh mới chế ngự được mọi tội lỗi xấu xa, ghê tởm đang hoành hành khắp mọi ngơ nghách trong tâm hồn của ḿnh.

Thưa quí anh chị, Mẹ đă dành cả một đời để đem Chúa đến cho mọi người và gieo rắc yêu thương bằng cách phụng sự Chúa trong mọi người. Chúng ta, hăy bắt chước Mẹ để trở thành một “Maria khác” giữa ḷng đời hôm nay. Nếu mỗi người làm được một khía cạnh nhỏ như Mẹ đă làm th́ thế giới này sẽ đổi thay và tiến dần đến chổ hoàn thiện… Hăy làm ngay v́ thời gian không chờ đợi một ai cả! Hăy vội vả lên đường kẻo không kịp!

 BBT

Trở về mục lục >>

 

Sứ Mạng Phổ Quát

(Mátthêu 28,16-20; Thăng Thiên: A)

 

28:16Mười một môn đệ đi tới miền Ga-li-lê, đến ngọn núi Đức Giê-su đă truyền cho các ông đến. 28:17Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi. 28:18Đức Giê-su đến gần, nói với các ông: "Thầy đă được trao toàn quyền trên trời dưới đất. 8:19Vậy anh em hăy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, 28:20dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đă truyền cho anh em. Và này đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế".

1.- Ngữ cảnh

 Ở đây, chúng ta chỉ đề cập đến ngữ cảnh trực tiếp, đó là mộ trống với hai sứ điệp, một tích cực, một tiêu cực:

a) Sứ điệp tích cực

 Sứ điệp tích cực được gửi đến trong hai th́:

- bởi sứ thần khi ngài giao phó cho các phụ nữ hai sứ mạng là làm chứng về sự Phục Sinh của Đức Giêsu và loan báo cho các môn đệ lệnh triệu tập của Đức Giêsu (28,1-8). Đây là kinh nghiệm tiêu cực về sự Phục Sinh.

- bởi chính Đức Giêsu Phục Sinh (28,9-10): Người cho các phụ nữ sống một kinh nghiệm thực hữu về sự Phục Sinh của Người và giao cho họ cùng một sứ mạng, là triệu tập các môn đệ về Galilê.

Đoạn văn 28,16-20 cho hiểu rằng các phụ nữ đă chu toàn hai sứ mạng được giao: khi quy tụ về quả núi đă được chỉ định tại Galilê, các môn đệ chứng tỏ các ông đă tin vào chứng tá của các phụ nữ liên hệ đến cuộc Phục Sinh để cũng có thể tin vào lệnh triệu tập được các bà chuyển cho.

b) Sứ điệp tiêu cực

Sứ điệp tiêu cực là truyện sai lạc về Đức Giêsu, được toán lính tung ra theo tṛ bịp bợm của các thủ lănh Do-thái.

Đoạn văn này nêu bật sự tương phản (c.16: de) giữa các thủ lănh Do-thái và toán lính một bên, và bên kia, là Đức Giêsu và các môn đệ Người, giữa sứ điệp do người Do-thái tung ra và thực tế; vậy đoạn văn này chính là một lời phi bác tin đồn thất thiệt đă được phổ biến. Đối với người Do-thái, Đức Giêsu là một xác chết, c̣n các môn đệ Người là những tên trộm cắp và dối trá; trong thực tế, Đức Giêsu đă chiến thắng cái chết, đă sống lại, được ban cho toàn quyền của Thiên Chúa và đảm bảo bằng sự hiện diện đầy uy lực của Người; các môn đệ Người không t́m cách đánh cắp thi hài, nhưng đă đi về Galilê, đi xa ngôi mộ, để gặp Đức Giêsu Phục Sinh. Tin Mừng sẽ đi đến với “mọi dân tộc”, chứ không như tin đồn thất thiệt kia, chỉ được loan truyền “giữa người Do-thái” mà thôi. Giáo huấn phổ quát (didaskontes) mà các môn đệ của Đức Giêsu, vị Tôn Sư tuyệt đối (didaskalos, 23,8), sẽ cống hiến cho mọi dân tộc sẽ hoàn toàn vượt xa những ǵ toán lính phổ biến, v́ họ đă làm theo lời “các thượng tế dạy” (edidachthêsan , 28,15). Các môn đệ sẽ được che chở và nâng đỡ “cho đến tận thế”, không phải bởi một quyền bính nhân loại như quyền bính của các thượng tế, nhưng bởi uy quyền của Đấng Phục Sinh, Chúa tể vũ hoàn.

2.- Bố cục

Bản văn có thể chia thành hai phần:

1) Cuộc diện kiến của Nhóm Mười Một với Đức Giêsu (28,16-17);

2) Các lời nói của Đức Giêsu (28,18-20):

a) Mạc khải về quyền năng (18),

b) Lệnh truyền giáo (19-20a),

c) Hứa hiện diện hỗ trợ (20b).

3.- Vài điểm chú giải

 - Về phần mười một môn đệ (16): Ở đầu c.16 này, có tiêu từ de (“và”, “rồi”; “nhưng”; “về phần”) hẳn là để nêu lên sự tương phản giữa báo cáo sai lạc của toán lính với sự thật về cuộc hiện ra của Đức Giêsu với mười một môn đệ.

 - Mười một môn đệ (16): Trong Mt, Đức Giêsu có một nhóm các “môn đệ” (mathêtês: Mt 73 lần, Mc 46 lần, Lc 37 lần, Ga 78 lần. Có 65 trong Mt ở số phức) luôn luôn được xác định bằng quán từ (article) hoi (x. 5,1; 8,21; 9,10; 12,1; 13,10; 14,15; 15,2; 16,5; 28,7). Điều này khẳng định rằng họ được biết rơ trong tư cách đó và họ không phải là nhóm “bảy mươi hai” của Lc (vả lại, Lc không gán cho nhóm “bảy mươi hai” cái tên “môn đệ”, mà là “bảy mươi hai người khác”, x. Lc 10,1). Các ông là những người sống hiệp thông với Thầy ḿnh (“einai meta” [“ở với”]), tháp tùng Thầy trong sứ vụ của Người (9,19), cùng làm việc với Người để phục vụ các đám đông (9,36-37), được nêu ra làm gương cho các đám đông và được giới thiệu như là gia đ́nh đích thực của Đức Giêsu (12,46-50). Mt xác định rằng các ông là “mười hai môn đệ” (10,1; 11,1; hay là “Nhóm Mười Hai”: 20,17; 26,20; ở c. 10,2, các ông cũng được gọi là “mười hai tông đồ” cùng với tên của các ông).

Con số “mười một” nhắc đến sự vắng mặt thê thảm của Giuđa, “một trong Nhóm Mười Hai” (26,14.47; x. 10,2.4): sự hư hỏng đă xảy ra ngay trong nhóm, tức là đây không phải là một nhóm toàn vẹn; với lại, tất cả các ông khác đều đă té ngă (x. hoi mathêtai: 26,56b; Phêrô: 26,69-75). Nhưng sứ điệp mà Đức Giêsu ban cho các ông nhờ trung gian các phụ nữ đă là một dấu cho thấy Người tha thứ và ḥa giải; Người gọi các ông là “anh em của Thầy” (28,10). Bây giờ, cuộc hành tŕnh của các ông tiến về với Đức Giêsu và sự hiện diện của các ông tại nơi Người đă chỉ định là một dấu chứng tỏ các ông đón nhận sự tha thứ và ḥa giải.

 - ngọn núi (16): To oros (danh từ với quán từ) khẳng định rằng chính là trên một quả  núi mà Đức Giêsu và các môn đệ đă biết, nhưng không cung cấp một xác định nào khác. 

 - Bái lạy (17): Mt chỉ dùng động từ proskyneô (Mt 13 lần; Mc 2 lần;

Lc 2 lần) cho những ai đă nh́n nhận phẩm giá của Đức Giêsu và diễn tả sự nh́n nhận đó ra bằng hành vi này (x. các hiền sĩ: 2,2.8.11; người phong cùi: 8,2; ông trưởng hội đường: 9,18;  các môn đệ trên thuyền: 14,33; bà Canaan: 15,25; mẹ các con ông Dêbêđê: 20,20; các phụ nữ tại mồ: 28,9).

 - Nhưng có mấy ông lại hoài nghi (17): Trong Tân Ước, động từ distazein chỉ xuất hiện ở 14,31 (Phêrô đi trên mặt nước) và ở đây. Động từ này nhắc đến những ǵ Tin Mừng đă nói biết bao lần về phẩm chất của đức tin của các môn đệ: ở 6,30; 8,26-27; 14,31; 16,8; 17,20 (x. câu 17). Mt là tác giả duy nhất ghi nhận “đức tin lớn (megalê hê pistis)” của bà Canaan (15,28). Cùng với đề tài đức tin, Mt tŕnh bày đề tài sự hiểu biết (synienai) và không hiểu biết: ở 15,16; x. 16,12; 17,13.

 - Thầy đă được trao toàn quyền trên trời dưới đất (18): Động từ edothê ở th́ aorist thái bị động trần thuật (passive indicative): Th́ aorist nhắm đến một sự kiện đă hoàn tất, chứ không phải là một lời hứa hay một niềm hy vọng; hẳn là ta có thể nghĩ đến một quan hệ mặc nhiên với sự phục sinh. Thái bị động đây là một thái bị động thay tên minh nhiên của Thiên Chúa. Hơn nữa, cách thức khẳng định cách tuyệt đối như thế gợi ư rằng Thiên Chúa là tác giả (so sánh c. 18b với 11,25).

Đề tài exousia cũng là một đề tài quan trọng của Mt (9 lần: 7,29; 8,9; 9,6; 9,8; 10,1; 21,23; 21,24; 21,27; 28,18). Từ ngữ có nghĩa là “quyền hành”, “uy quyền”, “quyền lợi”, “khả năng”, là những đặc tính của giáo huấn và cách hành động của Đức Giêsu: phân đoạn 5,1–7,29 (Bài Giảng trên núi) giới thiệu Đức Giêsu như là “Đấng Mêsia có uy quyền trong lời nói” (x. 7,28), c̣n phân đoạn 8,1–9,38 giới thiệu Người như là “Đấng Mêsia có uy quyền trong hành động” (x. 11,2) (Đức Giêsu khẳng định rằng Người có exousia này: 9,6; dân chúng: 7,29; viên sĩ quan: 8,9; khi thấy người bại liệt được chữa lành, dân chúng tôn vinh Thiên Chúa: 9,8; Đức Giêsu nói về quyền của Người và từ chối cho biết nguồn gốc của quyền ấy: 21,24.27). Câu 28,18 là như tổng hợp về đề tài này và là một câu trả lời cho nhà chức trách tôn giáo: Đức Giêsu không phải là một người mất trí hay một kẻ tiếm quyền; Người đă nhận được quyền bính này trọn vẹn, trên toàn vũ trụ,  từ Thiên Chúa (chứ không phải từ tay ma quỉ, x. 9,34). Ở đây, điều được khẳng định là quyền (exousia) đă được Thiên Chúa ban.

 - hăy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ (19): Trong các Tin Mừng, động từ mathêteuein chỉ được sử dụng ở Mt (13,52; 27,57; 28,19) với hai nghĩa: 1) nghĩa ngoại động (intransitive): trở thành môn đệ (13,52; 27,57); 2) nghĩa nội động (transitive): làm thành môn đệ; làm cho ai thành môn đệ (28,19; x. Cv 14,21). Đây không phải là chỉ tŕnh bày, cống hiến sứ điệp, loan báo Tin Mừng, nhưng là kiến tạo một quan hệ chặt chẽ và riêng tư. Kiểu mẫu của quan hệ này chính là quan hệ của Đức Giêsu lịch sử với các môn đệ đă được Người kêu gọi (môn đệ đi theo [akolouthein, x. 4,20.22; 8,23; 19,27.28], Thầy đi trước [proagein, x. 26,32; 28,7]).

- nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần (19): Công thức “nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần ”một công thức phép rửa . Qua công thức này, ta găp thực tại chúng ta có trong các Tin Mừng Nhất Lăm: đó là quan hệ chặt chẽ giữa đời sống và công tŕnh của Đức Giêsu với Cha Người trong Chúa Thánh Thần. Cựu Ước biết đến vị Thiên Chúa tạo thành trời đất, đây là vị Thiên Chúa mà họ đến tŕnh diện trong tư cách là các thọ tạo hoàn toàn khác với Ngài và không có quyền đi vào đối thoại với Ngài. Đức Giêsu loan báo vị Thiên Chúa có một người đối thoại trong b́nh diện thần linh. Chúa Con ở trước mặt Chúa Cha, và hai Đấng được liên kết với nhau, biết nhau, hiểu nhau và yêu thương nhau trọn vẹn và hoàn hảo nhờ Chúa Thánh Thần. Bí tích Rửa tội nhận ch́m chúng ta vào trong vùng quyền lực của vị Thiên Chúa này.

- Này đây (20): Mt chuộng thức mệnh lệnh idou này. Nên ghi nhận là công thức long trọng idou ego luôn luôn có quan hệ với ư tưởng sứ mạng: 10,16; 23,34 et 28,20.

- Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế (20): Khi nói minh nhiên pasas tas hêmeras (tất cả các ngày), Đức Giêsu khẳng định Người sẽ ở thường trực và trọn vẹn với các môn đệ. Heôs tês synteleias tou aiônos (cho đến tận thế) có nghĩa mục tiêu, nơi đến: nhắm đến tận thế. Từ ngữ synteleia (hoàn tất; kết cục) luôn được sử dụng với aiôn có nghĩa là “thời gian hiện tại”, “t́nh trạng hiện nay của tạo thành” (x. 13,22; 12,31). Synteleia tou aiônos có nghĩa là “khi kết thúc thời gian của thế giới này”. Người ta chờ đợi một kết thúc thời gian này với việc Đức Giêsu ngự đến (x. 24,3).

4.- Ư nghĩa của bản văn

* Cuộc diện kiến của Nhóm Mười Một với Đức Giêsu (16-17)

Phần thứ nhất kể lại các hành vi của các môn đệ trong quá khứ (aorist) (đi tới, c.16; bái lạy, c.17; hoài nghi, c.17). Bản văn cũng ghi nhận một hành vi của Đức Giêsu, “đă truyền” (etaxato, c.16), nhưng chắc chắn đây là một hành vi Đức Giêsu đă làm trước các hoạt động của các môn đệ được kể lại trong đoạn văn này; hành vi này lại chỉ là một mệnh lệnh, một hành vi nói. Ngược lại, trong các bản văn khác về hiện ra, Đức Giêsu hành động cùng nhịp với những người có mặt, chẳng hạn, ở Mt 28,9, Đức Giêsu đến gặp (hypentesen) các bà. Phải chờ đến c.18 để gặp được một hành vi của Đức Giêsu, nhưng cả hành vi này cũng chỉ là một hành vi nói (elalesen).     

Các nhân vật chính của phần thứ nhất là hoi hendeka methetai, “mười một môn đệ”. Con số này nhắc đến sự phản bội của cả nhóm. Nhưng sứ điệp mà Đức Giêsu ban cho các ông nhờ trung gian các phụ nữ đă là một dấu cho thấy Ngài tha thứ và ḥa giải; Ngài gọi các ông là “anh em của Thầy” (28,10). Bây giờ, cuộc hành tŕnh của các ông tiến về với Đức Giêsu và sự hiện diện của các ông tại nơi Ngài đă chỉ định là một dấu chứng tỏ các ông đón nhận sự tha thứ và ḥa giải. Các môn đệ tiến về một nơi đă được Đức Giêsu xác định trước và theo thông tin của các phụ nữ (lệnh của sứ thần (28,7) và lệnh của Đức Giêsu ban cho các phụ nữ).

Trong Mt, ta không thấy có một lệnh minh nhiên của Đức Giêsu là đi đến một ngọn núi được xác định, nhưng có những chi tiết liên hệ đến Galilê. Tất cả các chi tiết này, khi được đặt vào trong bối cảnh là cuộc Thương Khó và Phục Sinh, th́ giống như những tia chớp hy vọng được ban cho các môn đệ (tại núi Ô-liu, Đức Giêsu đă nói đến Galilê: 26,32; tại mộ, vị thiên thần đă nhắc đến Galilê: 28,7; Đức Giêsu xác nhận sứ điệp: 28,10). Chuyến đi đưa các ông về nơi Đức Giêsu đă chỉ định cho thấy rằng họ vừa thi hành lệnh Đức Giêsu truyền, họ vừa ư thức rằng họ đang được trở vào trong t́nh bằng hữu với Ngài, t́nh bằng hữu mà Ngài đă mời họ đến khi gọi họ là “anh em của Thầy” (28,10).

Như thế, câu truyện sẽ kết thúc ngay tại nơi mà sứ vụ của Đức Giêsu đă bắt đầu: tại “Galilê, miền đất của dân ngoại”, đă xuất hiện ánh sáng có sức thắng vượt bóng tối của tử thần (4,15-16) và giúp cho có thể bắt đầu việc rao giảng cho muôn dân (28,19). Ở đây tầm quan trọng của Galilê đặc biệt có tính thần học: Đấng Phục Sinh gặp lại các môn đệ Ngài tại nơi chính của hoạt động trần thế Ngài (nhất là theo Mc Mt); điều này giả thiết có một sự tiếp nối giữa Đức Giêsu trần thế và Đức Kitô Phục Sinh, một sự tiếp nối mà c.20a sẽ nêu bật minh nhiên (“[bằng cách] dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đă truyền cho anh em”). Do chính sự kiện này, Ngài xác nhận việc loan báo đầu tiên của Ngài, hoặc đơn giản hơn, xác nhận trọn vẹn sứ mạng của Ngài và giới thiệu sứ mạng ấy như mẫu mực cho các môn đệ.

Lời Đức Giêsu nói với các phụ nữ (28,10), “họ phải đi đến Galilê”, là một mệnh lệnh, c̣n “họ sẽ được thấy Thầy ở đó” là một lời hứa. Vậy bản văn của chúng ta là sự hoàn tất mệnh lệnh ấy và sự thực hiện lời hứa ấy.

 “Ngọn núi” không phải là một nơi mà người ta hẳn là có thể xác định theo địa lư; đây là nơi tiêu biểu cho mạc khải (5,1: “Bài Giảng trên núi”; 15,29: mạc khải của Đấng cứu thế, Đấng nuôi dưỡng dân Ngài như ông Môsê xưa kia trong hoang địa; 28,16: “ngọn núi” xuất hiện lần thứ ba, để cũng nêu bật tầm quan trọng của mạc khải như thế).

Sự kiện các môn đệ “thấy” Đức Giêsu được kín đáo giới thiệu bằng một vị tính từ (participle), lệ thuộc động từ chính: “các ông bái lạy”. Việc “thấy Đức Giêsu” chỉ được nhắc đến ngắn ngủi ở đây, khác với các bài tường thuật khác về hiện ra, nhưng nó chẳng c̣n giá trị ǵ khi nói về niềm tin Phục Sinh. Sự kiện quan trọng đối với Mt là “các ông bái lạy” (prosekynesan), đây là cách tôn kính mang tính tôn giáo và thậm chí phụng vụ. Thái độ này diễn tả trước những ǵ sẽ được lời tuyên bố ở c.18b loan báo về quyền của Đức Giêsu. “Nhưng có mấy ông lại hoài nghi” (c.17). Ở đây, nỗi ngờ vực đă xảy đến idontes, “khi thấy Người” như là Đấng Phục Sinh. Chúng ta phải ngạc nhiên khi thấy phát sinh nỗi ngờ vực, nghĩa là một t́nh trạng ngần ngại, lưỡng lự, trong bối cảnh lại quá đậm đặc và tiêu biểu này. Phản ứng này xuất hiện nhiều lần trong các bài tường thuật khác về hiện ra. Nỗi hoài nghi được thắng vượt mỗi lần một cách: Đấng Phục Sinh xin các ông cho ăn (Lc 24,41tt); Đức Giêsu hiện ra một lần nữa với các môn đệ lúc đầu không tin (Mc 16,14tt); Tôma có thể chạm tới các vết thương của Đức Giêsu (Ga 20,24-29). Ta không thấy có ǵ tương tự ở đây cả. Có lẽ sự hoài nghi này liên hệ đến một thời đại muộn màng hơn: cộng đoàn hôm nay không c̣n thấy Đức Giêsu bằng mắt thịt nữa, họ có thể rơi vào hoài nghi; họ phải thắng vượt khó khăn này nhờ dựa vào lời của Đấng Phục Sinh. Các lời nói của Đức Kitô Phục Sinh và sự vâng phục của các môn đệ với lời Ngài là cách thế duy nhất giúp vượt qua nỗi hoài nghi.

* Các lời nói của Đức Giêsu (18-20)

Đứng trước đức tin xen lẫn hoài nghi của các môn đệ, lời Đức Giêsu nói cung cấp câu trả lời. Đấng Phục Sinh không trách các ông về sự bất trung hoặc về nỗi hoài nghi; thậm chí Ngài cũng không xua tan nỗi hoài nghi bằng một cử chỉ hoặc một chứng từ bổ sung. Ngài đến gần các ông và nói . Ngài từ xa đến với những người là các môn đệ Ngài, vâng phục Ngài và đang cung kính bái lạy Ngài. Chỉ ḿnh Ngài có thể vượt qua khoảng cách bằng cách đi đến với các ông. Proserchomai là một động từ được Mt ưa chuộng (Mt 52x; Mc 5x; Lc 10x; Ga 1x), nhưng chỉ có hai lần ông diễn tả một hành vi chủ động của Đức Giêsu (ở đây và ở 17,6-7: hai đoạn riêng của Mt ): trong trường hợp này, Đức Giêsu đến gần là để nâng đỡ những người đang hoài nghi hoặc đang sợ.

Vấn đề ở đây là một lời nói, vấn đề ở đây là nghe chứ không phải là thấy. Chính lời nói của Đức Giêsu tạo được sự trấn an diễn tả ra bằng hành vi đến gần: Ngài tự tỏ ḿnh ra trong lời Ngài nói như là Đấng được đặt để trong quyền bính và nói với uy quyền. Trong tư cách đó, Ngài hiện diện trong thời gian của thế giới, trong Giáo Hội cho đến tận thế.

Thầy đă được trao toàn quyền trên trời dưới đất (18b). Được đặt ở đầu bài diễn từ, mạc khải này đỡ nâng các khẳng định tiếp sau: lệnh truyền và lời hứa. Đức Giêsu khẳng định quan hệ của Ngài với Thiên Chúa và vị trí hiện nay của Ngài: chính Thiên Chúa, Cha của Đức Giêsu (so sánh với 9,6.8; 11,27 và Đn 7,14), đă ban cho Ngài tất cả các quyền hành trên trời dưới đất.

Theo lời rao giảng tiên khởi (kerygma) của các tông đồ, do Phục Sinh, Ngài đă được đặt làm Đức Chúa (Kyrios) trên vũ trụ và làm Thẩm phán vào lúc tận thế. Trong thực tế, bản văn không nói cho biết là Ngài đă được Chúa Cha đặt để như thế khi nào, nhưng nhấn mạnh rằng quyền lực tối thượng này của Đấng Phục Sinh là vô biên (pasa ) tự nó trong sự viên măn và trong cường độ của nó: trong không gian, Đấng Phục Sinh hiển trị trên vũ hoàn (trời và đất), như trong Cựu Ước, Thiên Chúa được nh́n nhận là Chúa tể trời đất, nghĩa là Đấng Tạo hóa và Bảo toàn tất cả vũ trụ; và trong thời gian, Ngài hiển trị  bây giờ và cho đến tận thế.

Bây giờ, trong tư cách là Đấng đại diện toàn quyền của Thiên Chúa, Đức Giêsu là Đấng mạc khải cánh chung cho biết ư muốn của Thiên Chúa và là Đấng thực hiện dự phóng cứu độ của Ngài. Các môn đệ có thể hoàn toàn chắc chắn rằng họ được ban cho quyền này.

Từ oun , “vậy”, gợi ư là lệnh truyền này là hậu quả của tuyên bố về quyền vũ hoàn của Đức Giêsu, là sứ mạng của Nhóm Mười Một phát xuất từ quyền bính của Đức Kitô. Tuy nhiên, lệnh truyền được ban cho toàn nhóm, điều này cho thấy rằng bổn phận truyền giáo là một nhiệm vụ của toàn thể cộng đoàn chứ không của một vài cá nhân. Uy quyền (c.18) và sự hiện diện của Đức Giêsu (c.20) sẽ cho các ông đủ tư cách và uy tín mà chu toàn bổn phận này.

Khi đi rao giảng, các môn đệ không chỉ tŕnh bày, chỉ cống hiến sứ điệp, loan báo Tin Mừng (keryssein), nhưng là kiến tạo một cộng đoàn có quan hệ chặt chẽ và riêng tư. Tương quan của các môn đệ với Đức Giêsu là kiểu mẫu cho sự hiệp thông với Ngài mà mọi dân tộc đang được đưa dẫn tới. Kể từ nay, kiểu mẫu này là chuẩn mực cho mọi ki-tô hữu: “môn đệ” có thể nói là định nghĩa ngắn nhất của ki-tô hữu. Được giao sứ mạng “làm ra các môn đệ”, Nhóm Mười Một đang hiện diện ở đây sẽ có thể rút ra từ đó biết bao hệ luận: một đàng, kinh nghiệm sống với Đức Giêsu phải luôn luôn là điểm qui chiếu cho họ trong hoạt động; đàng khác, tư cách môn đệ không phải là của riêng thuộc về những bạn đồng hành lịch sử của Đức Giêsu trần thế, trái lại đây là tư cách mà kể từ nay mỗi người được mời gọi đi vào. Tất cả đều được mời gọi trở thành”môn đệ Đức Giêsu”, vị Thầy duy nhất (x. 23,8.10).

Chiều hướng phổ quát đă được báo trước trong lời nhắc đến Abraham (1,1), trong truyện các đạo sĩ (2,1-12), vị sĩ quan Caphácnaum (8,5-13), bà Canaan (15,21-28), viên sĩ quan canh giữ Đức Giêsu trên đồi Sọ (27,54). Đi đến với các dân tộc đă là chọn lựa của Đức Giêsu, cho dù trong diễn từ truyền giáo (ch. 10), Ngài đă truyền các môn đệ là chỉ đi đến với các chiên lạc Ít-ra-en thôi. Tính phổ quát truyền giáo này c̣n được báo trước ở 24,4 và 26,13, và bây giờ được khẳng định như là ư muốn chính xác của Đức Giêsu. Điều bị cấm trước đây ở 10,5 (anh em đừng đi tới vùng các dân ngoại ) bây giờ được khuyến cáo thi hành (hăy làm cho muôn dân trở thành môn đệ ): như đại đa số các lần xuất hiện, từ ethne trong Mt có nghĩa chữ là Dân ngoại, lệnh này chỉ liên hệ đến Dân ngoại. Nhưng nếu Ít-ra-en không c̣n là đối tượng của một sứ mạng đặc biệt, điều này không có nghĩa là Ít-ra-en bị loại ra khỏi chân trời Phục Sinh. Rất có thể vào thời của cộng đoàn Mt, đă có một sự đoạn tuyệt giữa Giáo Hội và Hội đường; nhưng người Do-thái tiếp tục là một thực tại của cộng đoàn Mt. Nếu Ít-ra-en bị kết án, mỗi người Do-thái vẫn có thể đến với cộng đoàn các môn đệ. Sẽ xuất hiện một cộng đoàn phổ quát trong đó mỗi người có một quan hệ trực tiếp và thân t́nh vừa với Đức Giêsu vừa với những người khác. Hoạt động của các môn đệ là một sự tiếp nối hoạt động của Đức Giêsu (4,23; 9,35; 11,1).

Để làm cho muôn dân thành môn đệ, hai việc các môn đệ phải làm là “làm phép rửa” nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi và “giảng dạy”. Căn tính mới của Thiên Chúa là căn tính Cha, Con và Thánh Thần, mà người môn đệ bắt đầu quan hệ với qua bí tích thánh tẩy. Lệnh truyền giảng dạy đă được đặt vào cuối Tin Mừng, có thể là v́ Mt coi nhiệm vụ giảng dạy như là nhiệm vụ cao nhất trong Hội Thánh. Nhóm Mười Một không được phép mở trường, nhưng tiếp tục học ở “trường” Đức Giêsu: các ông phải giảng dạy, như chính Đức Giêsu đă giảng dạy. Cho dù các ông đă nhận lănh bổn phận giảng dạy, các ông sẽ phải măi măi duy tŕ chân tính môn đệ, bằng cách nh́n nhận và chấp nhận uy quyền của Đức Giêsu, bằng cách bây giờ tin vào Đức Giêsu như tin vào chính Thiên Chúa.

Đề tài giảng dạy đă có sẵn: các lệnh truyền của Đức Giêsu. TM Mt chứa biết bao lời giảng dạy của Đức Giêsu (trong năm diễn từ), nhưng nhất là giáo huấn của Bài giảng trên núi đáng được xét đến. Trong lệnh truyền giáo, Đấng Phục Sinh đă nói với các môn đệ là “dạy bảo họ mọi điều Thầy đă truyền cho anh em” (c.20). Câu này chắc chắn qui về tất cả mọi lời nhắn nhủ, tất cả giáo huấn của Đức Giêsu trong TM Mt, nhưng đặc biệt qui về các lời nhắn nhủ trong Bài Giảng trên núi bởi v́ Bài Giảng này chứa phần lớn những ǵ Đức Giêsu đă dạy các môn đệ và có một giọng thôi thúc người ta thực hiện các lời nhắn nhủ này (x. 7,13-27).

Tuy nhiên, Đấng nói đây không c̣n là vị Thầy trần thế nữa, nhưng là Đức Chúa Phục Sinh, “Đấng đă được ban cho toàn quyền trên trời dưới đất”. Bây giờ, với uy quyền của Đấng là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta” trong mức viên măn của sự Phục Sinh, Đức-Giêsu-đang-sống lấy lại giáo huấn của Bài Giảng trên núi và nhắc lại cho các thế hệ tương lai.

Mục tiêu không c̣n phải là chu toàn Lề Luật hoặc các Ngôn sứ, nhưng tuân giữ “tất cả những ǵ Thầy đă truyền cho anh em”. Như thế, chính Đức Giêsu đặt ḿnh vào vị trí của “Lề Luật hoặc các Ngôn sứ” (x. ngay ở 5,21-48 với các công thức “Anh em đă nghe [Luật] dạy người xưa / C̣n Thầy, Thầy bảo cho anh em biết”), Ngài là Đấng lập pháp tối cao, diễn tả trọn vẹn ư muốn của Thiên Chúa. Thái độ này khi đó và lệnh truyền hiện nay gửi trở lại với các công thức khác nhau của Cựu Ước trong đó chính Yhwh truyền lệnh cho dân Ngài là tuân giữ điều răn của Ngài (x. 2 Sb 33,8; Xh 34,32; Đnl 4,2; 12,14). Bây giờ Đức Giêsu thay thế Yhwh khi khẳng định ư muốn của Ngài. Và chắc chắn ư muốn thần linh này được tập trung nơi điều răn yêu thương, đỉnh cao và sự hoàn tất của Kinh Thánh (“Lề Luật hoặc các Ngôn sứ”: x. 22,40).

Tuy nhiên, hẳn là ta có thể nới rộng ư nghĩa của “tất cả những ǵ Thầy đă truyền cho anh em” cho cả bốn bài diễn từ khác, bởi v́ tác giả đă xác định rằng chúng cũng là những “chỉ thị/dụ ngôn/những điều” của Đức Giêsu (x. công thức kết luận mỗi bài diễn từ: 11,1; 13,53; 19,1; 26,1; x. 7,28-29). Vấn đề ở đây là các giáo huấn của Thầy về các điều kiện và bản chất của đời sống đích thực của người môn đệ và về nẻo đường thánh ư chân thực của Thiên Chúa, “nẻo đường công chính” (21,32).

Khi nói “tất cả những ǵ Thầy đă truyền cho anh em”, Đức Giêsu xác định giáo huấn của Ngài là như một lệnh truyền, như một đ̣i hỏi cấp bách (trong một ngữ cảnh tương tự, Mc nói đến “tin mừng”: 13,10; 14,9; Lc th́ nói đến “hoán cải và tha thứ tội lỗi”: 24,47). Đấng Phục Sinh biến lời của Đức Giêsu trần thế thành chuẩn mực cho Hội Thánh mọi thời và “cho đến tận thế”. Sứ điệp của Đấng Phục Sinh được coi là đồng nhất với sứ điệp của Đức Giêsu trần thế.

Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế (20b). Ego meth’ hymon eimi. Giới từ meta + thuộc cách có nghĩa là “với” nhằm diễn tả sự hiệp thông, sự hiệp nhất (cơ bản là riêng tư cá nhân), sự cộng tác, khi đó là tương quan của Đức Giêsu với những người khác: Đặc biệt 28,20 đáp lại khởi đầu Tin Mừng, khi mà Đức Giêsu được giới thiệu lúc chào đời như là Đấng mà “người ta sẽ gọi tên là Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta” (1,23). Ở đây chúng ta có một thể đóng khung rất lớn bung mở ra chiều kích vũ hoàn của bản thân Đức Giêsu trên toàn thể lịch sử nhân loại, đồng thời vẫn nêu bật sự bám rễ của Ngài về phương diện xác thịt trong thời gian và không gian. Thực tại Emmanuel này được diễn tả xuyên qua toàn thể Tin Mừng: Vào lúc chào đời của Đức Giêsu (1,23); trong  khi hoạt động, Ngài hiện diện giữa nhóm môn đệ (9,15; 26,18.20.36.38.40; x. “Đức Giêsu dẹp yên biển động”, 8,23-27; ego eimi, 14,27); những lần Ngài tiếp xúc với người tội lỗi (9,11) và qua cái chết ban ơn cứu chuộc (26,28; x. 1,21; 17,17 so với Mc 9,19). Mt 28,20 hẳn là câu trả lời chung cuộc cho câu hỏi ấy. Bây giờ Ngài hứa ở với họ măi măi.

Trong Cựu Ước, bằng những thuật ngữ tương tự Ta sẽ ở với các ngươi măi măi, Yhwh thường đảm bảo với một tín hữu, một ngôn sứ, một thủ lănh, toàn dân, nhất là trong bối cảnh một cuộc sai phái, là Ngài sẽ hiện diện, nghĩa là giúp đỡ tận t́nh, với ḷng từ bi thương xót, để cứu độ. Đấng Kyrios ban cho các môn đệ cũng một đảm bảo như Yhwh đă ban cho dân Ngài trong Cựu Ước. Ngài không thế chỗ cho các môn đệ, nhưng sẽ hiện diện với họ để nâng đỡ họ bằng sức mạnh, không do các đức tính hay các thành tích của các môn đệ, nhưng do sự trung tín hữu hiệu của Đấng đă đưa các lời hứa trong Kinh Thánh đến chỗ hoàn tất. Khi nói “tất cả các ngày”, Đức Giêsu khẳng định Ngài sẽ ở thường trực và trọn vẹn với các môn đệ, và nhắm đến tận thế, “lúc kết thúc thời gian của thế giới này”.

+ Kết luận

Trên núi Galilê (28,16; x. 5,1), Đức Giêsu Phục Sinh, đại diện toàn quyền của Thiên Chúa, tỏ ḿnh ra như là Đấng mạc khải tối hậu của Thiên Chúa và Đấng lập pháp vĩnh viễn, nay cử các môn đệ đi đến với mọi dân tộc. Trong Cựu Ước, núi Sinai xuất hiện ra như là quả núi của mạc khải và của Giao ước, trên đó Thiên Chúa tự tỏ ḿnh ra và thông ban các điều răn của Ngài (Xh 19,1–24,11). Từ Sinai, dân Israel bắt đầu cuộc hành tŕnh tiến về Đất hứa; trên núi Galilê, Đức Giêsu đích thân, trong tư cách Đấng Phục Sinh, tức đă đi vào trong đời sống Thiên Chúa, cho thấy đâu là mục tiêu của mỗi người trong “tất cả các dân tộc”.

Các lời kết thúc của Đức Giêsu đă đón nhận lấy các nội dung chính của Tin Mừng Mt về sứ vụ không biên giới của các môn đệ. Điều này c̣n cho thấy một lần nữa chiều hướng tổng hợp hướng về sứ vụ phổ quát như là nét tiêu biểu của Tin Mừng này.

5.- Gợi ư suy niệm

1. Nhóm môn đệ có một vết thương, gây ra do sự phản bội và sự biến mất của Giuđa. Họ không c̣n là mười hai, là là mười một. Vết thương này nhắc nhớ rằng tất cả đă bất trung với Đức Giêsu. Khi Người bắt đầu chuyến đi vào Thương Khó, các ông đă cắt đứt việc đi theo Người hoặc bằng cách chạy trốn (26,56) hoặc bằng cách giữ khoảng cách trong ba lần chối (26,69-75). Tuy nhiên, Đức Giêsu đă chữa lành vết đứt này. Người không gọi những môn đệ mới, nhưng gọi chính những người đă thất bại trong thử thách Khổ Nạn. Khi các môn đệ đến nơi hẹn, Đức Giêsu không hề thốt ra một lời trách móc, mà lại c̣n giao sứ vụ, là sứ vụ của chính Người

2. Nhận biết và hoài nghi là hai thái độ có thể đi với nhau, như lời xin của cha đứa bé trong Tin Mừng Máccô: “Tôi tin! Nhưng xin Thầy giúp ḷng tin yếu kém của tôi” (Mc 9,24). Do đó, cần phải nh́n lại tất cả hoạt động công khai của Đức Giêsu dưới ánh sáng của biến cố Phục Sinh. Bây giờ Đức Giêsu mạc khải cho các môn đệ biết Người có toàn quyền, Người là Chúa tể không giới hạn, do quyền Chúa Cha ban cho Người. Người đă gọi các ông, các ông đă đi theo Người, đă nghe lời Người giảng dạy; Người đă chết trên thập giá, nhưng nay Người đang sống trước mắt các ông và là Chúa tể tuyệt đối, các ông hăy tin trọn vẹn vào Người.

3. Các môn đệ của Đức Giêsu phải ra đi để làm cho muôn dân “trở thành môn đệ” Người, chứ không phải trở thành môn đệ của chính ḿnh. Các môn đệ mới sẽ cùng các ông bước theo Đức Giêsu, nghĩa là liên kết với Đức Giêsu, hiệp thông cuộc sống với Người, chấp nhận Người chỉ cho ḿnh lộ tŕnh phải theo, xác định h́nh thái và chiều hướng sống, kư thác trọn vẹn nơi Người.

4. Những người được nhận lời hứa hiện diện thường trực cho đến tận thế, không chỉ là các môn đệ ở trên núi Galilê ấy mà thôi. Chân trời mở rất rộng: Đấng Kyrios không hiện diện giữa dân Người như trong mầu nhiệm nội tại và trong thực tại thần bí của Người, nhưng đúng ra, tại mọi thời và trong mọi t́nh huống, Người ở bên cạnh dân để trợ giúp và an ủi họ, để khích lệ và kêu gọi họ, và Người luôn luôn tháp tùng hoạt động của các sứ giả Người. Mt không nhắc đến Thăng Thiên để không đưa Đức Giêsu đi xa cộng đoàn của Người: Người tháp tùng họ trong cuộc hành hương trần thế “cho đến tận thế”.

 Lm. F.X. Vũ Phan Long, ofm

 

Trở về mục lục >>

 

Lạc Quan

 

          Trong loạt bài trước đây, chúng tôi đă cố gắng chia sẻ phần nào tâm tư về cách thức “Sống Phúc Âm Đức Giêsu Kitô… bằng cách tuân giữ Luật Ḍng” (Lời Khấn Ḍng Phan Sinh Tại Thế). Hy vọng quư anh chị sẽ dành cho mục này một tâm t́nh tích cực nào đó…

            Hôm nay, trước khi bước sang một loạt bài mới, giúp cho những người “có trách vụ” trong hội đồng huynh đệ đoàn địa phương tham khảo và ứng dụng, chúng tôi mạo muội bàn về một đức tính tối cần thiết cho mọi người Phan Sinh Tại Thế, có trách vụ cũng như thành viên khác. Chúng tôi muốn nói đến “Cái Nh́n Lạc Quan” trong mọi vấn đề để giúp anh chị em luôn b́nh an và sáng suốt trong mọi quyết định.

            1. Lạc quan là ǵ? Là khi nh́n một sự việc, th́ trước hết t́m thấy cái hay cái tốt của sự việc. Ngay cả trong những việc tồi tệ nhất cũng t́m được điều ǵ tốt đẹp. Người lạc quan luôn đứng về phía sáng để nh́n sự việc, từ đó, thấy được điều tích cực của cả những việc xem ra có tính tiêu cực. Ví dụ khi ta đi đường, gặp một em bé chạy xe đạp ngang qua mặt ḿnh, dễ gây tai nạn! Thế mà ta không hề nghĩ rằng em “chạy ẩu, có ngày mày mất mạng” nhưng nghĩ ngay tới việc có thể em có chuyện ǵ đó không ổn, tỉ như có việc cần gấp phải làm, giúp bạn của em chẳng hạn, hay là em cần đi cho kịp giờ học, hoặc thậm chí có thể bị mẹ em la rầy chuyện ǵ nên em mất b́nh tĩnh! Thí dụ khác: Trong một đoạn đường cát lầy lội, một người chạy xe đạp t́m ngay giữa đường là chỗ ít cát hơn để chạy, đi sau người ấy xe Honda bóp c̣i inh ỏi, người ấy vẫn không tránh! Thế th́ sao? Người chạy xe Honda cho rằng người chạy xe đạp cứng đầu không chịu tránh. Nhưng thực ra nên biết rằng người chạy xe đạp không thể tránh được, v́ bánh xe đạp đang lăn trên cát, khó lái lắm. Lại nữa: có một phụ nữ đổ ra đường một xô nước, làm cho con đường đọng nước, xe ta đi ngang bị hất tung toé. (Tiêu cực? thiếu văn hoá?) Nhưng thực ra người ấy có ư làm như thế để cho một khúc đường trước nhà bà ta ít bị bụi bặm hơn.

            2. Ích Lợi Của Lạc Quan: Người lạc quan biết nh́n nhận mọi việc là chuyện đương nhiên trong vận hành của cuộc sống con người,  hoặc tích cực hơn, là hồng ân của Chúa, là sự an bài của Chúa, biết rằng Chúa luôn thương ta và muốn làm điều tốt lành nhất cho ta, v́ vậy, khi gặp điều ǵ bất trắc, th́ vẫn trông cậy vào Chúa, vẫn hy vọng vào sự an bài của Chúa, và luôn luôn biết t́m cách tốt nhất, hợp ư Chúa nhất để cộng tác với Chúa, đón nhận điều tiếp theo. Người lạc quan biết nh́n anh chị em ḿnh bằng ánh mắt nhân hậu, yêu thương tha thứ, có khi c̣n biết nói lời cảm ơn trong những sự việc xem ra không vừa ư ḿnh. Người lạc quan biết đánh giá đúng tinh thần của sự việc hơn là đánh giá bản thân sự việc, từ đó, biết tận dụng những điều tốt trong điều chưa tốt. Tập được tính lạc quan, người ta sẽ nhận biết lỗi ḿnh trước khi bắt lỗi kẻ khác, V́ lư do đó, người lạc quan luôn b́nh an, ít giận hờn, không phản ứng tiêu cực lúc gặp bất trắc, mà luôn luôn b́nh tĩnh sáng suốt để giải quyết mọi việc có t́nh có lư. Điều này rất cần cho người “có trách vụ”.

            3. Tại sao người “có trách vụ” lại cần lạc quan? Trong việc linh hoạt một huynh đệ đoàn, người “có trách vụ” luôn luôn gặp các t́nh huống đối nghịch nhau, gặp những ư kiến đối nghịch nhau, có khi là mâu thuẫn chia rẽ, mất niềm tin vào nhau, dễ dẫn đến thất bại trong điều hành. Nếu có cái nh́n lạc quan, người phục vụ sẽ biết đánh giá đúng sự việc, tránh suy nghĩ một chiều, tránh bị người khác chi phối t́nh cảm, có khi là bị xách động. Nếu có cái nh́n lạc quan, chúng ta sẽ biết lắng nghe tiếng nói từ nhiều phía, kể cả từ những người không tích cực xây dựng, hoặc đôi khi có ư bàn lui. Nghe tiếng nói từ nhiều phía giúp ta đắn đo phân tích, t́m tận dụng mọi điều tích cực ngay cả trong những việc thiếu tích cực. Nếu thiếu cái nh́n lạc quan, chúng ta thường hay quyết định thiếu đúng đắn trong một số vụ việc, hoặc bất công đối với một số người anh em mà ta không thích.

            4. Tập Tính Lạc Quan: Trước hết hăy học lấy nguyên tắc “c̣n tới nửa ly nước” chứ không phải “đổ mất nửa ly nước”. Sau những ǵ chưa có hoặc mất mát, ta có thể t́m được cái có để dùng, hoặc cái c̣n lại để hưởng dùng. Cũng như khi ăn trái cam, không ai lại ăn cả vỏ và hạt cam. Khi ăn trái sầu riêng, không ai cạp ngoài vỏ đầy gai góc. Có những chuyện mà mới nh́n qua, ta thấy anh em làm không đúng hoặc thiếu sót, lúc đó ta vẫn t́m được nguyên nhân, có khi điều anh em làm chưa đúng lại là tốt hơn. Cũng vậy khi gặp một người anh em “hư hỏng”, ta t́m được trong anh em ấy phần c̣n lại “chưa hư hỏng” để hiểu được đó là phần c̣n tốt (là cái căn bản); thậm chí nh́n một người rượu chè bài bạc trác táng, ta vẫn có thể t́m được câu “chưa táng tận lương tâm”, c̣n hy vọng sám hối ăn năn, trở về với Chúa và với ta; một người anh em bỏ họp nhiều tháng, ta vẫn t́m được lư do khiến cho cho người anh em ấy không đến được với ta, rồi ta khắc phục, t́m cách đến với họ, và dẫn họ trở về với huynh đệ đoàn.

            5. Những Việc Cụ Thể: Người có trách vụ luôn phải nghĩ rằng ḿnh chưa t́m hiểu đúng và đủ (tinh thần học hỏi và cầu tiến). Ḿnh phải nghĩ điều tốt cho anh em, t́m cách biện minh cho anh em mỗi khi anh em phạm lỗi, tha thứ cho anh em, mỗi khi anh em xúc phạm đến ḿnh. Đừng cố t́m bới điều lỗi của anh em, mà hăy khuyến khích và giúp anh em tự t́m ra điều ǵ “cần phải làm tốt hơn”. Sau mỗi đợt thực hiện một đề án, một công việc, th́ thường có họp rút ưu khuyết điểm, xin anh chị phục vụ luôn luôn t́m cái tốt trong anh em, t́m cách để anh em tự nói lên điều “có thể làm tốt hơn”; không bao giờ trách móc anh em nếu có một vài sai sót nào đó.

            Để kết thúc tôi xin kể lại một chuyện vui trong Nhóm (Group) Vsfo: Đă hai lần (cuối năm 2007 và đầu năm 2008) có ai đó gởi lên mạng Nội Dung Bản Tin psttvnusa của tháng 9 năm 2007! Ôi, người ta đang cần bản tin tháng 11, 2007 và bản tin tháng 2, 2008 mà lại gởi lên bản tin cũ mèm. Thế là được dịp cười nhe răng ra. Đúng ra nên đánh giá người gởi là có nhiệt t́nh giúp các anh chị em không quen nối vào Group, mà chỉ nhận qua Email thôi! họ có điểm tích cực đấy chứ!

 Phêrô Nguyễn Đức Tiến; sfo

 

Trở về mục lục >>
 

Bài 53: Thập Giới: Giới Răn V Và VI

(Xh 20,13-14) 

Giới răn thứ năm: “Ngươi không được giết người”. Giới răn này không cấm việc áp dụng án tử h́nh cho tội nhân hoặc giết các địch thủ trong trường hợp chiến tranh. Giới răn này nhắm bảo vệ sự sống khỏi mọi hành vi bạo lực độc đoán và bất hợp pháp. Kinh thánh đă nêu ra ngay vào lúc khởi đầu của lịch sử dân Thiên Chúa một tội sát nhân điển h́nh: đó là trường hợp Ca-in đă giết  A-ben, em ḿnh (St 4,8-16). Kinh thánh cũng nêu ra lư do sâu xa của giới răn cấm sát nhân: con người là h́nh ảnh của Thiên Chúa (St 9,6). Như thế tội sát nhân là một sự xúc phạm nặng nề tới Thiên Chúa qua hinh ảnh của Người.

Giới răn thứ sáu: “Ngươi không được ngoại t́nh”. Giới răn này không trực tiếp đề cập đến những sai phạm về phương diện tính dục, nhưng đến một vấn đề thiết yếu: đó là bảo vệ đời sống hôn nhân. Hôn nhân không chỉ là một quy luật tự nhiên, nhưng c̣n là một thể chế do Thiên Chúa Tạo hoá quy định (St 1,28; 2,24). Nó đ̣i hỏi vợ chồng phải tuyệt đối trung tín với nhau: đó là điều kiện cơ bản để t́nh yêu chân thật triển nở và sự sống của con cái được bảo đảm.

Mặc dầu vấn đề đa thê c̣n được cho phép trong xă hội cũ (Đnl 21,15), nhưng các ngôn sứ và hiền nhân vẫn khuyên bảo người đàn ông hăy giữ trọn t́nh yêu đối với người vợ thời son trẻ (Cn 5,15-19 ; Ml 2,14-15). Nền tảng của t́nh yêu trung tín trong hôn nhân, đó là giao ước giữa Thiên Chúa và Dân Người (Hs 1-2;11-14; Is 54 ; Ed 16). Nói cách khác vợ chồng hăy thương yêu nhau và trung tín với nhau, như Thiên Chúa yêu thương Dân Người, và như Dân được tuyển chọn có bổn phận trung thành kính yêu Chúa ḿnh. (c̣n tiếp)

 Lm. Norbert Nguyễn Văn Khanh, ofm


Trở về mục lục >>

 

Tạ Ơn Mẹ

           

Lạy Mẹ dịu hiền nhân hậu của chúng con. Lời đầu tiên con muốn thưa với Mẹ là con rất yêu Mẹ. Mỗi khi nghĩ về Mẹ, ḷng những đứa con ngoan đều dâng lên niềm cảm mến, kính yêu tha thiết. V́ t́nh mẹ dành cho con măi măi bao la như biển cả cho đời con được tắm mát. Như Thái Sơn cao vời vợi che chắn những trận băo đời làm con điên đảo. Là bóng mát khi tâm hồn con chơi vơi giữa sa mạc nắng cháy. Là suối ngọt khi t́nh đời dập vùi làm con cay đắng. C̣n t́nh con bé nhỏ như hạt sương. Chỉ một thoáng trong đêm để rồi tan biến khi mặt trời thức dậy. Dù vậy, Mẹ vẫn yêu thương chúng con.

Chúng con hướng ḷng lên Mẹ, dâng Mẹ lời tạ ơn đơn sơ nhưng rất mực chân t́nh. Tạ ơn Mẹ đă không bao giờ bỏ quên những đứa con tội lỗi. Cầu khẩn Mẹ dạy bảo, dắt d́u chúng con luôn biết bước theo Mẹ, học hỏi những thánh đức của Mẹ. Để mỗi người chúng con được là một nụ hoa góp thêm hương săc cho khu vườn Giáo Hội thêm xinh tươi. Cho anh em hạnh phúc, để Danh Cha từng ngày cả sáng… Amen.

 Maria

Trở về mục lục >>
 

 

Giáo Huấn 8: Giữa Các Thế Hệ

Là tổ ấm của giới trẻ, gia đ́nh cũng là nơi gặp gỡ của nhiều thế hệ khác nhau như ông bà, cha mẹ, con cái và đôi khi có cả cháu chắt nữa. Sự gặp gỡ này là một lợi ích lớn đối với giới trẻ, nhưng với điều kiện là các thế hệ lớn giữ đúng vai tṛ hướng đạo và làm gương của ḿnh.

Công Đồng Vaticanô II đă nhận định như sau: “Gia đ́nh là một trường học phát triển nhân tính. Nhưng để gia đ́nh có thể sống trọn vẹn và chu toàn sứ mệnh của ḿnh th́ cần phải biết hoà hợp tâm hồn: vợ chồng phải cùng nhau bàn định cũng như cha mẹ phải ân cần cộng tác trong việc giáo dục con cái” (Hiến Chế Mục Vụ, số 52).

Thánh Công Đồng nhấn mạnh về sự nhất trí trong nhiệm vụ giáo dục con cái của các bậc phụ huynh, nhất là của người cha và người mẹ. Nhiệm vụ này liên hệ đến một trong những quyền lợi căn bản của gia đ́nh: đó là quyền giáo dục con cái.

Ngoài ra, cũng theo Công Đồng Vaticanô II, th́ nhiệm vụ và quyền lợi cơ bản này phải được thực hiện trong sự hoà hợp tâm hồn, nghĩa là trong tinh thần cộng tác và bổ sung cho nhau giữa các thế hệ, nhất là giữa người cha và người mẹ. Chúng ta hăy để ư nghe tiếng nói của Công Đồng: “Sự hiện diện của người cha giúp ích rất nhiều cho việc đào tạo con cái, nhất là khi thơ bé, rất cần sự chăm sóc ấy. Tuy nhiên vẫn không coi thường sự thăng tiến hợp lư của người phụ nữ trên b́nh diện xă hội” (MV 52).

Việc giáo dục con cái là công tŕnh chung của người cha và người mẹ, do đó cả hai phải triệt để đoàn kết và nhất trí với nhau. Và nếu gia đ́nh có ông bà, chú bác, cô d́... th́ sự tâm đầu ư hợp c̣n phải được thể hiện cách rộng răi hơn nữa, mới có thể tránh được cảnh “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, hay sự đổ lỗi cho nhau như “con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”.

Gia đ́nh là nơi gặp gỡ các thế hệ để giúp đỡ và bổ túc cho nhau.

 ĐGM Nicolas Huỳnh Văn Nghi

 

Trở về mục lục >>

 

Tiếng Tích Tắc Của Đồng Hồ

 

            Áo Nâu, Anh thân yêu

            Trời đă ngă về chiều, tia nắng cuối cùng của ngày sắp tắt. Tay em cầm bút ngồi đối diện với chiếc đồng hồ. Tiếng tích tắc cứ văng vẳng bên tai khiến em liên tưởng đến việc em phải đối mặt với thời gian.

            Ngày mai rồi sẽ trở thành hôm qua, và hôm nay sẽ trở thành dĩ văng, năm mới rồi sẽ trở thành năm ngoái và năm nay sẽ trở thành năm cũ. Điều c̣n lại trong em bây giờ là sự b́nh yên.

            Bản thân em không thể hoàn hảo nhưng em muốn quí trọng mặt tốt của sự “qua đi” trân trọng những điều khiếm khuyết của anh chị em chung quanh, chấp nhận cá tính của bè bạn và luôn t́m cách giúp họ làm những điều tốt. Em muốn sống đúng với lương tâm, v́ biết ư nghĩa của cuộc sống là nằm chính ở tâm hồn, và em cũng tin rằng trên đời này luôn có rất nhiều người sống chân thành với t́nh cảm của ḿnh.

            Khi tan vỡ t́nh yêu làm cho con người chết đi; nhưng cũng có thể làm cho con người tái sinh và t́nh yêu cũng có thể làm cho con người khờ dại, như Xuân Diệu nói: “Tôi khờ dại lắm, ngu ngơ quá, Chỉ biết yêu thôi, chẳng biết ǵ...”

            Thực ra, Xuân Diệu không định nói “chẳng  biết ǵ”. Điều mà chúng ta không biết trong khi yêu, là không biết đến bản thân nữa, mà chỉ biết đến người yêu và t́nh yêu.

            Nếu chỉ phát âm trong mấy giây, “tôi thương người”, mà có lặp đi lặp lại một ngàn lần “tôi yêu người” th́ cả đời cũng chưa hiểu hết ư nghĩa của nó. V́ thế, em muốn cả đời này em cảm nhận được, rung động được trước mối t́nh dành cho tha nhân.

            Anh thân yêu! Sự hiện diện của Anh chính là cuộc sống. Anh đă đánh thức nguồn cảm hứng vô tận trong con tim ngủ quên của em. Khi ra đi phục vụ, hành lư quan trọng nhất mà em phải mang theo chính là Anh. V́ thế mà em không mệt mỏi chút nào khi làm con tằm vắt sức để nhả những ḍng tơ, việc làm ấy như một thứ t́nh yêu thiêng liêng đơn giản, bộc lộ cảm xúc mà chính là bản giao ước em sẽ giữ làm gia nghiệp trọn đời.

            Ôi! tiếng tích tắc của đồng hồ. Ôi! thời gian đă qua đi! nhưng trong ḷng em vẫn b́nh yên -thứ b́nh yên vĩnh cửu- v́ thời gian qua em không để cho oán ghét giận hờn len lỏi vào tâm hồn em.

            Em chào Anh và chúc mừng Anh là Năm Tháng của mọi người.

 Agnès Kim Gương

Sự Cải Tiến Trong Ḍng PSTT

TranSFOrmation

            Một trong những điều quan trọng mà Hội Đồng Phục Vụ và Hội Đồng Trợ Úy Miền đang cải tiến là làm cách nào để giải quyết nhu cầu ‘cần có những vị trợ úy cho các huynh đệ đoàn ở cấp địa phương!’

Thực vậy, dựa vào hoàn cảnh thực tế của số thành viên trong Ḍng Phan Sinh Tại Thế ngày càng tăng, và số tu sĩ Phan Sinh thuộc Ḍng I, II, III Tại Viện ngày càng giảm tại Hoa Kỳ.

Dựa vào một thực tế khác nữa là các tu sĩ Ḍng phải tuân giữ và sống theo Luật Ḍng của các ngài chứ không tuân giữ Luật Ḍng Phan Sinh Tại Thế của chúng ta. Do đó, những cảm nghiệm thực tế của đời sống tu đức và kinh nghiệm trợ úy ít nhiều sẽ khác với kinh nghiệm của người Phan Sinh Tại Thế … v́ vậy, vai tṛ của các Tu Sĩ Ḍnglinh giám th́ đúng hơn là trợ úy

Với những nhận định nêu trên, và sau một thời gian dài để cầu nguyện, suy nghĩ, bàn tính, và thử nghiệm; Hội Đồng Trợ Úy Quốc Gia và Miền Phanxicô phối hợp giữa 3 nhánh tu sĩ Ḍng I (OFM, OFM Conv., OFM Cap.) và Ḍng III Tại Viện cùng đồng thuận là sẽ huấn luyện và chỉ định một số anh chị Phan Sinh Tại Thế có khả năng, có thiện chí tham dự khóa huấn luyện để sẵn sàng dấn thân phục vụ trong vai tṛ Giáo Dân Trợ Úy (GDTU) cho những huynh đệ đoàn Phan Sinh Tại Thế nơi ḿnh sinh hoạt. Dĩ nhiên, những anh chị này vẫn học hỏi, làm việc, và phục vụ chung với nhau trong hội đồng trợ úy Miền dưới sự hướng dẫn và giám sát của các linh mục hay tu sĩ Ḍng I, và Ḍng III Tại Viện đă được các vị bề trên của mỗi Ḍng chỉ định.

Mục tiêu sẽ đạt tới là năm 2010, Ḍng Phan Sinh Tại Thế Miền Thánh Phanxicô sẽ có đủ số Giáo Dân Trợ Úy xứng hợp và được huấn luyện để đảm nhận trách nhiệm Trợ Úy ở cấp địa phương và Miền. Xứng hợp có nghĩa là được Miền chứng nhận là có sự hiểu biết về Luật Lệ và Nội Qui của Ḍng Phan Sinh Tại Thế; Được huấn luyện là đă được chuẩn bị để các Giáo Dân Trợ Úy ấy có khả năng lănh đạo trong một thế giới đa dạng và luôn thay đổi.

Cụ thể chương tŕnh thực hiện như sau:

Giai Đoạn 1

Từ tháng 07/2006 đến tháng 03/2008, Miền đă huấn luyện được 16 Trợ Úy cấp địa phương, và 1 Trợ Úy cấp Miền. (16+1=17 GDTU)

Giai Đoạn 2

Từ tháng 03/2008 cho đến nay, Miền đang huấn luyện thêm 8 Trợ Úy nữa, nghĩa là đến tháng 12/2008 Miền sẽ có tất cả là: 17+8=25 GDTU.

Giai Đoạn 3

Khoảng tháng 12/2008, Miền sẽ huấn luyện thêm 16 Trợ Úy nữa; nghĩa là đến tháng 12/2010 Miền sẽ có tất cả là: 25+16=41 GDTU. Hiện nay Miền Thánh Phanxicô có 40 huynh đệ đoàn.

Ngoài ra, để thống nhất danh xưng trong tiếng Việt, chúng tôi xin đề nghị dịch chữ Lay Spiritual AssistantGiáo Dân Trợ Úy, thay v́ Trợ Úy Giáo Dân như nhiều người vẫn dùng khi dịch theo cách thường t́nh từ Anh sang Việt ngữ.

Thử làm một cuộc so sánh trong danh xưng: Nếu các linh mục được mời làm trợ úy, chúng ta sẽ gọi các ngài là Linh Mục Trợ Úy, Cha Trợ Úy, (chứ không gọi là trợ úy linh mục). Nếu là tu sĩ, chúng ta gọi các ngài là Tu Sĩ Trợ Úy hay Thầy Trợ Úy, Sơ Trợ Úy, (chứ không gọi các ngài là trợ úy tu sĩ). Cũng vậy, một giáo dân được chọn làm trợ úy cho một huynh đệ đoàn, chúng ta sẽ gọi họ là Anh Trợ Úy, chị Trợ Úy, và gọi chung là những Giáo Dân Trợ Úy.

Hơn nữa, nếu dịch là Trợ Úy Giáo Dân dễ gây hiểu lầm là trợ úy của các giáo dân, hay trợ úy cho các giáo dân. Tương tự như danh xưng Tuyên Úy Bệnh Viện là danh từ dùng để nói về một người đang trợ giúp tinh thần ở/cho/trong bệnh viện. Hay Tuyên Úy Quân Đội là danh từ dùng để nói về một người đang trợ giúp tinh thần ở/cho/trong quân nhân/quân đội… Ở đây Giáo Dân Trợ Úy chỉ là người phục vụ trong một cộng đoàn nhỏ chứ không là trợ úy cho tất cả mọi giáo dân trong giáo hội.

Cuối cùng, xin quí anh chị hăy cộng tác với Sự Cải Tiến này của Miền; mà cụ thể là cộng tác, hổ trợ, nâng đỡ, cảm thông, và nhất là cầu nguyện cho những Giáo Dân Trợ Úy đă được “Sai Đi” hay sẽ được “Sai Đi” hầu cho những ích lợi thiêng liêng của từng cá nhân, từng huynh đệ đoàn, và của Miền ngày càng phong phú hơn.

Anthony Lê Văn Hoàng, sfo

Con Chó Sói Thành Gubbiô

 

Gubbiô là một thành phố nhỏ miền trung nước Ư, nằm phía Đông-Bắc tỉnh Pérousia, vùng Ombria. Diện tích 525 km2, dân số có 32,500 người. Gubbiô cũng là một thành phố cổ, được xây dựng từ thời Tiền-La-Mă, thế kỷ thứ II trước Công nguyên, có tên là Iguvium.

Từ xưa đến nay, cư dân Gubbiô luôn có nếp sống hiền lành, đạo đức; cuộc sống tuy không giàu có, không tân tiến như ở các thành phố lớn, nhưng rất an vui, hạnh phúc. Được như thế, theo người dân ở đây cho biết, là nhờ hồng phúc của Thánh Phanxicô Assisi để lại. Họ rất tự hào kể lại câu chuyện truyền kỳ về việc Thánh Phanxicô thu phục một con chó sói hung dữ tại thành phố này.

Theo tuyển truyện có tựa đề là "Những Đóa Hoa Thơm" (Fioretti) kể lại rằng Thánh Phanxicô trên đường đi rao giảng Phúc âm, có lần đă ghé ngang qua Gubbiô, lúc đó là một ngôi làng nhỏ.

Phanxicô nghe dân làng bàn tán về một con chó sói to lớn, hung dữ thường lân la quanh vùng tấn công gia súc và cả người ta. Dân làng sợ hăi đến độ nếu không thật cần thiết, chẳng ai dám ra khỏi nhà. Mà hễ có ra khỏi nhà th́ phải đi từng tốp 5-7 người vơ trang gậy gộc, giáo mác. Tội nghiệp cho dân làng, Phanxicô quyết định đi t́m gặp con chó sói mặc dù mọi người đều ra sức can ngăn. Ngài làm dấu Thánh giá trên ḿnh, cầu nguyện, tin tưởng phó thác cho Chúa rồi cùng với một vài anh em ra đi.

Vừa ra đến đầu làng, con sói hung dữ như đă chực sẵn, há mơm, sồng sộc chạy thẳng về phía Ngài. Phanxicô vội giơ tay làm dấu Thánh Giá trên ḿnh chó sói. Con vật đột nhiên ngừng lại, hoảng hốt tuy vẫn gầm gừ nhe nanh vuốt. Phanxicô nghiêm giọng: "Anh Sói! Anh đă phá hoại, gây bao nhiêu tội ác và thiệt hại cho dân làng này. Chúa có cho phép đâu, mà anh lại cắn giết, tàn hại các sinh vật của Ngài? Tệ hơn nữa, anh lại cả gan cắn chết người là loài thụ tạo được Chúa dựng nên theo h́nh ảnh Chúa. Tội của anh đáng lấy cào lấy cuốc mà bổ vào đầu như đối với một tên cướp của giết người hung ác. Cả làng này đều oán ghét anh. Nhưng thôi, anh Sói, tôi muốn ḥa giải giữa anh và dân làng để anh đừng phạm tội nữa, và dân làng cũng tha thứ cho anh, không săn đuổi, t́m diệt anh nữa."

Sau một phút ngần ngừ, con sói vẫy tai, lúc lắc cái đuôi, cúi dầu, giương đôi mắt hiền lành chờ đợi nh́n về phía Phanxicô như chấp thuận những ǵ Ngài nói. Phanxicô vỗ đầu chó sói, rồi bảo: "Anh Sói! Nếu anh đồng ư với thỏa ước này, tôi sẽ nói với dân làng nuôi anh suốt đời, anh chẳng sợ chết đói đâu. Tôi biết, v́ đói mà anh phải làm càn làm bậy. Tôi cho a