Mọi thư từ liên lạc, xin gửi về PSTTVNUSA@YAHOO.COM. Copyright © 2002 WWW.PSTTVNUSA.NET. All rights reserved.
 

NỘI DUNG HÀNG THÁNG (05-2007)

"AI NẤY ĐỀU ĐƯỢC TRÀN ĐẦY THÁNH THẦN”

   
 
Trong Số Này:
TÂM SỰ HẰNG THÁNG
 

Thánh Thần

HỌC HỎI LỜI CHÚA
 

Điều Răn Mới

LINH ĐẠO PHAN SINH
  Linh Đạo Phan Sinh Tại Thế
GIÁO LÝ TÓM LƯỢC
  Bài 41: Ông Môsê, Người Con Của Hai Bà Mẹ
LỜI KINH MỖI THÁNG
  Hoa Yêu Thương
TRINH NỮ MARIA
  Đức Maria Trong Tuyền Thống Thần Học PS
THIẾU NHI PHAN SINH
  Phục Sinh Yêu Thương  
HÔN NHÂN GIA Đ̀NH
  Bài 7: Hòa Giải Và Tha Thứ Trong Gia Đình
NỮ GIỚI PHAN SINH
  Chọn "Đúng”, Yêu "Đúng”
NHỮNG BÀI ĐỌC THÊM
  Lời Tâm Sự Sau Tai Nạn ...
CẦU NGUYỆN CHO NHAU
   
THÔNG BÁO TIN TỨC
   

 

 

Thánh Thần

Thưa quí anh chị,

Hôm nay, chúng ta mừng lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Với quyển Kinh Thánh trên tay, tôi tưởng như đang “ngồi” bên cạnh Thầy Giêsu Chí Thánh để lắng nghe Lời Người.

Nhớ lại chiều xưa, một buổi chiều cách đây hơn hai ngàn năm, Chúa Giêsu ngồi giữa các môn đệ trong bữa tiệc cuối cùng của cuộc đời làm người, Người tâm sự thật nhiều, thật lâu với các môn đệ mà Người yêu thương, quyến luyến và lo lắng cho họ. Trong tâm tình của một người Thầy, với trái tim của một người Cha, Chúa Giêsu quả quyết là Người sẽ không để họ mồ côi. Trước khi ra đi, Người đã ban Thánh Thần cho họ, và Thánh Thần ở lại trong họ, dạy bảo, dẫn dắt, thúc đẩy họ bước theo con đường của Thầy Chí Thánh. Và kết quả là: Từ những người dốt nát, nhút nhát, rụt rè, sợ sệt, chối Thầy… các môn đệ đã trở thành những Chứng Nhân Vĩ Đại của Người, các ngài đã đem về cho giáo hội những mùa lúa bội thu, và các ngài đã trở thành những tấm gương sáng cho nhân loại đời đời noi theo.

Ngày nay, với nhịp sống hiện đại khiến cho người ta khó nhận ra sự hiện diện thầm lặng nhưng rất mạnh mẽ của Chúa Thánh Thần… Thử nghĩ, mỗi ngày trong cuộc sống, chúng ta đối diện với biết bao vấn nạn ảnh hưởng đến gia đình, công việc, cơm áo, bạc tiền, bạn bè… và khi đứng trước những khó khăn, đau buồn, trăn trở về cuộc sống, làm sao có sự khôn ngoan để suy nghĩ, tính toán, cân nhắc, đắn đo, giải quyết… để có thể vượt qua mọi thứ thách nếu như không có sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần. Hơn nữa, khi chúng ta làm một việc gì đó; mà kết quả của nó làm cho người khác có những nụ cười, niềm vui, hạnh phúc thì đó chính là sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần. Ngài hiện diện trong từng hơi thở của chúng ta, Ngài luôn bảo bọc, che chở, dắt dìu đàn con thân yêu của ngài Như một người mẹ hiền.

Với Thầy Giêsu Chí Thánh; suốt cả cuộc đời, Người luôn bước theo sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần. Thật vậy, trong cuộc chịu nạn và phục sinh vinh quang của Người, Chúa Thánh Thần chính là Đấng Trợ Lực giúp Người vượt qua sự chết để khải hoàn vinh thắng… Và từ khi Ngài về trời đến nay, (đã hai ngàn năm), giáo hội vẫn tồn tại và phát triển song song với những gian nan thử thách, với biết bao Kitô Hữu tử vì đạo đã ngã xuống với giòng máu hồng tuông chảy… Nhưng với Chúa Thánh Thần, và trong Chúa Thánh Thần, giáo hội vẫn bền vững, và sẽ bền vững đến muôn đời.

Còn chúng ta, mỗi người đều có một nơi để thờ phượng Chúa Thánh Thần: đó chính là tâm hồn của chúng ta. Gia đình cũng là một đền thờ sống động để cho Chúa Thánh Thần ngự trị. Hãy cầu nguyện với Chúa Thánh Thần, hãy mở lòng trí để đón nhận Ngài, hãy dâng cho Ngài hết thảy mọi chuyện vui buồn sướng khổ trong từng ngày sống và trải dài cho đến trọn cuộc đời mình. Hãy phủ phục trước nhan Ngài và cầu xin Ngài luôn hiện diện trong mình và trong gia đình mình. Hãy luôn nhớ rằng Ngài rất gần gủi với chúng ta, Ngài luôn đồng hành với chúng ta, Ngài luôn lắng nghe từng lời tâm sự của chúng ta. Và nếu chúng ta để cho Ngài làm chủ cuộc đời mình; chúng ta sẽ thấy Ngài thật gần gủi, thật trìu mến, thật thân thương… và chúng ta sẻ cảm nghiệm và xác tín hơn lời hứa của thầy Giêsu Chí Thánh đã phán: "Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”. (Mt 28,20)

Lạy Chúa Thánh Thần, xin sáng soi và thêm sức cho chúng con luôn.

 BBT

 

Trở về mục lục >>

 

Điều Răn Mới

(Gioan 13,31-33a.34-35 – CN V PS - C)

13:31 Khi Giu-đa đi rồi, Đức Giê-su nói: "Giờ đây, Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người. 13:32 Nếu Thiên Chúa được tôn vinh nơi Người, thì Thiên Chúa cũng sẽ tôn vinh Người
nơi chính mình
, và Thiên Chúa sắp tôn vinh Người. 13:33 Hỡi anh em
những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi. Anh em sẽ tìm kiếm Thầy; nhưng như Thầy đã nói với người Do-thái: ‘Nơi tôi đi, các người không thể đến được', bấy giờ, Thầy cũng nói với anh em như vậy. 13:34 Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. 13:35 Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết
anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng
yêu thương nhau."

1.- Văn mạch

Đoạn văn chúng ta đọc hôm nay thuộc về phân đoạn 1 của Phần ii, “Sách Vinh Quang” (ch. 13–20). Sau khi Giuđa bỏ bàn tiệc đi ra, có lẽ sau rửa chân và trước khi lập bí tích Thánh Thể, bắt đầu các biến cố đưa tới việc Đức Giêsu bị bắt, bị kết án và bị xử tử thập giá. Ngọn thủy triều của sự từ khước, đã lên dần từ lâu, nay đổ ập xuống trên Đức Giêsu. Cứ nhìn từ bên ngoài, Người đã bị hủy diệt tan tành; bản thân Người và công trình của Người đã tiêu tan thành mây khói. Tuy nhiên, Đức Giêsu lại nói cho các môn đệ biết, dù bề ngoài tình hình ngặt nghèo như thế, chuyện gì thực sự đang xảy và đâu là nhiệm vụ chính yếu của các ông khi các ông không còn thấy Người hiện diện hữu hình giữa các ông nữa.

2.- Bố cục

Bản văn này gồm ba phần:

1) Cuộc tôn vinh (13, 31-32);

2) [Chuẩn bị] ra đi (13, 33[a]);

3) Điều răn Yêu thương (13, 34-35).

3.- Vài điểm chú giải

- Con Người đã được tôn vinh (31): Đức Giêsu quá chắc chắn là sẽ tìm được sự sống trong cái chết, và tìm được danh dự trong ô nhục, đến độ Người nói về việc tôn vinh Người như một sự kiện đã được thực hiện: “Con Người đã được tôn vinh (edoxasthê)". Ta có thể giải thích thì quá khứ tác giả dùng để diễn tả một điều còn thuộc về tương lai như sau: Đức Giêsu tín nhiệm vào tính hữu hiệu của những định đoạt của Cha Người hơn là vào những hậu quả kể từ nay không thể tránh được do cuộc phản bội của Giuđa.

-Con Người (31): Tác giả cố tình dùng danh xưng "Con Người" này. Một đàng danh hiệu này vẫn có ý nghĩa thiên sai của các Tin Mừng Nhất Lãm, một đàng lại có một nghĩa chính xác hơn khi được Gioan vận dụng: trong 10 đoạn có danh xưng này, luôn luôn do Đức Giêsu nói ra (1,51; 3,13.14; 5,27; 6,27; 6,53.62; 8,28; 12,23; 13,31– Bốn câu cuối liên hệ đến thập giá), danh xưng này luôn hàm chứa một gợi ý đến vinh quang đang chờ Ngôi Lời nhập thể, nhằm đáp lại việc Người đã hạ mình là "một người con của loài người", dù là người con tuyệt vời nhất.

-Thiên Chúa được tôn vinh nơi Con Người (31): Câu này có thể hiểu bốn cách: (a) Qua Đức Giêsu, Thiên Chúa đang được loài người tôn vinh; (b) Thiên Chúa được Đức Giêsu tôn vinh, chẳng hạn, bằng sự vâng phục của Người; (c) Thiên Chúa đã nhận được danh dự cho mình nơi Đức Giêsu; (d) Thiên Chúa đã mạc khải vinh quang của Ngài ra nơi Đức Giêsu.

Vinh quang luôn hàm ý một sự tỏ bày hữu hình sự uy hùng của Thiên Chúa ra nơi các hành vi quyền lực. Cả hai điểm này đều được ghi nhận nơi cái chết và sự sống lại của Đức Giêsu, vì đó là một hành vi thuộc quyền riêng của Người (x. 10, 17-18). Tuy nhiên, vì quyền lực của Đức Giêsu cũng đồng thời là quyền lực của Thiên Chúa, ta có thể thấy ý nghĩa đầy đủ của câu này là một tổng hợp nghĩa hai và bốn trên đây. Như thế, nơi Đức Giêsu, trong cái chết của Người trên thập giá, "Thiên Chúa được tôn vinh”, nghĩa là Thiên Chúa được mạc khải ra như là Cha.

-Thiên Chúa cũng sẽ tôn vinh Người nơi chính mình (32): Nếu Thiên Chúa đã được tôn vinh nơi Đức Giêsu (trong cuộc Thương Khó và trong cuộc trở về với Cha Người xuyên qua cái chết; x. 7,39; 12,16.23), đáp lại, Đức Giêsu cũng sẽ được tôn vinh nơi chính Thiên Chúa. Khi Đức Giêsu tôn vinh Thiên Chúa qua cái chết của Người, thì Thiên Chúa, tác giả của mạc khải, cũng sẽ tôn vinh Đấng Mạc khải, tức Con của Ngài.

-sắp (32): "tức khắc" (euthus). Cuộc Thương Khó, cái chết và Lên trời được coi như một hành vi ngắn duy nhất (x. "một ít lâu nữa thôi" của c. 33) đưa tới vinh quang tương lai trước nhan Chúa Cha.

-những người con bé nhỏ (teknia; 33): Kiểu gọi này xuất hiện 7 lần trong 1 Ga, nhưng chỉ 1 lần ở đây. Đây là kiểu gọi của Đức Giêsu hay là một sáng tạo của tác giả? Chúng ta không thể trả lời dứt khoát, nhưng biết rằng một vị thầy Do-thái có thể gọi học trò của mình là "con". Trong Mc (10,24), Đức Giêsu đã gọi các môn đệ là "các con tôi" (tekna, thay vì kiểu giảm nhẹ teknia); còn trong Mt (18,3; 19,14), Đức Giêsu khuyên các môn đệ hãy sống như các em bé.

-một ít lâu nữa thôi (33): x. 7,33; 12,35;14,19; 16,16. Đây là một công thức Cựu Ước được các ngôn sứ sử dụng để nói bằng giọng lạc quan rằng chỉ còn một thời gian ngắn nữa là ơn cứu độ của Thiên Chúa sẽ đến (Is 10,25; Gr 51,33).

-điều răn (34): Đề tài "điều răn” thường được đề cập đến trong Bài Diễn từ cuối cùng (6-7 lần) và trong các Thư Gioan (18 lần).

-yêu thương nhau (35): Để nói về tình yêu giữa các môn đệ Đức Giêsu với nhau, tác giả Gioan luôn luôn dùng động từ agapan, "yêu thương" cùng với sự hy sinh, tự hiến.

4.- Ý nghĩa của bản văn

* Cuộc tôn vinh (31-32)

Sau khi Giuđa ra đi, Đức Giêsu nói cho các môn đệ biết những điều hệ trọng, một điều vang lên như một tin chiến thắng: "Giờ đây”, đã đến “Giờ” Người đạt tới đích điểm của cuộc đời của Người. Trong tất cả những gì Người đã làm, Đức Giêsu luôn nêu bật dây liên kết giữa Cha và Con, giữa Đấng sai phái và Đấng được sai phái: các lời nói và các việc làm của Con đều đến từ Cha và cho thấy dây liên kết Con với Cha. Điều này cũng đúng cho cuộc Thương Khó và cái chết của Người. Các biến cố này không cho thấy rằng Đức Giêsu bị tách khỏi Cha và bị Cha bỏ rơi, nhưng chúng mạc khải dây liên kết hỗ tương giữa Đức Giêsu và Cha, nay đã đến đỉnh cao. Con tôn vinh Cha và Cha tôn vinh Con. Trong hành vi Đức Giêsu hiến dâng mạng sống cùng với những hậu quả của hành vi này, Cha và Con trở nên hữu hình trong quan hệ hỗ tương giữa hai Đấng với nhau và quan hệ của hai Đấng với loài người. Đây là đặc tính chân thật của cái chết của Đức Giêsu, và ta cần phải nhận ra như thế nhờ đức tin.

Con Người được tôn vinh vào lúc Người hy sinh mạng sống. Không phải bằng lời nói, nhưng xuyên qua biến cố thực hữu và tuyệt đối hệ trọng này, Người tỏ mình ra như là Con được liên kết với Cha bằng một niềm tín thác vô biên. Đối với Người, cái chết này là hành vi quay về với Cha (13,1). Đức Giêsu không bám víu vào điều gì cả, Người ngoan ngùy phó thác cho Cha, ngay cả vào lúc Người phải đương đầu với cái chết. Ngay vào lúc đó, Người bày tỏ tình yêu vô biên của Người đối với loài người (13,1), như người mục tử nhân lành, không giữ lại gì cho mình, nhưng ban tặng chính mạng sống cho chúng ta. Nhưng nơi Con Người, Chúa Cha cũng được tôn vinh. Xuyên qua hành vi của Con, Thiên Chúa tự mạc khải như là Cha, Đấng đáng được ta tin tưởng, và là Đấng duy nhất ta phải tin tưởng. Và hành vi Đức Giêsu trao hiến mạng sống cho thấy tình yêu vô biên của Thiên Chúa đối với thế gian (3,16). Tiếp hành vi mạc khải của Đức Giêsu là hành vi Thiên Chúa tôn vinh Đức Giêsu. Sau khi chết, Con Thiên Chúa được Cha đón vào đời sống thần linh, trong vinh quang mà Người đã thuộc về trước muôn thuở (17,5). Nhưng Đức Giêsu còn được Cha tôn vinh do Người tỏ mình ra như là Đấng được treo cao trên thập giá, trong sức mạnh cứu độ hữu hiệu của Người. Từ Người, tuôn trào các dòng sông ban nước sinh sống. Người ban Thánh Thần, là sức mạnh đưa đến sự sống đời đời (7,38-39), và lôi kéo mọi người về với Người (12,32).

* [Chuẩn bị] ra đi (33[a])

Chỉ vào lúc này, khi sắp từ biệt các môn đệ, Đức Giêsu mới gọi các ông là "các con bé nhỏ", một giọng điệu phải nói là chan hòa sự ân cần chăm sóc yêu thương như mẹ hiền. Cho tới nay, Người vẫn ở giữa các ông và che chở các ông (17,12); bây giờ Người đi đến cái chết. Như thế, chấm dứt sự hiệp thông của các ông với Người về phương diện hữu hình. Các ông không đi theo Người vào cái chết và vào trong vinh quang ngay lúc này được (x. 13,26; 21,18-19). Người muốn chuẩn bị các ông chop thời gian xa cách bên ngoài.

* Điều răn Yêu thương (13,34-35).

Với điều răn “Anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em" (13,34), Đức Giêsu cho các môn đệ thấy một cách thức theo đó Người sẽ tiếp tục hiện diện giữa các ông và Người qui định cách sống của các ông. Các môn đệ phải qui hướng bản thân về tình yêu của Người, là tình yêu mà mỗi ông đã trải nghiệm. Trong tình yêu này, mỗi ông phải là Giêsu cho người khác, phải chấp nhận người khác, giúp đỡ người ấy, quan tâm đến điều thiện hảo của người ấy, như chính Đức Giêsu đã làm. Như thế, các ông sẽ làm cho Đức Giêsu hiện diện cho nhau trong cái đặc điểm tiêu biểu của Người: tình yêu. Các môn đệ được ngỏ lời với như là một cộng đoàn, các ông phải định hướng đời mình theo sự hiệp thông đời sống mà các ông đã có thể có với Đức Giêsu.

Thật ra, trong Cựu Ước, đã có một điều răn được diễn tả tương tự: “Ngươi phải yêu đồng loại như chính mình" (Lv 19,18). Nhưng nếu nói đến kinh nghiệm từ đó phát xuất ra điều răn của Đức Giêsu, cũng là kinh nghiệm nâng đỡ điều răn này, kinh nghiệm giúp đo lường điều răn này, thì phải nói điều răn của Đức Giêsu hoàn toàn mới mẻ. Chỉ các môn đệ của Đức Giêsu mới đã trải nghiệm tình yêu của Người, và chỉ trong cái chết của Đức Giêsu, tình yêu của Đức Giêsu và tình yêu của Thiên Chúa mới được mạc khải ra trọn vẹn (13,1.31). Trên nền tảng là tình yêu các ông nhận được từ Chúa Cha và Chúa Con, các môn đệ phải yêu thương nhau. Đức Giêsu không ban cho các ông một điều răn thuần túy và đơn giản, nhưng trước tiên cống hiến cho các ông kinh nghiệm về tình yêu của chính Người và tạo ra cho các ông một không gian sống mới, bằng cách ban tặng chính sự sống của Người và mạc khải cho thấy tình yêu của Thiên Chúa. Nếu mở lòng ra với tình yêu và với việc tôn vinh của Đức Giêsu, các môn đệ có thể yêu thương nhau như Người đã yêu thương các ông. Như thế các ông càng chứng tỏ các ông đúng là môn đệ của Người hơn. Nhờ tình yêu hỗ tương giữa các ông với nhau, Đức Giêsu tiếp tục hiện diện giữa các ông, và hướng dẫn các ông sống và cư xử.

+ Kết luận

Sự hiệp thông hữu hình cho đến nay giữa Đức Giêsu và các môn đệ, bây giờ đến lúc chấm dứt. Chính điểm kết thúc này lại cho thấy rõ ràng Đức Giêsu gắn bó với các môn đệ và yêu thương các ông đến độ nào. Người từ biệt các ông, nhưng không bỏ các ông. Người sẽ ở lại với các ông nhờ tình yêu của các ông đối với nhau, và các ông sẽ tiếp tục gắn bó với Người.

5.- Gợi ý suy niệm

1. Sau khi Giuđa đi rồi, ở lại phòng tiệc, chỉ còn những người bạn thân tín nhất của Đức Giêsu. Người tâm sự về lẽ sống của Người: Người sống hết mình cho Chúa Cha và cũng hết mình cho các môn đệ. Đây là mẫu gương về người mục tử tốt lành. Và đấy cũng là vinh quang của Người, bởi vì trong Kinh Thánh, "vinh quang" có nghĩa là phẩm chất của con người, tầm mức quan trọng, giá trị, sự uy dũng: Người được như thế do Người hoàn toàn chấp nhận thánh ý của Chúa Cha, vì yêu mến Chúa Cha và vì yêu thương loài người. Mỗi Kitô hữu, khi thực hiện chương trình của Thiên Chúa về mình, cũng đạt được “trọng lượng”, tầm quan trọng, giá trị, sự cao cả.

2. Không phải là chỉ với Đức Giêsu, người ta mới được kêu gọi yêu thương nhau. Với sách Lv Đnl, Dân Chúa đã được kêu gọi yêu thương nhau rồi. Nhưng điều răn yêu thương Đức Giêsu ban, có thể được gọi là "mới", do chỗ nó mô phỏng cụ thể tình yêu của Đức Giêsu, cũng là tình yêu của Thiên Chúa tỏ hiện nơi Đức Giêsu. Như thế, khi yêu thương, người Kitô hữu tỏ bày Thiên Chúa ra cho loài người. Và nói ngược lại, nếu không yêu thương nhau, các Kitô hữu đã làm biến dạng gương mặt của Đức Giêsu và của Thiên Chúa.

3. Tình yêu được diễn tả qua động từ agapan là tình yêu quảng đại, hàm chứa sự tự hiến, sự hy sinh. Chính Đức Giêsu đã làm chứng về tình yêu này khi Người cúi xuống rửa chân các môn đệ và ra đi chịu chết cho các ông và mọi người. Các Kitô hữu được mời gọi bắt chước Người mà yêu thương như Người. Tình bác ái là sự nối dài trong lòng ta tình yêu của Đức Kitô đối với chúng ta (“như Thầy đã yêu thương anh em") và tình yêu của chúng ta đối với Đức Kitô (“ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy”).

4. Kể từ nay, Đức Giêsu cư ngụ trong các môn đệ như là tình yêu, Người sẽ yêu thương trong các ông. Người không chỉ ban cho các ông một lời để tuân giữ, nhưng Người ban chính mình. Với việc ban điều răn mới, Đức Giêsu ban chính sự hiện diện của Người. Cũng như Bí tích Thánh Thể, điều răn mới chính là sự hiện diện thực hữu của Đức Giêsu.

Lm. F.X. Vũ Phan Long, ofm

 

Trở về mục lục >>

 

Linh Đạo Phan Sinh Tại Thế

Chương III của Luật 1978 (tiếp theo)

Xin Cáo lỗi: Vì vô ý, trong Bản Tin tháng 4-2007; điều luật số 22 đã ghi lầm là điều 21. Nay xin đính chính lại. Xin chân thành cám ơn. Tháng này chúng ta sẽ tiếp tục với điều 21.

2. Điều 21: Hội Đồng Phục Vụ – Anh/chị Phục Vụ: “Ở các cấp, mỗi huynh đệ đoàn được một Hội Đồng và một anh/chị Phục Vụ linh hoạt và điều khiển…”

Trong Dòng Phan Sinh Tại Thế không có bề trên. Việc linh hoạt huynh đệ đoàn được giao cho hội đồng. “Các đường hướng và quyết định của hội đồng lại giao cho anh hoặc chị phục vụ. Hãy đọc THC 51.1: “Không làm phương hại đến tính đồng trách nhiệm của hội đồng, anh/chị phục vụ là người chịu trách nhiệm đầu tiên lo cho các đường hướng và quyết định của hội đồng được thi hành…"

Như vậy, việc linh hoạt huynh đệ đoàn không chấp nhận tính cá nhân của một người, mà là đề cao tính cách đồng đoàn. Thực chính xác nếu gọi hội đồng là cơ quan "lập pháp" (x. Luật Dòng Phan Sinh Tại Thế, chú thích và áp dụng – nhiều tác giả, Phan Sinh Tại Thế xuất bản, trang 137). Vì vị trí quan trọng của hội đồng, nên những người được bầu chọn vào hội đồng, phải là những người đã khấn vĩnh viễn, (có chiều dày cảm thức Phan Sinh); người cầm lá phiều để bầu chọn cũng phải là người đã tuyên khấn. Cũng đã có tiền lệ tại một số huynh đệ đoàn cho những người trong thời kỳ chuyên tập được bỏ phiếu bầu chọn, đó là những huynh đệ đoàn có quá ít cử tri. Nhưng việc bầu như thế phải được huynh đệ đoàn cấp cao hơn một bậc chuẩn cho.

Hội đồng được bầu theo từng nhiệm kỳ 3 năm (THC.49.2), như vậy cứ 3 năm một lần huynh đệ đoàn lại họp tu nghị có bầu cử để bầu chọn anh/chị phục vụ và Hội Đồng, Thời hạn 3 năm là dài hay ngắn? Đối với những huynh đệ đoàn có nhiều tiềm năng nhân sự, thì 3 năm cũng là vừa, nhưng đối với những huynh đệ đoàn thiếu nhân sự, thì gặp khó khăn mỗi lần phải bầu lại. Nhưng đây là quy định của Hiến Chương, chúng ta sẽ bàn cách khắc phục sau.

Hội đồng gồm những thành viên nào? THC 41.1 quy định: Hội đồng huynh đệ đoàn địa phương gồm: anh/chị phục vụ, phó phục vụ, thư kư, phụ trách huấn luyện. Tùy theo nhu cầu của mỗi huynh đệ đoàn, có thể đặt thêm những trách vụ khác. Vị trợ úy tinh thần của huynh đệ đoàn đương nhiên là thành viên của hội đồng. Trong thời đại này cần đặt nặng vai trò phục vụ của người Phan Sinh Tại Thế, của Dòng Phan Sinh Tại Thế, thiết tưởng chúng ta nên có thêm những ủy viên khác, nhất là ủy viên Phúc Âm Hóa và Xã Hội. Hơn nữa, để có tiềm năng nhân sự, đào tạo lớp trẻ "từ xa" chúng ta nên có ủy viên đặc trách Giới Trẻ Phan Sinh.

Luật điều 21 này cũng nêu bật "sự sẵn sàng dấn thân và ý thức trách nhiệm đối với mỗi người và tập thể". Về điều này, thật khó cho chúng ta là những người "tại thế". Ý thức thì có, nhưng để hoàn thành lại là việc khác. Có khi trong tu nghị, nhận trách vụ một cách miễn cưỡng (vì nể vị, vì vâng lời, vì được khuyến khích…), đến khi thực sự đi vào công tác mới gặp bao nhiêu khó khăn không thể vượt qua. Có lẽ ở nơi huynh đệ đoàn quý anh chị cũng như chúng tôi, cũng có những thành viên mà từ khi nhận trách vụ cho đến khi rời trách vụ là 3 năm mà chỉ thực hiện nhiệm vụ một vài lần, thậm chí có khi chỉ "hiện diện" được đôi ba lần. Đến ngày tu nghị lại chẳng kiếm đâu ra người, lại bầu chọn y nguyên người ấy (!) Chúng ta vẫn chưa tìm được giải pháp cho vấn đề, nên chi chúng tôi mạnh dạn đề xuất một phương án dài hạn. Đó là lo huấn luyện đào tạo những người có khả năng, thiện chí và điều kiện thời gian để chuẩn bị đưa vào danh sách ứng cử viên cho tu nghị kỳ tới (nhiều năm sau). Như thế có tráí với Tổng Hiến Chương hay một văn bản pháp quy nào trong các nguyên tắc bầu cử không? Chúng tôi chưa tìm hiểu được những quy định cụ thể cho việc “đề cử và ứng cử". Gọi là ứng cử viên, nhưng thực sự chẳng có ai ứng cử, chẳng có ai đề cử ai, chỉ có bầu chọn ngay trong buổi họp tu nghị. Gần đây, tại một số huynh đệ đoàn đã có những buổi "hiệp thương" để giúp các cử tri nhận định đúng người đúng việc khi sử dụng lá phiếu kín bầu chọn các thành viên trong hội đồng. Động thái ấy có thành công hay không, có đem lại hiệu năng đích thực hay không, còn phải chờ thời gian; nhưng theo chúng tôi tự nghĩ, trong bữa tiệc cưới ở Canna, Chúa bảo các gia nhân múc nước đổ vào chum. Ở đây cũng thế, chúng ta phải tìm cho ra nước (tìm sông, tìm suối, nếu không có sông suối, thì đào giếng) mà múc, mà đổ vào chum. Từ đó mới có nước để biến thành rượu (Có ý nói là Chúa soi sáng giúp sức).

Trong bài sau, chúng tôi sẽ chia sẻ những suy nghĩ về cách thức và kinh nghiệm làm việc đồng đoàn trong hội đồng, và trong huynh đệ đoàn. Ở đây chúng ta dừng lại tại những điểm căn bản thôi. Điều cần biết và thực hiện cho bằng được, là tính đồng đoàn của hội đồng. Có như thế thì gánh nặng công việc không bao giờ trút lên một người nào, mà mỗi người đều có việc phải làm và được làm để việc phục vụ chu toàn hơn.

 Phêrô Nguyễn Đức Tiến; sfo

 

Trở về mục lục >>

Bài 41: Ông Môsê, Người Con Của Hai Bà Mẹ

(Xh 2,1-10)

Lệnh của Pharaôn, tức vua Ai-cập, thật rõ ràng và nghiêm nhặt: phải giết chết tất cả những con trai của người Do-thái ngay từ lúc mới sinh. Vì thế bà mẹ của cậu bé Môsê phải làm hết cách để cứu đứa con của mình. Bà bỏ nó trong một cái thúng và đặt giữa đám sậy ở bờ sông Nin. Cô công chúa của Pharaôn ra sông tắm, thì thấy đứa bé đang khóc. Tuy biết đó là một đứa bé Do-thái, nhưng vì động lòng thương, cô quyết định kéo ra khỏi nước và đưa về nuôi. Cái mưu do bà mẹ của cậu bé Môsê nghĩ ra, đã thành công: cô công chúa của Pharaôn giao đứa bé cho chị nó lúc ấy đang đứng đó, để đứa bé gái đi tìm một vú nuôi. Tất nhiên đứa bé gái vội vã đi tìm mẹ nó. Cũng như trong câu chuyện ông Giuse, sự quan phòng của Thiên-Chúa thật kỳ diệu. Từ một dự định độc ác của loài người, Thiên-Chúa cũng có thể rút ra được một điều tốt lành để thực hiện kế hoạch cứu độ của Người.

Như vậy Môsê là người con của hai bà mẹ, một bà mẹ Do-thái và một bà mẹ Ai-cập, bởi vì công chúa của Pharaô "đã coi đứa bé như con và đặt tên là Môsê", nghĩa là "được vớt ra khỏi nước" (Xh 2,10). Ông Môsê, vị cứu tinh của dân tộc It-ra-en, lại là người đã được cứu vớt bởi một phụ nữ Ai-cập. Ông tiêu biểu nơi bản thân mình sự hoà giải giữa hai dân tộc kình địch, dân Do-thái và dân ngoại. Công việc hoà giải này sẽ được thực hiện một cách viên mãn nhờ Đức Giêsu, như thánh Phaolô đã khẳng định: "Nhờ thập giá, Người đã làm cho đôi bên được hoà giải với Thiên Chúa trong một thân thể duy nhất; trên thập giá, Người đã tiêu diệt sự thù ghét" (Ep 2,16 ). Sau này ông Mô-sê phải sống lưu đày giữa dân tộc Ma-đi-an và cưới một phụ nữ ngoại giáo làm vợ (Xh 2,11-22). Như vậy từ khi sinh ra cho đến khi trưởng thành, ông Mô-sê là biểu tượng của sự hiệp nhất giữa những con người chia rẽ. Ông sẽ được gọi để trở thành "trung gian" giữa Thiên-Chúa và loài người (Gl 3,19), tiên báo vai trò của Đức Giê-su, Đấng trung gian duy nhất của giao ước mới (Dt 9,15; 12,24), hoàn thiện hơn giao ước cũ bội phần (Dt 8,6)

Lm. Norbert Nguyễn Văn Khanh, ofm

Trở về mục lục >>

 

Hoa Yêu Thương

Lạy Mẹ Muôn Hoa,

Bông hoa là những tạo vật xinh đẹp do Cha tặng ban cho chúng con. Hoa có muôn màu, muôn sắc, muôn hương, và hoa luân phiên đua nở bốn mùa làm cho vũ trụ thêm phong phú, cho chúng con cùng tận hưởng, cùng cảm nhận và cảm tạ lòng nhân từ bao la của Cha.

Nhưng dù xinh đẹp đến đâu, cũng chỉ là loài hoa chóng tàn.

Có một loài hoa đẹp nhất, sống lâu nhất được Thánh Tử Giêsu Con Chí Ái của Cha mang từ Vương Quốc Tình Yêu của Người xuống trần gian. Người gieo trồng khắp vũ trụ cho nhân loại được hưởng dùng: đó là Hoa Yêu Thương.

Mẹ đã dạy chúng con rằng: Yêu Thương là Giới Luật của Cha. Yêu Thương là điều đẹp lòng Cha hơn hết mọi nhân đức; và yêu thương chính là nụ hoa muôn hương, muôn sắc, mà Mẹ luôn mong chờ nơi những người con của Mẹ; để qua Mẹ, nụ hoa tuyệt vời ấy sẽ được dâng lên trước tôn nhan Cha, để trở thành của lễ đẹp lòng Cha từ nhân.

Lạy Mẹ Muôn Hoa, xin dạy chúng con biết vun xới tâm hồn mình để cho hạt giống Tình Yêu nẩy mầm, cho lòng chúng con luôn nở rộ những Nụ Hoa Nước Trời. Amen

Maria

Trở về mục lục >>
 

Đức Maria Trong Tuyền Thống Thần Học PS

II. DÒNG ANH EM HÈN MỌN VỚI TÍN ĐIỀU ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI

(tiếp theo kỳ trước)

B. ĐÓNG GÓP CỦA CÁC ANH EM KHÁC QUA CÁC THẾ KỶ

Mặc dầu Duns Scot đã chiến thắng một cách vẻ vang tại trường đại học Paris, nhưng Dòng Anh Em Hèn Mọn còn phải trải qua một cuộc phấn đấu cam go, và kéo dài tới gần 6 thế kỷ nữa, cho tới khi đặc ân ấy được tuyên bố là tín điều.

Vài năm sau khi Duns Scot qua đời, cuộc tranh luận lại diễn ra quyết liệt. Con cái thánh Phanxicô không tránh khỏi những trường hợp bị cảnh cáo, kết án và đối xử tàn tệ.

Sau Duns Scot còn nhiều anh em có tên tuổi khác nữa đã đóng góp vào công việc suy tư, hoặc phổ biến lòng tôn sùng đối với Đức Trinh Nữ Vô nhiễm.

1. Trên bình diện đạo lư :

a- Năm 1314, Pierre Auriol, người đầu tiên, đã viết một thiên khảo luận về Đức Trinh Nữ Vô nhiễm (Tractatus de Conceptione B.M.V.) trong đó anh trình bày đầy đủ các nguyên nhân và các chứng lý, cùng với cách giải thích về tội Nguyên tổ mà phần chính yếu vẫn còn có giá trị hôm nay.

b- Tại Công Đồng Bâle (1431) do Đức Giáo Hoàng Martinô triệu tập, về sau được chuyển về Firenze, hai anh em hèn mọn Jean de Ségovie và Pierre Perqueri đứng ra biện hộ cho đặc ân Vô nhiễm của Đức Mẹ. Khi Công đồng nhìn nhận là đặc ân này phù hợp với đức tin, Dòng Anh Em Hèn Mọn tưởng như đã đạt tới mục đích. Nhưng sau đó, Đức Giáo Hoàng kế vị, Eugène IV, tuyên bố hủy bỏ Công đồng Bâle.

c- Trong thế kỷ XV, một biến cố quan trọng khác xảy ra là cha Tổng Phục vụ dòng Anh Em Hèn Mọn nhánh Tu viện, Francois de la Rovère, được bầu làm Giáo hoàng dưới tước hiệu là Sixtô IV (1471-1484). Người có một lòng sùng kính đặc biệt đối với Đức Mẹ Vô nhiễm. Người đã cho xây nhiều nguyện đường dâng kính Đức Mẹ, trong đó có nguyện đường nổi tiếng Sixtine dâng kính Đức Mẹ Vô nhiễm. Người cho xuất bản một thiên khảo luận về Đức Trinh Nữ Vô nhiễm (De Conceptione Beatae Virginis contra errorem cujusdam Carmelitae Bononiensis ), một tác phẩm quan trọng do đề tài và do uy tín của tác giả.

Năm 1474-1476, Đức Sixtô IV phê chuẩn bài lễ và thần tụng do chân phước Bernardino Busti soạn cho ngày lễ Đức Mẹ Vô nhiễm.

Sự kiện quan trọng nhất là ngày 4-9-1483, Người ra sắc chỉ "Grave nimis" trong đó Người trách cứ những ai không tin nhận Đức Maria là Đấng Vô nhiễm và kết án những ai dám giảng dạy đó là một lạc thuyết (F.C.390). Sắc chỉ này là phản ứng chính thức đầu tiên của Tòa Thánh đối với đặc ân Đức Mẹ Vô nhiễm. Nó cũng xác định chiều hướng mà từ nay Tòa Thánh sẽ đi theo.

d- Tại Công đồng Trentô, ngay từ đầu, Dòng Anh Em Hèn Mọn được đại diện đông đảo hơn các Dòng khác: 18 nghị phụ thuộc 2 nhánh Tuân Thủ và Tu Viện; về sau đại diện của nhánh Anh em Lúp Vuông cũng được mời tới. Lẽ dĩ nhiên các anh em này mang tới Công đồng đạo lư rõ ràng của mình về sự tự do của con người, tội nguyên tổ và vấn đề Đức Mẹ Vô nhiễm. Các anh được hưởng sự yểm trợ tích cực của Đức Hồng y Pacheco và của một Hội Dòng mới ra đời lúc bấy giờ nhưng có rất nhiều ảnh hưởng: Đó là Dòng Tên, do thánh Ignatio sáng lập.

Đặc ân Đức Mẹ Vô nhiễm chưa được công bố như một tín điều, nhưng được nhìn nhận một cách gián tiếp. Khi công bố văn kiện nói về tội nguyên tổ, Công Đồng không có ý bao hàm trường hợp Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa, đồng thời dạy phải tiếp tục tuân hành sắc chỉ của Đức Giáo Hoàng Sixtô IV (F.C.280). Sắc chỉ này về sau còn được tái xác nhận nhiều lần do các Giáo hoàng kế vị.

đ- Trong thế kỷ XVII, tại Châu Âu nói chung, nhất là tại Tây ban Nha, Anh Em Hèn Mọn đã gây được ảnh hưởng rất lớn không những trên dân chúng, mà cả trên các vua chúa. Vua Philippe III đã gởi sang Đức Giáo Hoàng Phaolô V ba phái đoàn để xin Đức Giáo Hoàng cho đặc ân Đức Mẹ Vô nhiễm nguyên tội được định tín. Phái đoàn II là do một Anh Em Hèn Mọn dẫn đầu, cha Antoine Trajo, cùng với một thư ký lỗi lạc là anh Luca Wadding, người đã có công thu thập di cảo của thánh Phanxicô trong thế kỷ XVII.

Năm 1619, Đức Giáo Hoàng Phaolô V trả lời với vua Tây ban Nha là: Một vấn đề khó khăn như thế không thể được giải quyết nhanh chóng. Nhưng Người cũng cấm không ai được công khai nói năng chống lại đặc ân Vô nhiễm của Đức Mẹ.

Khi Đức Giáo Hoàng Grêgoriô XV lên ngôi (1621), vua Philippe IV lại gửi một phái đoàn khác tới Rôma. Đức Giáo Hoàng liền yêu cầu Tòa án tôn giáo duyệt xét lại vấn đề. Quan điểm Phan Sinh được một tu sĩ Dòng Tên và một tu sĩ Dòng Anh Em Hèn Mọn bảo vệ một cách tốt đẹp, nên sau đó, vào ngày 2-6-1622 Đức Giáo Hoàng ra lệnh từ nay không ai được phi bác và chối bỏ, không những ở những chỗ công cộng mà cả trong những câu chuyện riêng tư, đạo lư về Đức Mẹ Vô nhiễm nguyên tội.

Với sự gợi ý của con cái thánh Phanxicô, vua Philippe IV lại khiếu nại với Đức Giáo Hoàng Alexandre VII. Vị Giáo hoàng này ra sắc chỉ "Sollicitudo omnium ecclesiarum" ngày 8-12-1661 (x. F.C. 395). Sắc chỉ này cũng quan trọng như sắc chỉ của Đức Giáo Hoàng Sixtô IV. Trong văn kiện này, Đức Giáo Hoàng xác định đối tượng của lòng tôn sùng đối với Đức Trinh Nữ Vô nhiễm, với những lời lẽ mà Đức Giáo Hoàng Piô IX sau này sẽ lấy lại hầu như nguyên vẹn.

e- Năm 1645, Tổng Tu nghị Dòng Anh Em Hèn Mọn họp tại Toledô (Tây ban Nha) đã chọn Đức Mẹ Vô nhiễm làm bổn mạng của Dòng. Tổng Tu nghị này đã quy tụ những anh em thông thái để trình bày vấn đề lại một cách đầy đủ. Trong số các anh em đó, có nhà thần học nổi tiếng Pierre de Alva y Astorga. Trong bộ sách khổng lồ "Cuộc cổ động của toàn thế giới cho Đức Trinh Nữ Vô nhiễm” (Militia universalis pro Immaculata Conceptione), xuất bản từ 1648 tới 1666, anh thu thập chứng tá của các thế kỷ trước, phân tích hoặc nêu danh hơn 6000 tác giả. (còn tiếp)

Lm. Norbert Nguyễn Văn Khanh, ofm

Trở về mục lục >>

Phục Sinh Yêu Thương

Các cháu thân mến.

Mùa đông lạnh lẽo đã đi qua, Mùa Xuân lại đến, khí trời trở nên ấm áp, cây cối nẩy mầm xanh tươi. Trong mùa đáng yêu này, người ta cố tình đặt vào đó ngày lễ trọng đại nhất của nhân loại: “Ngày Lễ Mẹ".

Các cháu suy nghï xem, có ai trên thế gian này không có mẹ. Từ vua chúa giàu sang, đến người bần cùng, nghèo đói đều được mẹ cưu mang chín tháng mười ngày trong bụng, được mẹ yêu thương, chăm sóc từ khi lọt lòng đến khi trưởng thành. Tình mẹ yêu con cái, không bút mực nào tả hết nổi. Người ta đã dùng nhạc, dùng thơ, đem hết những từ mỹ miều, âu yếm, những từ đẹp nhất để ca ngợi tình mẹ: "Tình mẹ bao la như biển cả, ngọt ngào như giòng suối, tha thiết như đồng lúa rì rào…"

Các cháu thân mến của cô, có khi nào các cháu dành chút thời gian, nhìn lại mẹ mình, xem mẹ mình đã, và đang làm gì cho mình. Mẹ vừa phải đi làm kiếm tiền phụ ba nuôi các cháu, mỗi sáng lúc các cháu chưa dậy, mẹ đã lo đầy đủ, nào thức ăn sáng, thức ăn trưa, quần áo… cho cháu đến trường, chiều về còn buổi cơm chiều, rồi dạy các cháu học. Đêm đến đến giường xem các cháu ngủ yên không, đắp mền cho các cháu rồi mới lên giường. Chưa kể lúc các cháu đau ốm hay gặp phải chuyện gì, mẹ lo đến bỏ luôn ăn ngủ, người ốm đi và già hẳn ra, có khi còn bỏ cả tánh mạng để bảo vệ con cái. Đó là trường hợp các cháu ngoan ngoãn. Nếu cháu nào không biết nghe lời, hư hỏng, lòng mẹ đau đớn hơn, thất vọng đến cỡ nào! Mẹ luôn nhìn theo từng đứa con, tha thứ từ lỗi nhỏ đến tội lớn, và ao ước con mình có tương lai bằng với mọi người, nên dù phải cố gắng, hy sinh cỡ nào, mẹ cũng cố gắng làm bằng được cho các con. Các cháu nghï xem, trên thế gian này, có ai yêu thương chúng ta bằng mẹ chúng ta không?

Các cháu thân mến, Mẹ Maria cũng vậy. Trên Cây Thánh Giá, trước khi chết, Chúa Giêsu đã âu yếm giao Mẹ của Người lại cho chúng ta. Mẹ Maria đã nhận lấy sứ mệnh này trong vâng phục và đã yêu thương chúng ta bằng tấm lòng của người mẹ trần gian. Mẹ vui khi chúng ta được Thiên Chúa yêu thương. Mẹ buồn và lo lắng khi chúng ta phạm đến Chúa. Mẹ xót xa khi chúng ta quá tội lỗi, làm Thiên Chúa buồn lòng. Mẹ cầu bầu khi chúng ta có việc cần van nài Chúa, Mẹ thật là người Mẹ hết lòng yêu thương con cái mình.

Các cháu thân mến của cô. Tình của mẹ thì bao la, trải dài hết cuộc đời của chúng ta. Nhưng mẹ không đòi hỏi chúng ta cho lại mẹ bất cứ việc gì. Mẹ chỉ cần chúng ta sống tốt. Nhưng nếu các cháu yêu mẹ, chỉ cần nhìn mẹ kỹ hơn, nói với mẹ rất thật lòng: "Con yêu mẹ lắm!". Cô nghĩ là Mẹ Maria, hay mẹ thế gian cũng chỉ cần bấy nhiêu đó thôi! Đủ để đền đáp tất cả những gì Mẹ cho chúng ta. Cô thương chúc các cháu một mùa lễ Mẹ đầy yêu thương!

 Cô Thể Xuân

Trở về mục lục >>
 

 

Bài 7: Hòa Giải Và Tha Thứ Trong Gia Đình

1. Kinh Thánh: (Ep 2,13-18): 13Trước kia anh em là những người ở xa, nhưng nay, trong Đức Kitô Giêsu, nhờ Máu Đức Kitô đổ ra, anh em đã trở nên những người ở gần. 14Thật vậy, chính Người là bình an của chúng ta: Người đã liên kết đôi bên, dân Do-thái với dân ngoại thành một; Người đã hy sinh thân mình để phá đổ bức tường ngăn cách là sự thù ghét; 15Người đã hủy bỏ Luật cũ gồm các điều răn và giới luật. Như vậy, khi thiết lập hòa bình, Người đã tác tạo đôi bên thành một người mới duy nhất nơi chính bản thân Người. 16Nhờ Thập giá, Người đã làm cho đôi bên được hòa giải với Thiên Chúa trong một thân thể duy nhất; trên Thập giá, Người đã tiêu diệt sự thù ghét. 17Người đã đến loan Tin Mừng bình an: bình an cho anh em là những kẻ ở xa, và bình an cho những kẻ ở gần. 18Thật vậy, nhờ Người, cả đôi bên, chúng ta được liên kết trong một Thần Khí duy nhất mà đến cùng Chúa Cha.

1. Suy Tư: Một phần cốt yếu và thường xuyên của vai trò thánh hóa của gia đình Kitô hữu hệ tại trong việc chấp nhận lời mời gọi hoán cải mà Tin Mừng gởi đến mọi Kitô hữu, những người không phải bao giờ cũng luôn luôn trung thành với sự "mới mẻ" của Bí Tích Thánh Tẩy đã làm cho họ nên "thánh". Khi thường xuyên từ chối nhìn nhận Thiên Chúa là nguồn gốc của mình, con người cũng phá vỡ mối tương quan với cùng đích tối hậu của mình cũng như toàn thể mối tương quan với chính mình, với người khác và toàn thể tạo thành. Gia đình Kitô hữu cũng đôi khi bất trung với luật của ân sủng và thánh thiện do phép Thánh Tẩy, được làm mới lại trong Bí Tích Hôn phối.

2. Xung đột và hòa giải trong gia đình:

Sự hiệp thông trong gia đình chỉ có thể được giữ gìn và nên hoàn thiện nhờ một tinh thần hy sinh cao cả. Quả thế, nó đòi hỏi mỗi người và mọi người phải sẵn sàng cởi mở và quảng đại để hiểu biết, chấp thuận, tha thứ, hòa giải. Không gia đình nào lại không biết tính ích kỷ, bất hòa, tình trạng căng thẳng và xung đột tấn công mãnh liêt, và đôi khi làm tổn thương trầm trọng sự hiệp thông: vì thế xảy ra nhiều hình thức chia rẽ khác nhau trong đời sống gia đình. Nhưng đồng thời mọi gia đình đều được Thiên Chúa của sự bình an kêu gọi trải qua kinh nghiệm vui sướng và đổi mới của “hòa giải" nghĩa là, sự hiệp thông được tái lập, sự hiệp nhất được phục hồi. Đặc biệt việc tham dự vào Bí tích Hòa Giải và bàn tiệc Thân thể duy nhất của Đức Kitô đem lại cho gia đình Kitô hữu ân sủng và bổn phận vượt lên mọi chia rẽ và hướng về sự hiệp thông viên mãn mà Thiên Chúa muốn, bằng cách đáp trả ước muốn tha thiết của Chúa “Xin cho họ nên một" (Ga 17,21)

3. Bí tích Hòa Giải và bình an trong gia đình.

Hối lỗi và tha thứ lần nhau trong lòng gia đình Kitô hữu quan trọng biết bao trong đời sống hằng ngày, tìm thấy cách diễn tả đặc biệt có tính Bí Tích trong việc đền tội Kitô giáo. Trong Thông điệp Humanæ vitæ, Đức Phaolô VI đã viết về đôi vợ chồng: “Nếu tội lỗi vẫn còn thống trị trên họ, họ đừng ngã lòng, nhưng hãy kiên trì và khiêm tốn chạy đến lòng thương xót của Thiên Chúa, được tuôn đổ rộng rãi trong Bí tích Hòa Giải" (số 25).

Cần phải khám phá Đức Kitô là mầu nhiệm của lòng từ ái (mysterium pietatis), Đấng trong Ngài, Thiên Chúa tỏ lộ cho chúng ta lòng thương xót của Người và hòa giải chúng ta trọn vẹn với Người. Chính khuôn mặt này của Đức Kitô phải được tái khám phá trong Bí tích Hòa Giải mà đối với các tín hữu đó là cách thế thông thường để đón nhận ơn tha thứ và tẩy xóa những tội trọng phạm đến sau Bí tích Thánh Tẩy.

Việc cử hành Bí Tích có ý nghĩa đặc biệt cho đời sống gia đình, khi họ khám phá trong đức tin rằng tội lỗi đi ngược lại không những giao ước với Thiên Chúa, nhưng còn ngược lại giao ước giữa người chồng và người vợ và sự hiệp thông của gia đình, đôi vợ chồng và các thành viên khác của gia đình được dẫn đến gặp gỡ với Thiên Chúa, Đấng “giàu lòng thương xót" (Ep 2,4). Người tuôn đổ trên họ tình yêu của Người, tình yêu mạnh hơn tội lỗi và Đấng xây dựng lại và làm cho hôn ước và hiệp thông gia đình nên hoàn thiện.

Khả năng này tùy thuộc vào ơn tha thứ và hòa giải, luôn đem lại sức lực thiêng liêng để bắt đầu lại. Vì lý do ấy, các thành viên của gia đình cần gặp gỡ Đức Kitô trong Hội Thánh qua Bí Tích kỳ diệu là Đền Tội và Hòa Giải.

4. Trao Đổi

1. Chúng ta có kinh nghiệm về những lợi ích của Bí tích Hòa Giải trong đời sống gia đình không?

2. Chúng ta có đón nhận ơn tha thứ giữa những khó khăn và hiểu lầm của chúng ta không?

(Trích tài liệu của Hội Đồng Giáo Hoàng về Gia Đình)

 

Lm. Irênê Nguyễn Thanh Minh, ofm

 

Trở về mục lục >>

 

Chọn "Đúng”, Yêu "Đúng”

Đã rất lâu, tôi không có dịp trò chuyện cùng em. Bất chợt hôm nay, tôi đọc được nỗi buồn vụn dại nhưng chất đầy trong lòng em qua những trang giấy nhỏ… Em có điều muốn nói với tôi? Hay chỉ than thở cách vô tình cho một chuyện tình không đoạn kết? Hay là lời trách móc về sự vô tâm của những người quanh em?

Ngày ấy, cách đây khoảng năm trăm ngày, em rụt rè bước từng bước nhỏ vào nếp sống mới. Mảnh đất em đặt chân đến là vùng đất hiền hoà của quê tôi. Khi mới đến đây, em hoàn toàn cô độc, dần dần em gọi tôi là mẹ, thế là em có một người thân, rồi em có thêm bạn bè, lối xóm, và một khung trời yêu thương riêng dành cho mình; là nơi chính em tự do chọn lựa.

Bản tính của tôi không để ư đến chuyện của người khác, trừ khi người khác nhờ cậy. Chuyện của em cũng vậy? Em muốn yêu ai là quyền của em, vì trái tim của em là một thế giới hoàn toàn cá biệt, và không ai có quyền bước vào thế giới thiêng liêng ấy… Nhưng, đây không phải là điều tôi muốn nói…

Điều tôi muốn nói là em đã chọn và yêu như thế nào? Em có chọn đúng và yêu đúng không? Em có hiểu tình yêu là điều gì đó rất cao đẹp và huyền diệu mà con người không thể lý giải không? Thật vậy, khi yêu, tình yêu sẽ giúp nhau sống tốt hơn, sẽ là sức mạnh nâng đỡ tinh thần cho nhau, giúp nhau vượt qua mọi gian khó trong cuộc sống, sẽ dắt nhau về bến bờ tươi đẹp, sẽ biến đổi phận người…

Ngược lại, nếu yêu mà phải chịu nhiều sự khổ đau, yêu để tâm hồn bị dày vò, yêu để hằng đêm có những giọt nước mắt âm thầm rơi, yêu để cho lòng thấp thỏm, sợ hãi, trí óc rối như tơ vò, yêu trong nặng mặc cảm là kẻ tội lỗi… thì yêu để làm gì hở em?

Và khi giã từ một cuộc tình, em lại bi quan cho rằng cuộc đời đã chấm dứt! Chia tay một người tình thì mọi sự đều tan biến cách kinh sợ! Đừng bi quan và mặc cảm như thế em ạ! Trên đời này còn vô số tấm lòng…

Đường đi tới vẫn thênh thang, lối về vẫn rộng mở như ngày nào, không phải ai chấm dứt một cuộc tình vụng dại cũng đều rơi vào tuyệt vọng đâu em. Tóm lại, ai cũng có quyền yêu và được yêu. Nhưng điều quan trọng là khi yêu, hãy biết chọn; và biết yêu cho "đúng" nghe em.

MK

Trở về mục lục >>

 

 
 

 

THƯ CHO ÁO NÂU

Ý Nghĩa Của Tình Yêu

Áo Nâu, anh thân yêu

Con trai út của em lên mười hai tuổi, hôm nay, đột nhiên ngả vào lòng em, vuốt ve cái cổ tay mới bị bong gân của em và hỏi "Tình yêu là gì hở mẹ?" Nghe xong, em hơi lúng túng và nghĩ rằng: phải chăng con mình xem phim tình cảm nhiều nên tò mò hỏi thế? Rồi em suy nghĩ thêm rằng; mình là người mẹ gần gũi nhất với con, chẳng lẽ mình không giải thích cho con hiểu biết về điều này? Em miên man suy nghĩ… Chợt nhớ đến vài lần trao đổi với ông thầy thời em còn đi học, thầy cho biết khi có học trò hỏi một câu hơi khó trả lời, thì phải tìm một câu hỏi lại học trò để có thời gian chuẩn bị cho câu trả lời, nên em cũng bắt chước hỏi:

- Thế ai sinh ra con?

- Mẹ sinh ra con.

- Đúng rồi! Con là máu thịt của mẹ, là báu vật mà Chúa đã ban tặng cho ba mẹ. Ba mẹ yêu con, con yêu ba mẹ. Tình yêu đó!

Anh ạ, câu trả lời của em chắc chắn chưa làm thỏa lòng con út của em. Nhưng đây là dịp cho em suy tư đôi điều về Tình yêu. Tình yêu là một sự huyền nhiệm. Tình yêu mà Chúa tạo dựng trong con người là thứ tình yêu mà chính Chúa sở hữu trong Tim Ngài. Là yêu thương nhau, là yêu con cái mình, là yêu đồng loại, yêu cả kẻ phản bội mình, yêu kẻ đã nộp mình bằng một nụ hôn. Tình yêu là luôn nghĩ về nhau; như Chúa luôn nghĩ về con người tội lỗi. Tình yêu là mưu cầu hạnh phúc cho nhau; như Chúa thường đem hạnh phúc cho nhân loại. Tình yêu là vượt trên mọi thử thách để đến với nhau; như Chúa từ bỏ cả ngai trời xuống gian trần, và mang lấy thân phận nhỏ hèn của con người. Tình yêu là từ bỏ chính mình để kiến tạo hạnh phúc cho người mình yêu; như Chúa bỏ mạng sống mình để người mình yêu được cứu độ.

Em giật mình và quay về với con. Em cố gắng nói đôi điều cho con an lòng: Con ạ, tình yêu là điều rất thường tình và giản dị trong đời sống hằng ngày của chúng mình. Nhưng tình yêu có một giá trị to lớn và ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống của chúng ta. Tình yêu làm cho con người trở nên độ lượng, vị tha, giàu lòng trắc ẩn. Tình yêu là trao ban, là cho đi; dù chỉ là một nụ cười, một ánh mắt... Con hãy nhìn vào đôi mắt của mẹ, con sẽ nhận ra tình yêu đang hiển hiện... tuy con chưa đủ trí khôn để hiểu được tại sao lại như thế. Cũng vậy, nếu ta tin tưởng vào Chúa, thì tình yêu là bản hòa tấu trong tâm hồn mà Chúa là vị nhạc trưởng điều khiển để mọi việc được xuôi chảy hòa hợp. Điều quan trọng là con có cộng tác với Vị Nhạc Trưởng ấy hay không thôi... Vị Nhạc Trưởng ấy dạy đừng ganh ghét bạn bè, đừng cau có với anh em, đừng xỏ xiên, xỏ lá, đừng lười biếng, đừng ham vui quên học hành, đừng quá ham chơi mà quên kinh nguyện, tình yêu là gặp ai đói nghèo thì giúp đỡ, ai gặp điều khó khăn thì đến cứu giúp…

Vậy nhé, mẹ con mình có thể hiểu tình yêu theo cách hiểu của mình và thể hiện nó theo cách riêng của mình con nhé.

Em viết cho anh những gì em đã nói với con em. Em chào Anh và hẹn thư sau.

Kim Gương

GÓP NHẶT ĐÓ ĐÂY

Tôi Không Thích "Người Ấy" !

- Tôi muốn nói với anh rằng tôi không thích "người ấy"!

- Thế ư! Nhưng… "người ấy" có biết Bạn không thích họ không?

- Tôi nghĩ là không.

- "Người ấy" có biết lý do tại sao Bạn không thích họ không?

- Có lẽ là không.

- Bạn có chắc chắn rằng Bạn đã thật sự thấu hiểu "người ấy"; Cụ thể là Bạn thật sự thấu hiểu thao thức, tâm tư, tình cảm, hoàn cảnh, và nhất là lý do, ý định, mục đích, thiện chí mà "người ấy" đã hành xử, hay có thái độ làm cho Bạn không thích "người ấy" chăng?

- Không chắc như thế.

- Bạn có lý do để không thích "người ấy"; vậy lý do ấy có thật sự đúng đắn, chính đáng, và công bằng với "người ấy" không ?

- Tôi không biết.

- Bạn có trao đổi trực tiếp với “người ấy” về những điều mà Bạn không thích nơi "người ấy" không?

- Tôi không nghĩ đến điều ấy.

- Bạn có tiết lộ cảm giác không thích "người ấy" của Bạn cho người nào khác không? Nói cách khác là có ai đó, đã được nghe những lời nhận xét của Bạn về “người ấy”, trong khi “người ấy” không có cơ hội để nói lên tiếng nói của họ chăng?

- Ờ... Có.

- Tội nghiệp! Sau khi Bạn nói ra điều này, có lẽ "người ấy" đã bị thêm một số người không thích "người ấy" giống như Bạn nữa rồi.

- Ừm... Tôi đã không nghĩ ra điều ấy.

- Bạn có nghĩ rằng khi một người nào đó bị Bạn ghét bỏ, chê bai thì chính Bạn đã vô tình nâng mình lên, và hạ "người ấy" xuống chăng?

- Ờ... tôi cũng không nghĩ đến điều này.

- Khi Bạn không thích "người ấy", thì chính Bạn là người phải chịu đựng những cảm giác mà Bạn đang chất chứa trong lòng... Trong khi "người ấy", vẫn giữ lại những gì mà Bạn không thích vì họ không biết điều Bạn đang suy nghĩ... Nghĩa là tình huống mà Bạn không thích vẫn không có cơ hội để thay đổi hầu giúp cho “người ấy” trở nên khá hơn, và giúp Bạn cảm thấy dễ chịu hơn.

- Ừ nhỉ.

- Hơn nữa, theo Luật Yêu Thương, nếu Bạn nghĩ họ có điều “sai trái" Bạn nên chỉ bảo cho họ. Và nếu có thể, hãy cho họ một cơ hội để giải thích những điều mà họ sẻ chia sẻ để Bạn hiểu họ hơn... Và biết đâu, nhờ giải pháp này mà Bạn sẽ không mất đi một người Bạn hay một người Thân.

- Tôi hiểu.

- Vậy Bạn nghĩ Bạn nên làm gì vào lúc này?

- Tìm gặp "người ấy", và cầu nguyện cho "người ấy" nhiều hơn nữa để sớm tìm lại sự bình an...

- Hãy đi, và làm như thế...

Phan-Antôn

VẦN THƠ PHAN SINH

Tâm Tình Dâng Mẹ

Mẹ ơi, hoa nở nhiều rồi

Con hiền thương Mẹ lên đồi hái hoa.

Đóa hồng tận đỉnh cao xa

Con nguyền hái được làm quà dâng lên

Nhưng rồi hồn mãi bấp bênh

Cho chân chao đão chênh vênh giữa đời

Hôm qua vật chất gọi mời

Hôm nay danh vọng buông lời lã lơi

Con say men sóng trùng khơi

Con vui theo tiếng à ơi bạc tiền

Gian trần là chốn đão điên

Vậy mà cứ ngỡ cõi tiên giữa đời

Hôm nay Mẹ cất tiếng mời

Giục con tỉnh giấc, nhớ lời hứa xưa

Hồng ân Mẹ đổ như mưa

Cho hồn con hết dây dưa bụi trần

Hôm qua hồn thoáng bâng khuâng

Hôm nay nhận biết con thân phận hèn

Mẹ ơi con đã bao phen

Đắm mình vào chốn đỏ đen, gập ghềnh

Đời con cứ mãi bấp bênh

Giờ đây con quyết đi lên đỉnh đồi

Dù đường lắm những gai chông

Dù đời điên đão vẫn không thay lòng

Hồng thiêng lại nở nhiều rồi

Con nguyền hái được làm quà dâng lên.

BB

Trước Nhan Mẹ

Trước Nhan Mẹ con ước làm hoa thắm

Lót những đường mà Mẹ sẽ đi qua

Ước đời con là một chú sơn ca

Hót mãi khúc hát tình ca bất diệt

Trước Nhan Mẹ con ước làm khúc nhạc

Luôn dặt dìu khen lòng Mẹ bao la

Cho lời ca vang mãi tới phương xa

Cho khắp thế muôn người yêu kính Mẹ.

Trước Nhan Mẹ con ước làm mây trắng

Kết thành xe, đưa Mẹ dạo Thiên Cung

Đất trời vang lên khúc nhạc uy hùng

Con hạnh phúc được nghe bài chúc tụng

Trước Nhan Mẹ con quỳ xin góp lại

Những lỗi lầm luôn chồng chất tháng năm

Bởi bao năm đi mãi giữa tối tăm

Làm hoa dại dâng về Mẹ Nhân Ái

Trước Nhan Mẹ con quỳ đây kính bái

Cầu Mẹ thương nâng đỡ mảnh đời con

Để từ đây thôi hết kiếp héo hon

Sống bên Mẹ bây giờ và mãi mãi….

Trước Nhan Mẹ con mãi là bé nhỏ

Dẫu tội đời chồng chất tựa núi non

Tình Mẹ yêu con vẫn không hao mòn

Yêu con m&