Mọi thư từ liên lạc, xin gửi về PSTTVNUSA@YAHOO.COM. Copyright © 2002 WWW.PSTTVNUSA.NET. All rights reserved.
 

NỘI DUNG HÀNG THÁNG (04-2007)

   
 
Trong Số Này:
TÂM SỰ HẰNG THÁNG
 

"Chúa Kitô Phục Sinh"  

HỌC HỎI LỜI CHÚA
 

Đức Giêsu Vào Giêrusalem  

LINH ĐẠO PHAN SINH
  Linh Đạo Phan Sinh Tại Thế
LỜI KINH MỖI THÁNG
  Thời Gian Là Của Chúa  
TRINH NỮ MARIA
  Đức Maria Trong Tuyền Thống Thần Học PS
THIẾU NHI PHAN SINH
  Phục Sinh Yêu Thương  
HÔN NHÂN GIA Đ̀NH
  Bài 6: Bí Tích Thánh Thể: Dấu Chỉ và Lương Thực Cho Tình Yêu Vô Điều Kiện Của Vợ Chồng  
NỮ GIỚI PHAN SINH
  Em Vẫn Là Một Thiên Thần
NHỮNG BÀI ĐỌC THÊM
  Lời Tâm Sự Sau Tai Nạn ...
CẦU NGUYỆN CHO NHAU
   
THÔNG BÁO TIN TỨC
   

 

 

"Chúa Kitô Phục Sinh"

Thưa quí anh chị;

Đêm "Thứ Bảy Tuần Thánh", Giáo Hội tưởng nhớ Chúa Kitô chịu mai táng trong mồ. Cùng với Giáo Hội, tôi lặng quỳ bên "nhà tạm" để suy niệm những việc đã xảy đến cho Ngài… và nôn nao mong chờ giây phút cực trọng: "Chúa Kitô Phục Sinh".

Trong bầu khí thinh lặng, trang nghiêm; nếu nhìn lên bàn thờ, bàn thờ không trải khăn, không hương hoa, không thắp nến, chỉ có thánh giá buồn treo thân xác bất động của Chúa Ngôi Hai. Nhìn những dấu đinh nơi tay chân Ngài, nhìn những giòng máu hồng của Ngài tuôn chảy từ Thánh giá làm cho tôi cảm thấy buồn se sắt…

Giòng máu hồng cực thánh ấy đã đổ ra mấy ngàn năm nay; nhưng dường như giòng máu cực thánh ấy vẫn đang chảy trong cuộc đời tôi, thấm sâu vào linh hồn tôi… làm cho đôi mắt của tôi cay xé. Tôi nhắm mắt lại, cúi đầu và thầm thỉ: "Lạy Chúa, Chúa đã chết cho con! Nhưng tại sao Chúa phải chết cho con?" – "Vì yêu!"

Vì yêu! Tôi tự hỏi rồi tự trả lời cho mình. Vì yêu, nên từ lúc khởi đầu cho đến cuối đời của Chúa Kitô đều vì một chữ yêu. Yêu Chúa Cha nên Ngài đã hoàn toàn vâng phục Cha cho đến chết. Yêu con người nên Ngài đã đặt hết nhân loại trong trái tim của Ngài; yêu cho đến đổi trái tim ấy tuôn trào máu và nước. Vì yêu nên Ngài đã giang tay ôm trọn toàn thể nhân loại, gánh lấy hết mọi lỗi tội của nhân loại, và hoàn toàn phó mình cho nhân loại đem đi giết. Và cũng vì yêu mà Ngài đã phục sinh để cho nhân loại cùng được sống lại với Ngài… Tôi thầm thì xin lỗi Chúa về những tội lỗi của tôi, cùng cám ơn ngài đã dũ thương cho tôi được làm con của Ngài, để giờ đây lại được đón chờ giây phút cực thánh này.

Và giờ phút cực thánh đã điểm. Bài Alleluia đã vang dội trong nhà Giáo Hội. Toàn Giáo Hội hân hoan vui mừng cất cao lời ca: "Mừng vui lên hỡi muôn lớp Cơ Binh Thiên Thần trên trời. Cùng vui lên hỡi những Nhiệm Mầu Thánh này. Tiếng loa cứu độ hãy vang rền không gian. Mừng reo chiến công oai hùng: Vua khải hoàn. Và vui lên toàn trái đất, vui lên dưới ánh sáng huy hoàng chiếu soi. (Tin Mừng Phục Sinh Exsultet) Vâng! Cùng với Giáo Hội, chúng ta hãy tưng bừng ca hát, hãy vui mừng và hãy nhảy cẫng lên dù vẫn bàng hoàng sợ hãi như các phụ nữ ngày xưa khi đứng trước mộ Chúa và được Thiên Thần báo rằng: "Đừng sợ! Các bà tìm Đức Giêsu Nagiarét, Đấng bị đóng đinh chứ gì? Ngài đã sống lại, và Ngài không còn ở đây nữa.” (Mc 16;6)

Lạy Chúa Cha toàn năng, con ngợi khen Cha vì sự chiến thắng oai hùng của Con Cha; Đức Giêsu Kitô đã khải hoàn vinh quang đời đời.

Lạy Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Đồng Trinh… Xin Mẹ hãy cùng con chiêm ngắm, chúc tụng vẽ đẹp rực rỡ ngày phục sinh của Con Mẹ. Một vẽ đẹp không bao giờ có lần thứ hai trong lịch sử nhân loại.

Xin Triều Thần Thiên Quốc, xin các linh hồn đang thanh luyện, xin các anh chị em loài người, xin tất cả các loại thọ tạo trên trời, dưới đất, nơi đỉnh núi cao tít, nơi sa mạc hoang vắng, nơi đại dương biển cả… Xin trăng, sao, mưa, nắng, tuyết trắng, sương đêm, bão tố cuồng phong, lửa hồng rực sáng, đất cát, bụi mù, đá sõi vô tri hãy cùng với Giáo Hội reo vang lời ca Alleluia. Hãy reo vang bằng hết những âm thanh có thể được để cảm tạ, để ngợi khen tình Ngài. Hãy reo vang trong tâm tình hân hoan, vui sướng. Cho bóng tối lui xa, cho khóc lóc gục đầu, cho đau thương chết lịm, cho sự sống bừng lên, cho yêu thương chiến thắng, cho hạnh phúc lan tràn. Cho toàn nhân loại biết rằng Thiên Chúa của chúng ta đã Phục Sinh. Alleluia. Alleluia.

 BBT

 

Trở về mục lục >>

 

Đức Giêsu Vào Giêrusalem

(Luca 19, 28-40 – CN Lễ Lá - C)

19:28 Đức Giê-su nói những lời ấy xong, Người đi đầu, tiến lên Giê-ru-sa-lem. 19:29 Khi đến gần làng Bết-pha-ghê và làng Bê-ta-ni-a, bên triền núi gọi là núi Ô-liu, Người sai hai môn đệ và bảo: 19:30 "Các anh đi vào làng trước mặt kia. Khi vào sẽ thấy một con lừa con chưa ai cỡi bao giờ, đang cột sẵn đó. Các anh cởi dây ra và dắt nó đi. 19:31 Và nếu có ai hỏi: "Tại sao các anh cởi lừa người ta ra", thì cứ nói: "Chúa cần đến nó!" 19:32 Hai người được sai ấy ra đi và thấy y như Người đã nói. 19:33 Các ông đang cởi dây lừa, thì những người chủ nói với các ông: "Tại sao các anh lại cởi lừa người ta ra?" 19:34 Hai ông đáp: "Chúa cần đến nó". 19:35 Các ông dắt lừa về cho Đức Giê-su, rồi lấy áo choàng của mình phủ trên lưng lừa, và đặt Đức Giê-su lên. 19:36 Người tới đâu, người ta cũng lấy áo mình trải xuống đường. 19:37 Khi Người đến gần chỗ dốc xuống núi Ô-liu, tất cả đoàn môn đệ vui mừng bắt đầu lớn tiếng ca tụng Thiên Chúa, vì các phép lạ họ đã được thấy. 19:38 Họ hô lên: Chúc tụng Đức Vua, Đấng ngự đến nhân danh Chúa! Bình an trên cõi trời cao, vinh quang trên các tầng trời! 19:39 Trong đám đông, có vài người thuộc nhóm Pha-ri-sêu nói với Đức Giê-su: "Thưa Thầy, Thầy quở trách môn đệ Thầy đi chứ!" 19:40 Người đáp: "Tôi bảo các ông: họ mà làm thinh, thì sỏi đá cũng sẽ kêu lên!"

1.- Ngữ cảnh

Với 19,28, Tin Mừng Luca sang phân đoạn cuối cùng (19,28–24,53). Cuộc hành trình dài của Đức Giêsu đã chấm dứt. Phân đoạn mở ra với việc Đức Giêsu vào Giêrusalem (19,28-44). Tại đây thánh sử Luca, cũng như hai thánh sử Máccô và Mátthêu, thấy vương quyền thiên sai của Đức Giêsu được công bố trước toàn dân: Người sẽ giảng dạy tại Đền Thờ (19,28–21,38). Thời gian Đức Giêsu giảng dạy tại Đền Thờ được tác giả Luca trình bày qua bốn đoạn nhỏ: 19,28-40.41-44.45-46.47-48.

Với bản văn hôm nay, Đức Giêsu đến khuôn viên thành thánh và chuẩn bị đi vào đó, như một đấng được chào là vua (và đi thẳng vào Đền Thờ). Truyện này cũng cho thấy những gì được loan báo ở 13,35 nay được hoàn tất.

2.- Bố cục

Bản văn có thể chia thành ba phần:

1) Câu dẫn nhập chuyển tiếp (19,28);

2) Đức Giêsu vào Giêrusalem như Đấng Mêsia (19,29-38);

3) Phản ứng của người Pharisêu (19,39-40).

3.- Vài điểm chú giải

- đi đầu (28): Lc ưa chuộng động từ poreusthai, "tiến đi, đi đến”; ở đây, động từ ấy ở thì imperfect (eporeueto) nhằm diễn tả một chuyển động kéo dài, liên tục. Trạng từ emprosthen, "tới phía trước", hàm ý Đức Giêsu dẫn đường, đi đầu đoàn môn đệ.

- tiến lên (28): anabainôn eis, "đi lên về phía". Đức Giêsu đi từ Giêrikhô, tức từ phía đông, về Giêrusalem, tức phía tây; đường dài khoảng 28cs. Vì Giêrusalem cao hơn mặt biển trong khoảng 640-770m, trong khi Giêrikhô lại thấp hơn mặt biển khoảng 250m, nên đi từ Giêrikhô về Giêrusalem đúng là "đi lên". Nhưng chuyến "đi lên" này cũng còn là khởi đầu của một cuộc “thăng tiến” đưa Đức Giêsu về với Chúa Cha.

- Giêrusalem (28): Ở đây Lc dùng tên Hierosolyma, là kiểu gọi Hy-lạp (x. 13,22; 19,28; 23,7; 25 lần trong Cv). Nhưng ở 2,25, ngài dùng hình thức quen thuộc hơn, Ierousalêm (phiên âm từ tiếng Híp-ri) và tiếp tục dùng như thế 26 lần (39 lần trong Cv ).

- Bếtphaghê … Bêtania (29): Về Bếtphaghê (nguyên nghĩa là "nhà của trái vả"), chúng ta không biết được gì chắc chắn. Đây là một làng hay là một cơ sở? Dường như đây là một vùng đất ở bên ngoài Giêrusalem, bắt đầu với ranh giới Đền Thờ, nghĩa là đàng trước các tường phía đông của thành.

Còn Bêtania (nguyên nghĩa không rõ: "nhà của người nghèo"? "nhà của ông Khanania"?) cách thành thánh khoảng hơn 2,5cs, ở về phía đông núi Ôliu.

- Chúc tụng Đức Vua, Đấng ngự đến nhân danh Chúa (38): Lc bỏ từ Hôsanna của Mc 11,9, do thói quen loại các từ hoặc các câu Sê-mít khiến độc giả của ông khó hiểu. Trong bản LXX, lời chào khách hành hương dịch sát bản Híp-ri là "Nguyện xin Chúa tuôn đổ phúc lành (= Chúc tụng) cho người tiến vào đây nhân danh Chúa” (Tv 118,26). Lc thêm "Đức Vua” vào. Khác với TM Mc, đây không phải là "triều đại vua Đavít đang tới” (Mc 11,10), nhưng là chính "Đức Vua” của Giêrusalem.

- Bình an trên cõi trời cao, vinh quang trên các tầng trời (38): Dịch sát theo nguyên bản Hy-lạp là "trên trời bình an và vinh quang trên chốn cao vời", ta thấy được dạng chuyển hoán của câu văn:

a = trên trời

b = bình an

b’= vinh quang

a’= trên chốn cao vời

Vào lúc Đức Giêsu chào đời, ca đoàn thiên thần đã hát: "Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế, cho loài người Chúa thương" (2,14). Trong khi ca đoàn thiên quốc đặt đối lập vinh quang trên trời với bình an dưới thế, các môn đệ khi đến gần lúc kết thúc sứ vụ của Đức Giêsu lại hát về bình an trên trời và vinh quang trên chốn cao vời. Cho dù Đức Giêsu đã dạy các môn đệ mang “bình an" đến cho người ta (10,5.6), bình an này, cùng với vinh quang, được coi như là một phẩm chất của trời cao. "Vinh quang trên trời" là quà tặng bình an được để trên trời cho dân Thiên Chúa, nay được Đức Giêsu mang đến bằng một đường lối mới. Đây không phải là pax Augusta, mà Đức Giêsu chào đời mang đến cho nhân loại, nhưng là bình an của chính trời cao.

- sỏi đá cũng sẽ kêu lên (40): Rất có thể câu này muốn nhắc đến Kb 2,11. Trong chương trình của Thiên Chúa về lịch sử cứu độ, sự việc Đức Giêsu đến Giêrusalem hẳn sẽ làm cho các tảng đá của Giêrusalem kêu lên để hoan hô Người như Đấng thực hiện chương trình cứu độ, nếu như các môn đệ không hoan hô. Khi nói như thế, Đức Giêsu gián tiếp khẳng định về vai trò Người phải hoàn tất khi đến thành định mệnh.

4.- Ý nghĩa của bản văn

  Câu dẫn nhập chuyển tiếp (28)

Bằng câu này, tác giả Luca chấm dứt bài tường thuật dài về chuyến đi lên Giêrusalem, và cho thấy là Đức Giêsu đã tới đích. Đã khởi đi từ Galilê, nay Đức Giêsu đi vào thành định mệnh, mục tiêu của những cuộc di chuyển nay đây mai đó (x.23,5), là nơi mà tại đó Người sẽ “được rước lên" (9,51), và là nơi mà từ đó Người sẽ đi về với Cha (cuộc xuất hành của Người, x.9,31).

  Đức Giêsu vào Giêrusalem như Đấng Mêsia (29-38)

Đức Giêsu không chỉ đi vào thành định mệnh, mà còn vào Đền Thờ nữa. Người vào đó không chỉ như một khách hành hương đến dự lễ Vượt Qua, được chào bằng lời chào thông thường dành cho người lên Đền (Tv 118, 26), nhưng như là "Đức Vua”, và như là "Đấng đang đến” (ngay bây giờ, hiểu theo nghĩa Luca). Lời chào này nhắc lại 13,35, đã được nói ra ở giữa bài tường thuật cuộc hành trình, như đánh dấu nửa chặng đường. Nhưng bây giờ ho erchomenos (“Đấng [đang] ngự đến”) không chỉ mang sắc thái vương giả, nhưng còn làm vọng lại câu hỏi của các sứ giả do vị Tẩy Giả gửi đến (x.7,19). Nói cách khác, lời chào chúc của "tất cả đoàn môn đệ” (19,37b) mang những âm vang của Malakhi 3,1, trong đó danh hiệu ho erchomenos trong truyền thống Nhất Lãm được rút ra. Như thế, Đức Giêsu đi vào Giêrusalem trong tư cách "Đức Vua”, “Đấng [đang] ngự đến” và như là biến cố hoàn tất lời sấm Ml 3,1 (LXX). Chính đó là lý do khiến Đức Giêsu đi thẳng “vào Đền Thờ” (19,45).

  Phản ứng của người Pharisêu (39-40)

Nghe các "môn đệ” của Đức Giêsu hoan hô như thế, người Pharisêu khó chịu; họ yêu cầu Đức Giêsu quở mắng các môn đệ. Nhưng Người đã trả lời rất oái oăm: “Họ mà làm thinh, thì sỏi đá cũng sẽ kêu lên". Khi đã nhận ra tình yêu quan phòng của Thiên Chúa, người ta phải tung hô; ngay các tảng đá được dùng để xây nên Giêrusalem cũng sẽ làm như thế (x.Tv122,3). Khi Đức Giêsu bắt đầu chuyến đi lên Giêrusalem, người Samari đã không chịu tiếp đón Người vào làng họ (9,52-53), nay người Pharisêu cũng không chấp nhận cho Người đi vào Giêrusalem.

+ Kết luận

Cuộc đời của Đức Giêsu, vị Tôn sư cao quí và Đấng Mêsia muôn đời mong đợi, đã đến đỉnh cao. Hôm nay, khi đã đến Đền Thờ, Người đi vào đó như trong một cuộc khải hoàn. Nhưng tình hình rất lạ: Đức Vua mà đi vào thành trên lưng lừa; đón chào Người, chỉ có đám đông môn đệ và dân chúng, chứ tuyệt nhiên không có ai trong giới lãnh đạo Do-thái giáo; những người này có đó, không phải để đón mừng, nhưng để bắt bẻ; các môn đệ cũng chẳng hiểu họ đang làm gì. Tất cả các dấu này đang báo trước cuộc Thương Khó.

5.- Gợi ý suy niệm

1. Kết thúc cuộc hành trình, Đức Giêsu "đi đầu, tiến lên Giêrusalem" (19,28). Người vẫn tỏ ra khí phách đã có khi bắt đầu hành trình tiến về Giêrusalem, khi đó Lc ghi là Người "nhất quyết lên Giêrusalem" (9, 51), tức là Người phải làm cho mặt chai như đá để có thể tiến đi theo chương trình của Chúa Cha. Muốn tuân giữ thánh ý của Thiên Chúa, người Kitô hữu phải có đức tin và nhiều nghị lực.

2. Hôm nay chúng ta được mời gọi cùng với đám đông tung hô Đức Giêsu: "Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa”. Nhưng hoan hô để rồi đi theo Người mà làm môn đệ, chứ không phải sau đó là đả đảo Người, kêu gào yêu cầu đóng đinh Người! Đức Giêsu chính là Đấng đến để đem bình an cho chúng ta và biến chúng ta trở thành sứ giả bình an nối tiếp Người.

Lm. F.X. Vũ Phan Long, ofm

 

Trở về mục lục >>

 

Linh Đạo Phan Sinh Tại Thế

Chương III của Luật 1978 (tiếp theo)

2.- Điều 21. Huynh Đệ Đoàn Địa Phương "Huynh Đệ Đoàn địa phương thiết lập theo đúng Giáo Luật” ®

Việc chính thức thiết lập một huynh đệ đoàn cần một thời gian chuẩn bị khá lâu (khoảng trên 40 tháng), vì (theo Nội quy Quốc Gia Việt Nam 2003), kể từ khi manh nha một nhóm, đến khi kết thúc thời gian huấn luyện tìm hiểu phải mất ít là 9 tháng, rồi qua thời kỳ huấn luyện khởi đầu ít là 24 tháng, đến khi có được ít nhất 5 người khấn vĩnh viễn (x.THC,đ 46.2) thì mới được thành lập. Điều kiện đủ để thành lập không chỉ là thời gian, nhưng để xác định “thiết lập đúng theo Giáo luật” còn đòi hỏi sự cho phép của Đức Giám Mục địa phương (ở đâu đã cho phép thành lập Dòng Nhất thì việc thiết lập huynh đệ đoàn Phan Sinh Tại Thế là đương nhiên được phép). Huynh đệ đoàn phải được quây quần chung quanh một nhà thờ hay nhà nguyện (như là trụ sở). Vị Bề Trên tu sĩ cao cấp ký quyết định thành lập với tư cách đại diện Hội Thánh và Đại diện Dòng Phan Sinh.

Huynh đệ đoàn địa phương là "tế bào cơ bản" của toàn Dòng nên vai trò của Hội Đồng Phục Vụ của huynh đệ đoàn rất quan trọng, và chất lượng của toàn Dòng tùy thuộc vào chất lượng của từng huynh đệ đoàn địa phương.

Tôi có dịp thăm dò các huynh đệ đoàn địa phương về tư cách của họ trong giáo xứ, có nơi hiểu lầm về "tư cách pháp nhân trong Hội Thánh" gây một vài cản trở trong công tác tông đồ. Điều này còn phải suy nghĩ nhiều, vì sự tế nhị đối với vị đại diện giáo quyền địa phương, và để bảo đảm các công tác tông đồ bác ái truyền giáo, Ban Phục Vụ huynh đệ đoàn lệ thuộc rất nhiều vào quyền bính của các Cha Xứ, có khi cả của Hội Đồng Mục Vụ Giáo xứ. Theo chúng tôi nghĩ: ẩn khuất, hòa mình vào Giáo Hội, liên kết đặt kế hoạch công tác là phương thế tối ưu. Vì là "Dấu chỉ hữu hình của Hội Thánh, một cộng đoàn yêu thương", nên huynh đệ đoàn phải tìm mọi cách để chứng tỏ mình thể hiện tình yêu không chỉ trong nội bộ huynh đệ đoàn mà còn là trong toàn Giáo hội địa phương.

Về điều 21 này, các anh/chị Phục vụ cần rà soát lại chương trình thường huấn trong huynh đệ đoàn, làm thế nào để huynh đệ đoàn "là môi trường ưu việt giúp các thành viên phát huy cảm thức về Hội Thánh". Tài liệu Luật Dòng Phan Sinh Tại Thế, chú thích và áp dụng ghi: "Huynh đệ đoàn là nơi tốt nhất để anh chị em học hỏi về Giáo Hội, hiểu biết thêm về vai trò và sứ mệnh của mình trong Giáo hội… anh chị em khuyến khích nhau giữ tinh thần Phan Sinh và tìm cách phổ biến tinh thần Phan Sinh. Nhờ sức mạnh tập thế này, anh chị em yêu thích làm việc tông đồ và làm việc có hiệu năng hơn.”

 Phêrô Nguyễn Đức Tiến; sfo

 

Trở về mục lục >>
 

Thời Gian Là Của Chúa

Lạy Chúa Cha Nhân Từ; hôm nay đây, cả Trần Gian lẫn Thiên Quốc cùng chung một lòng, chung một lời ca mừng Chúa Con Phục Sinh. Bài ca Alleluia đang vang dội trong trời đất. Chúng con hân hoan, vui mừng kính dâng lên Cha trọn vẹn tâm tình ngợi khen và tri ân của chúng con.

Tạ ơn Chúa Cha vì sự phục sinh vinh quang của Chúa Con.

Tạ ơn Chúa Con đã phá tan xiềng xích tội lỗi, giải thoát chúng con khỏi sự chết đời đời.

Tạ ơn Chúa Thánh Linh, Đấng Trợ Lực dẫn đưa Chúa Con vượt qua bóng tối đến miền ánh sáng vĩnh cữu.

Tạ ơn Mẹ Maria, Đấng Đồng Công trên đường khổ hình với Chúa Con cho nhân loại được hạnh phúc.

Alleluia, Alleluia. Alleluia.

Maria

Trở về mục lục >>
 

Đức Maria Trong Tuyền Thống Thần Học PS

II. DÒNG ANH EM HÈN MỌN VỚI TÍN ĐIỀU ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI

Nhà thần học đầu tiên nói về Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội có lẽ là tu sĩ

Paschase Radbert (790-860) thuộc Dòng Bênêđictô tại Corbie (Pháp). Thực ra ông phản ánh lòng sùng mộ của người bình dân, chứ chưa giải quyết các vấn đề được đặt ra cho một nhà thần học.

A. ĐÓNG GÓP CỦA JEAN DUNS SCOT

Trong Dòng Anh Em Hèn Mọn, những nhà thần học đầu tiên bảo vệ đặc ân này của Đức Mẹ là thánh Bonaventura (1221-1274), Jean Olivi (năm 1278), chân phước Raymond Lulle (1298). Nhưng người đầu tiên trình bày vấn đề một cách rõ ràng, trong một hệ thống tư tưởng thần học chặt chẽ, đó là chân phước Jean Duns Scot. Vì thế về sau người ta vẫn thường xem đó là một luận đề thần học của Duns Scot.

1. Bối cảnh:

Để thấy được sự sáng suốt và sự can đảm của người anh em xứ Tô-cách-lan này, chúng ta phải biết rằng vào thời ấy, đại đa số các nhà thần học đều phản đối niềm tin này. Vào thế kỷ XII, thánh Bênađô là một đối thủ kịch liệt, tạo nên một ảnh hưởng rất lớn trên Đại học Paris. Sang thế kỷ XIII, những nhà thần học lỗi lạc như Alexandre de Halès, thánh Albertô, thánh Tôma, đều dạy rằng Đức Maria đã được tẩy sạch khỏi mọi tì ố mà thực sự Bà đã vương phải. Vì thế vào đầu thế kỷ XIV, khi Duns Scot lên tiếng dạy ở Paris về đặc ân Vô Nhiễm, thì bên phía đối lập gồm có những tôn sư lỗi lạc, tu sĩ cũng như triều.

2. Chứng lý thần học của Duns Scot:

Hai vấn đề gay cấn mà Duns Scot phải đối phó là thế này:

- Theo thánh Augustinô, tội nguyên tổ được thông truyền qua việc sinh đẻ theo xác thịt. Đức Maria đã được thụ thai và sinh ra theo đường lối bình thường như mọi người; bởi vậy Bà cũng đã phải mang lấy tì ố của tội nguyên tổ.

- Theo thánh Phaolô, tất cả mọi người đều được Đức Giêsu cứu chuộc. Vậy nếu ta chấp nhận rằng Đức Maria không mắc tội nguyên tổ, phải chăng là ta đặt Bà ngoài ảnh hưởng ơn cứu chuộc ấy? Nếu vậy thì làm sao có thể nói Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế của mọi người (thánh Tôma)?

Dựa trên thánh Anselmô, Duns Scot phi bác lý thuyết duy vật về việc truyền thông tội nguyên tổ, theo đó tội này được truyền thông qua đường xác thịt và bằng hành vi xác thịt. Theo Duns Scot, tội nằm trong trật tự tâm linh chứ không phải thể lý. Cội rễ của tội lỗi nằm trong linh hồn, trong ý muốn, chứ không phải trong thân xác. Bởi thế chỉ cần linh hồn được gìn giữ khỏi sự tội, là toàn thân mình được thanh sạch, không vương một tì ố nào.

Đối với con cháu Ađam, tội nguyên tổ là một "sự thiếu thốn" ở chỗ cội rễ: nghĩa là con người ngay từ giây phút đầu tiên còn thiếu ơn thánh. Vậy chỉ cần là vào giây phút đầu tiên khi được thụ thai trong lòng mẹ, linh hồn của Đức Maria được Thiên Chúa gìn giữ khỏi mọi tì ố nguyên tổ, để chúng ta có thể khẳng định đó là một "sự thụ thai vô nhiễm".

Sau khi giải quyết vấn đề trên, Duns Scot chứng minh rằng đặc ân Vô Nhiễm không đặt Đức Maria ngoài vòng ảnh hưởng của ơn cứu chuộc của Đức Kitô, như các thần học gia vẫn nghĩ. Trái lại, chính nhờ ơn cứu chuộc của Đức Kitô, "ơn cứu chuộc ngăn ngừa" (Rédemption préservatrice), mà Đức Maria đã được gìn giữ khỏi tội nguyên tổ. Đức Giêsu Kitô là trung gian mọi ân sủng, không những khi Người "chữa trị" các tội nhân (Rédemption curative), nhưng Người hành động một cách hoàn hảo hơn khi Người gìn giữ con người khỏi sự tội. Và người hưởng đặc ân được gìn giữ khỏi tội nguyên tổ ấy, chính là Đức Maria. Duns Scot nói: "Không có hành động trung gian nào hoàn hảo hơn là hành động mà Đức Kitô thực hiện cho Đức Maria... Và hành động hoàn hảo nhất không phải là giải phóng khỏi sự dữ, mà là gìn giữ cho khỏi ngã vào sự dữ. Vậy chính là nhờ công nghiệp của Đức Kitô mà Đức Maria được gìn giữ khỏi tội nguyên tổ".

Người ta thường gọi cách chứng minh của Duns Scot là "chứng lý thích hợp", từ đó nổi tiếng là chứng lý của Duns Scot: "Potuit, decuit, ergo fecit: Thiên Chúa có thể làm được điều đó, Điều đó rất thích hợp, Vậy Thiên Chúa đã làm."

Đức Kitô, với tư cách là Con, cũng có một bổn phận nào đó "phải tôn kính Mẹ của Người". Bằng việc gìn giữ Mẹ của Người khỏi tội nguyên tổ, Người tạo cho mình một vinh quang cao cả hơn là bằng việc giải phóng. Vậy điều đó, Chúa Con đã làm.

Cũng phải nói thêm rằng đối với Duns Scot, đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội của Đức Maria chỉ là một hệ luận rút ra từ một khẳng định cơ bản: đó là địa vị ưu đẳng tuyệt đối của Đức Kitô trong chương trình của Chúa Cha. Trước tất cả mọi sự, kể cả việc con người phạm tội, Thiên Chúa Cha đã tiền định cho Đức Kitô trở thành nguyên lý và cùng đích của mọi sự. Việc tiền định này về Đức Kitô bao hàm sự tiền định về Đức Maria để Bà trở thành Mẹ của Ngôi Hai nhập thể.

3. "Cuộc thi vấn đáp” của Duns Scot:

Các quan điểm trên đây, Duns Scot đã phải chống đỡ công khai vào năm 1307, tại Đại học Sorbonne ở Paris, trước một cử tọa lỗi lạc: có mặt hôm đó là 2 đại diện của Tòa Thánh (các Đức Hồng y Bérenger de Frédol và Etienne de Suisi), Đức Giám mục Paris, Simon Matifas, vác viện phụ, các bề trên dòng, các vị tiến sĩ của Đại học Sorbonne và đông đảo các sinh viên.

Khó khăn của Duns Scot không phải là đối phó với những người chủ xướng một lạc thuyết như khi thánh Cyrillô phải bảo vệ tước hiệu “Mẹ Thiên Chúa". Ở đây, Duns Scot phải đối phó với những nhà thần học danh tiếng và thánh thiện trong Giáo Hội, từ thánh Augustinô tới thánh Bênađô, thánh Tôma, các vị tôn sư lỗi lạc như Pierre Lombard, Albertô... Và cái nguy của Duns Scot là nếu thất bại, thì không những ngài bị thất sủng, mất danh dự giáo sư, mà còn bị các giám mục quở trách là gây rối loạn bằng một thứ lạc thuyết mà các tôn sư của giáo hội đã cảnh cáo. Ngài có thể bị Tòa Án Tôn Giáo (inquisition) kết án nặng nề. Và bản án nặng nhất dành cho một người tuyên truyền lạc thuyết là bị thiêu, như trường hợp Jeanne d’Arc sau này! Vì thế, Linh mục dòng Tên Labbe đã tuyên bố: "Duns Scot là vị tử đạo của Đức Trinh Nữ Vô nhiễm nguyên tội" (le martyr de l’Immaculée Conception).

Nhưng Duns Scot đã giải đáp một cách thỏa đáng tất cả những thắc mắc do các vị tiến sĩ nêu ra. Người ta tán dương nhà thần học trẻ Phan sinh, nhưng Duns Scot chỉ nghĩ tới vinh quang của Đức Mẹ. Kết quả của buổi thuyết giảng đó là Đại học Paris ra chỉ thị:

- Từ nay, ngày 8-12 là một ngày lễ nghỉ trong Đại học vì vinh dự của Đức Trinh Nữ Vô nhiễm nguyên tội;

- Các sinh viên trong tương lai phải có khả năng chống đỡ luận đề Vô Nhiễm Nguyên Tội trước khi thi lấy bằng cấp. (còn tiếp)

Lm. Norbert Nguyễn Văn Khanh, ofm

Trở về mục lục >>

Phục Sinh Yêu Thương

Các cháu thân mến,

Cứ vào mùa này, các cháu thấy các nhà thờ đều có nhiều chương trình tïnh tâm, thống hối, ngắm đàng Thánh Giá, cầu nguyện... và Giáo Hội Công Giáo chúng ta vẫn thường gọi mùa này là Mùa Chay.

Mùa Chay là thời gian giúp chúng ta nhớ lại hình ảnh Chúa Giêsu đã nộp mình cho quân dữ, bị đánh đòn, bị treo trên Thánh Giá, bị đóng đinh tay chân, và bị chết trần truồng tủi nhục vì con người. Và mọi người thường nghï là mùa ăn năng, sám hối, biết mình tội lỗi để chừa bỏ!

Ở tuổi các cháu chắc là rất xem thường những việc này. Các cháu còn nhỏ quá, đâu có làm gì nên tội và các cháu tự cảm thấy mình đã quá ngoan rồi: "Mình đâu làm gì hại đến ai, không tham lam vật gì, và sống rất đàng hoàng, không việc gì đến phải cần một mùa sám hối" ?

Các cháu thân mến của cô, thật ra, việc Chúa Con từ bỏ trời cao để xuống thế làm người hèn hạ, chịu đủ mọi tủi nhục không phải chỉ để cho chúng ta nhận ra tội lỗi chúng ta đã làm đau lòng Chúa, mà còn muốn chứng tỏ lòng yêu thương và tha thứ vô cùng cao cả của Ngài. Ngài không để tâm đến chúng ta đã phạm đến những tội tày trời nào; Ngài cũng không phân biệt chúng ta là ai. Nhưng Ngài chỉ biết chúng ta là con cái yếu đuối mà Ngài đã tạo nên, và với bất cứ giá nào, dù bỏ cả tính mạng của mình, Ngài cũng không thể để cho chúng ta bị hư mất.

Các cháu à! Như vậy; chúng ta không thể theo đạo Chúa là chỉ siêng năng đi nhà thờ và không phạm tội nào trong các điều răn là đủ. (Như vậy rất ích kỷ). Những để bù đắp tấm chân tình quí báu đó, chúng ta phải sống theo lời Ngài dạy bảo, phải làm theo gương Ngài làm: "Kính yêu Chúa hết lòng và học sống cho người khác, đem hết yêu thương cho những người cần yêu thương, đem tha thứ đến anh em phạm lỗi”. Chỉ cần làm tròn vẹn mấy điều đơn giản đó, chẳng những Chúa rất vui lòng mà chính chúng ta së từ từ trở nên người không còn lòng giận hờn, ganh tị, hơn thua... và tìm được an bình hạnh phúc cho chính bản thân mình.

Cô thương chúc các cháu một Mùa Chay thánh thiện, một Mùa Phục Sinh vui vẻ, đầy ư nghïa!

 Cô Thể Xuân

Trở về mục lục >>
 

 

Bài 6: Bí Tích Thánh Thể: Dấu Chỉ và Lương Thực Cho Tình Yêu Vô Điều Kiện Của Vợ Chồng

1. Kinh Thánh: (Ga 6,53-58): 53Đức Giêsu nói với họ: "Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình.54Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết. 55Vì thịt tôi thật là của ăn, máu tôi thật là của uống. 56Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy. Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào thì kẻ ăn tôi cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy. 58Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn và họ đã chết. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời.

2. Suy tư:

Các Bí Tích khai tâm Kitô giáo: Bí Tích Thánh Tẩy, Bí Tích Thêm Sức và Bí Tích Thánh Thể, đặt nền tảng cho đời sống Kitô hữu. Việc tham dự vào bản tính Thiên Chúa được ban cho con người nhờ ân sủng của Đức Kitô, cũng có những nét tương tự như nguồn gốc, sự phát triển, và sự nuôi dưỡng của sự sống tự nhiên. Người tín hữu được sinh lại bởi Phép Thánh Tẩy, được củng cố nhờ Bí Tích Thêm Sức, và nhận lãnh trong Bí Tích Thánh Thể của ăn cho đời sống vĩnh cửu. Nhờ các Bí Tích khai tâm Kitô giáo này, họ lãnh nhận kho tàng của sự sống siêu nhiên càng ngày càng nhiều hơn và tiến đến Đức ái hoàn hảo.

3. Nguồn suối và sức mạnh của hôn ước.

Thánh Lễ ngày Chúa nhật, quy tụ các Kitô hữu mỗi tuần lại với nhau như một gia đình của Thiên Chúa chung quanh bàn tiệc Lời và Bánh Sự Sống, cũng là phương dược tự nhiên nhất chống lại sự phân tán. Đó là chốn đặc trưng, nơi sự hiệp thông không ngừng được loan báo và nuôi dưỡng. Chính nhờ tham dự vào Bí Tích Thánh Thể mà Ngày của Chúa cũng trở nên Ngày của Hội Thánh.

Vai trò thánh hóa của gia đình Kitô hữu bắt nguồn từ Bí Tích Thánh Tẩy và có được lối diễn tả cao cả nhất trong Bí Tích Thánh Thể, mà hôn nhân Kitô hữu được liên kết cách chặt chẽ.

Bí Tích Thánh Thể là nguồn mạch thật sự của hôn nhân Kitô giáo. Quả thế, hi tế Thánh Thể diễn tả giao ước tình yêu của Đức Kitô đối với Hội Thánh, được đóng ấn nhờ máu của Người trên Thánh giá (x.Ga 19,34). Trong hi lễ này của Giao Ước mới và vĩnh cửu, các đôi vợ chồng Kitô hữu gặp thấy nguồn mạch từ đó hôn ước của họ tuôn trào, được xây dựng bên trong và được canh tân liên tục. Vì diễn tả hi tế tình yêu của Đức Kitô đối với Hội Thánh, Bí Tích Thánh Thể là một nguồn suối của đức ái. Trong ơn đức ái của Bí Tích Thánh Thể gia đình Kitô hữu tìm thấy nền tảng và linh hồn của sự "hiệp thông" và "sứ vụ" của mình; Bánh Thánh Thể làm cho các thành viên khác nhau của gia đình Kitô hữu trở nên một thân thể, thân thể ấy biểu lộ và thông phần vào sự hiệp nhất rộng lớn hơn của Hội Thánh. Sự thông phần của họ vào thân mình của Đức Kitô đã được “trao ban” và trong máu Người đã "đổ ra” trở nên một nguồn mạch không bao giờ cạn của năng động thừa sai và tông đồ cho gia đình Kitô hữu.

4. Khả năng giáo dục của Bí Tích Thánh Thể.

Bí Tích Thánh Thể đích thực là một Bí Tích diệu kỳ, trong đó Đức Kitô ban cho chúng ta chính mình làm của ăn và của uống, như một nguồn mạch của quyền năng. Người đã trao ban chính mình cho chúng ta để chúng ta có được sự sống và sống dồi dào (x.Ga 10,10), sự sống ở trong Người và Người đã thông chia cho chúng ta qua quà tặng là Thánh Khí khi Người sống lại từ cõi chết vào ngày thứ ba. Sự sống đến từ Đức Kitô là một sự sống vì chúng ta. Đức Kitô ở gần chúng ta. Và Người là Emmanuel, Thiên Chúa ở với chúng ta, trong một cách thức còn lớn hơn khi anh chị em tiến gần đến bàn tiệc Thánh Thể. Có thể xảy ra như đã xảy ra tại làng Emmau, là Người chỉ được nhận ra khi “bẻ bánh” (x.Lc 24,35). Cũng có thể xảy ra là Người đã gõ cửa hồi lâu, chờ mở cửa để Người có thể đi vào và ăn uống với chúng ta (x.Kitô hữu 3,20). Bữa tiệc ly và những lời Người đã nói tại đó chứa đựng tất cả quyền năng và khôn ngoan của hi tế Thánh giá. Không thể có quyền năng và khôn ngoan nào khác nhờ đó anh chị em, những bậc cha mẹ có thể giáo dục cả con cái lẫn anh chị em. Khả năng giáo dục của Bí Tích Thánh Thể đã được chứng nhận qua các thế hệ và qua bao thế kỷ.

5. Trao đổi:

- Tại sao Bí Tích Thánh Thể là nguồn mạch và cao điểm của đời sống Kitô hữu?

- Đâu là chỗ đứng của Bí Tích Thánh Thể trong đời sống gia đình?

(Trích tài liệu của Hội Đồng Giáo Hoàng về Gia Đình - còn tiếp)

Lm. Irênê Nguyễn Thanh Minh, ofm

 

Trở về mục lục >>

 

Em Vẫn Là Một Thiên Thần

Sau Thánh lễ sáng Chủ Nhật Phục Sinh, Cha sở "mời" ca đoàn Thiếu Nhi qua nhà xứ gấp. Cả bọn lo nhốn nháo hỏi tôi chuyện gì mà Cha mời đột xuất, tôi cũng mù tịt.

Đến cửa nhà xứ thì thấy Cha đang chờ, hai tay cầm hai gói quà. Một bịch bánh và một bịch kẹo. Ngài cười thật tươi và nói: "Cha thưởng cho các con nè, vì hôm nay các con hát hay quá!" Các em nhảy cẫng và reo hò lên như ong vỡ tổ. Các em xin phép tôi được khai vị ngay món quà vừa nhận. Thế là một vòng tròn được hình thành, cả bọn vừa ăn vừa hát vang trời bài Mừng Chúa Phục Sinh của nhạc sĩ Phanxicô.

Em lấp ló ngoài cổng nhà thờ nhìn các bạn ca đoàn vui đùa. Tôi đến bên em, mời em ngồi vào vòng tròn để chung vui. Em mừng rỡ nhưng rụt rè. Sau phút vui chơi, em xin tôi cho em được gia nhập ca đoàn. Tôi rất ngạc nhiên và vui mừng vì bởi nhà em cách nhà thờ không đầy một tầm tay với. Dòng họ của em toàn là đạo dòng, thế nhưng đã hơn ba mươi năm nay không một ai đặt chân đến nhà thờ. Nhận em vào ca đoàn rồi lòng tôi lại nơm nớp lo sợ… Tôi sợ một ngày nào đó em sẽ rời xa mái nhà của Giáo Hội, xa ca đoàn để bước vào con đường mà đa số những người phụ nữ trong dòng họ em đang bước. Cái nghề mà Chúa không vui và người đời không ai chấp nhận. Năm đó em mười hai tuổi.

Một tối, em đến tìm tôi với gương mặt hoảng hốt, em mếu máo nói: "Cô ơi, mẹ con bắt con đi làm; nếu không sẽ bị bỏ đói, bị đánh đòn…" Dù đã chuẩn bị tinh thần nhưng tôi vẫn bàng hoàng và choáng váng vì không ngờ sự việc lại xảy đến quá sớm. Và em đã bị bỏ đói thật! Em năn nỉ tôi tìm cho em một việc làm lương thiện dù tiền lương ít ỏi. Có tiền thì em mới được đi tập hát. Tôi bấn lên. Tìm đâu ra việc làm cấp tốc cho đứa bé mười ba tuổi? Lòng tôi rối bời bởi tôi không muốn em phải bương chải giữa đời; nhưng tôi lại muốn em được đến trường. Để “hoãn binh", tôi gởi em đến ở nhà một người quen và lo cho em hai bữa cơm.

Một sáng, em rời khỏi quê nhà không một lời từ biệt… Các em trong ca đoàn nhốn nháo tìm tôi báo tin. Lòng tôi lại thêm một lần đau buốt và nặng trĩu lo âu. Tôi sợ giòng đời oan nghiệt sẽ xiết chặt tuổi thơ của em, sẽ đưa em vào vực thẳm tăm tối nào đó…

Một năm sau em về thăm tôi. Em kể cho tôi nghe những tháng ngày sống ở xứ người. Em cho tôi biết là em đang giúp việc ở một quán cơm, em vẫn tham dự Thánh Lễ mỗi Chúa Nhật. Tôi chỉ tin một nữa.

Em lại ra đi. Lần này chính em muốn ra đi. Và tôi biết đôi tay và trái tim của tôi đã bất lực trước một cuộc đời... Trước khi chia tay, em xin lỗi tôi vì chuyện ra đi đột ngột của em lần trước và cám ơn tôi đã yêu thương em. Năm ấy em mười bốn tuổi. Từ đó đến nay tôi không gặp lại em và cũng không hề biết một chút tin tức nào về em. Hỏi thăm, các em ca đoàn đều lắc đầu.

Bốn năm sau, mẹ em qua đời. Tôi đến chia buồn cùng tang quyến, nhưng không gặp em. Chỉ có đứa em gái của em và một đứa bé gái khoảng ba tuổi cùng vấn vòng khăn tang. Tôi thắc mắc về sự hiện diện của đứa bé gái, đầu tôi chợt có một dấu hỏi. Tôi thẳng thắng hỏi các em ca đoàn, và đáp số của tôi hoàn toàn chính xác. Nó là con của em. Em mang con về khi nó còn đỏ hỏn trên tay để nhờ cha mẹ chăm sóc cho em yên tâm… đi làm… Chính vì lý do này mà em không dám gặp tôi và em đã năn nỉ các bạn ca đoàn đừng bao giờ nói sự thật về cuộc đời của em cho tôi biết. Vết thương lòng của tôi lại nung mũ vì thương em… Rồi thời gian dần trôi… không ai biết em đang ở đâu. Ngồi nhẫm đốt ngón tay, tôi và em chia tay đã tám năm. Tám năm qua, đôi khi nhớ về em lòng tôi vẫn đau buốt…

Hôm qua, thật tình cờ, tôi gặp một người đã từng có thời gian chung sống với em nơi xứ người. Họ nói cho tôi biết một sự thật vô cùng đau lòng về em. Nơi em ở, người ta gọi em là gái đứng đường. Vào một đêm mưa buồn, em đi khách và đi mãi không về. Mấy ngày sau đó, người ta tìm được xác em lõa lồ bị vùi nằm sấp ở một bãi cát hoang xa thành phố với vết thương bầm dập ở cổ… Không ai biết được thân thế của em cho nên các bạn "đồng nghiệp” đã an táng em. Người kể cho tôi nghe nói rằng, có lần nghe em nhắc tới địa danh của quê em, nhắc tên tôi và lần này họ đến được quê em, họ cố gắng tìm cho bằng được những người thân của em. Tôi cám ơn bạn em, cám ơn những người đã đưa em đến nơi an nghĩ cuối cùng. Những người mà đời luôn cho là xấu xa lại có một trái tim nhân ái.

Khi ngồi viết những giòng chữ này thì Giáo Hội đang reo vang Bài Ca Chiến Thắng, tiếng Alleluia đang vang dội cả đất trời. Tôi tin chắc rằng em đã cùng phục sinh cùng với Chúa Giêsu. Em đang hợp với Cộng Đoàn Thiên Quốc cất cao lời ca Alleluia vang xa hơn nữa, và em đang an nghĩ trong vòng tay yêu thương của Thiên Chúa bởi Người là Cha Nhân Hậu. Người đã cất đi những đau khổ cho em. Gia đình hất hủi em, nhưng Người lại đón nhận em. Người đời miệt thị, khinh chê em, nhưng Người lại nâng niu em. Người đời cho em là tội lỗi, còn tôi, tôi muốn nói với em rằng; em vẫn là một thiên thần. Ngày trước, em khát khao được sống trong ca đoàn mãi mãi để ca ngợi Chúa, thì giờ đây, nơi Nhà Cha, em đã được hợp cùng Ca đoàn Thiên Quốc ca ngợi Thiên Chúa đến muôn đời; phải không em?

MK

Trở về mục lục >>

 

 
 

 

THƯ CHO ÁO NÂU

Lời Tâm Sự Sau Tai Nạn

Thử thách và chiến lợi phẩm

Áo Nâu Anh thân yêu

Chuyện của Anh và em không đẹp như chuyện cổ tích, cũng chẳng lãng mạn như các chuyện tình trong phim. Ai đó; không biết có phải là ông Pascal có nói: "Con người là một cây sậy biết tư tưởng" nên em nghĩ mình đang đi trên con đường thử thách đó!

Bởi tình yêu nào cũng có những chông chênh; cuộc sống vốn dĩ cứ trôi qua, cuồn cuộn cuốn đi những gì mà không ai biết trước được; nó lại mang về những gì thật bất ngờ.

Cuối tháng Hai vừa qua em bị tai nạn giao thông, chấn thương trên đầu, trên mặt, trên chân tay. Em ói mửa, mắt không thấy gì, phải đem đi cấp cứu ở bệnh viện. Thân nhân của em, bạn bè của em, anh chị em trong huynh đệ đoàn xót xa và thương cảm, loan báo xin cầu nguyện, gom góp ít tiền lo cấp cứu cho em. Em thật hạnh phúc và nghĩ rằng em đã được đền bù. Nếu Chúa có muốn em về bên Ngài, thì thật là hạnh phúc cho em. Nhưng Anh ơi! khi mới bị ngã nhào, còn một ít tỉnh táo, em chợt thốt lên câu nói mà người tù nhân Balan thốt lên khi anh ta bị chọn vào danh sách 10 tử tù và được Thánh Piô Năm dấu nhận chết thay. Câu nói của anh ấy thế này: "Ôi vợ tôi, ôi con tôi!" Em cũng vậy: Ôi chồng tôi, ôi con tôi! Thế đó. Bất ngờ là vậy đó. Những lúc như vậy em cảm thấy rất bất an. Nhưng khi định thần được, nhìn kìa! chung quanh em bệnh nhân nằm la liệt, nhiều người còn đau đớn hơn em nhiều; tiếng rên la, tiếng than khóc, tiếng phàn nàn… Em phải cố gắng hơn! Khi tạm xê dịch được, em liền đến học cách chịu đựng của những người chung quanh, và chia sẻ cho họ "tình Áo Nâu" của mình: Vài cái mỉm cười méo xệch, vài ánh nhìn nheo mắt (môi và mặt em đầy vết khâu, màu chỉ với máu ứ đen huỳnh cả khuôn mặt), một vài mẩu bánh thơm mềm, một vài ly sữa mà người thân của em biếu em, đó chính là phương tiện cho em đến được với họ, cũng là Chúa của em Anh ạ.

Đến ngày thứ ba sau tai nạn, một người đàn bà đến với em. Bà cụ chính là má của hai cô cậu đã gây tai họa cho em. Bà đang ngồi bên cạnh em; khuôn mặt dân tộc Chăm của bà rất phúc hậu, ít nói, ít cười, nhưng lộ vẻ âu lo và thương cảm. Em nghĩ ngay đến lời kinh của Mẹ Têrêxa Calcutta (Thầy Nguyễn Đương dịch): "Khi thánh giá của con trở nên nặng nề, hãy trao cho con thánh giá của của một người khác đang cần san sẻ. Khi con cần được chăm sóc, hãy đem đến cho con một người đang cần được con chăm sóc”.

Em khuyên bà ta đừng buồn đừng lo nữa, em sẽ làm đơn bãi nại cho con bà sớm lấy được xe ra và kết thúc hồ sơ.

Chuyện buồn hay tai họa trong đời thì chẳng ai muốn, phải không Anh? Đó là những thử thách tất nhiên. Nhưng làm sao để hóa giải, làm sao để chấp nhận và biến chúng thành những "chiến lợi phẩm" thì cần một sự quyết tâm cao độ. Em học được cách suy nghĩ của vị nào em quên mất: Cánh cửa này đóng thì phải biết tìm mà mở cánh cửa kia, vì đời có rất nhiều ngõ rẽ. Khi những điều tốt đẹp này tránh xa em, thì em quyết tâm tìm điều tốt đẹp khác ngay trong cái bất toàn của mình, và của sự việc mình đang hứng chịu: Em nghĩ đến Tình yêu Anh dành cho em.

Có mấy ai suông sẻ trong tình yêu! Đắn đo nhiều, dành nhiều thời gian để chọn lựa kỹ càng, và trở ngại cũng không ít. Nhưng với Anh, em có thứ tình yêu vượt lên trên mọi trở ngại, thứ tình yêu có niềm tin sâu sắc, có kiên định giành chiến thắng, sẵn sàng đối đầu với những thử thách một cách quyết liệt, cho dù là phải trả giá bằng hạnh phúc đời thường.

Mọi nơi mọi lúc em phải cố gắng Anh nhỉ. Cuộc sống tốt đẹp là chiến lợi phẩm của một cuộc đấu tranh với bản thân không ngừng. Mỗi khi cảm nhận khó khăn, em lại nghĩ tới đau khổ của người khác. Mỗi khi khát vọng niềm vui, em lại nghĩ tới hạnh phúc của tha nhân. Em quan niệm rằng khi mình làm cho tha nhân bớt đau khổ thì chính là mình được niềm vui. Mỗi lần làm cho kẻ khác hạnh phúc, thì chính mình được phúc vinh.

Anh ạ. Tình yêu của em đối với Anh đã đến lúc phải đâm chồi nẩy lộc, đã đến lúc phải sinh hoa kết trái.

Hôm nay em xuất viện sau 10 ngày nằm nhà thương. Em về với gia đình, mang thân xác đầy vết tích của tai nạn, những nơi băng bó chưa được tháo gỡ, chỉ may chưa được rút bỏ. Em vẫn vui và tự hào rằng mình được chia sẻ thân phận của những người bất hạnh, được đón nhận một ít đau khổ của những ai khổ đau. Em trở về trong niềm hân hoan, vì biết rằng nhiều người đã cầu nguyện cho em, và –hơn thế– vì biết rằng Chúa còn muốn dùng em như khí cụ bình an của Ngài.

Em chào Anh và mong lời tâm sự này được Anh vui nhận và chúc phúc. Xin Chúa ban muôn ơn lành cho những người đã cầu nguyện cho em và bằng nhiều cách giúp em vượt qua cơn thử thách vừa qua.

Viết ngày 7-3-2007

 Kim Gương

GÓP NHẶT ĐÓ ĐÂY

Ơn Chữa Lành, Ơn Trọn Lành

- Anh ạ, nếu nói rằng Chúa luôn yêu thương tôi, sao Chúa cứ để cho tôi bị đủ thứ bệnh tật, dẫu rằng tôi đã cố gắng tìm thầy chạy thuốc, nhờ người cầu nguyện, nhờ các cha dâng lễ chữa lành... mà bệnh vẫn không hết?

- Vậy bạn có biết tại sao bạn bị bệnh không?

- Không.

- Bạn có biết làm sao để bệnh không trở nên trầm trọng không?

- Không.

- Vậy bạn có biết làm sao bệnh khỏi tái phát không?

- Không.

- Bạn không biết mình, không hiểu mình, không biết bệnh tật của mình thì làm sao có thể chữa lành được? Và bạn có biết ai là người có thể chữa lành cho bạn không?

- Không.

- Chính bạn đấy.

- Nghĩa là ?...

- Nghĩa là Thiên Chúa luôn luôn muốn có những cơ hội để ban muôn ơn lành cho bạn; nhưng bạn lại không cho Chúa cái quyền chữa lành cho bạn. Thậm chí, đôi khi, bạn chỉ khoán trắng cho Chúa, cho các linh mục, cho những người mà bạn nhờ họ cầu thay nguyện giúp... trong khi đó, chính bạn thì không làm gì cả...

- Thì ra là thế

- Vâng, Vì ngài luôn tôn trọng sự tự do của bạn nên Ngài đã không thể ban ơn cho bạn khi mà chính bạn đã tìm kiếm ơn lành ở một nơi hay một người nào khác...

- Ừ nhỉ!

- Hãy quay về với chình mình, và hãy quay về với chính Chúa thì bạn sẽ nhận ra muôn vàn phép lạ mà Thiên Chúa đã và đang làm cho riêng bạn.

- Tôi hiểu.

- Hơn nữa, có bao nhiêu vị Thánh trước khi trở về với Chúa mà không kinh qua sự đau khổ của thể xác? Và dường như mỗi vị Thánh khi trở về với Chúa đều mang theo một cơn bệnh ngặt nghèo. Chính cơn bệnh ấy đã trở thành "cửa ngõ" để giúp cho các ngài trở về với Chúa... Vậy bạn nghĩ có nên xin ơn Chữa Lành hay không?

- Hiểu như thế thì đúng là không nên rồi!

- Hơn nữa, bạn có tin là Thiên Chúa là đấng rất nhân từ, hay thương xót, và đầy quyền năng không?

- Có chứ!

- Vậy tại sao bạn lại nghĩ rằng Thiên Chúa không quan tâm và không chịu đáp lời cầu xin của bạn?

- Ồ... Nhưng, vậy thì... khi cầu nguyện, tôi nên xin gì?

- Hãy xin ơn "Trọn Lành" (như Cha trên Trời là Đấng Trọn Lành) chứ đừng xin ơn Chữa Lành... Và hãy xin ơn "Biết Việc Phải Làm"... để biết phải làm sao để nên Trọn Lành bạn nhé.

 Phan-Antôn

Người Con Ngoan Của Chúa!

Thứ Tư Lễ Tro, Cha sở của xứ tôi bị đau nặng. Chúng tôi đưa Ngài vào bệnh viện. Các bác sĩ bảo Ngài bị ung thư gan ở giai đoạn cuối.

Biết bệnh của mình không còn chửa trị được, Cha xin về với thái độ bình thản. Bệnh mỗi ngày một nặng, cơn đau mỗi lúc tăng dần, Cha chịu đựng trong im lặng. Nằm một chỗ lâu ngày, người Cha bắt đầu xuất hiện những vết loét và mỗi lần trăn trở đều chạm vào chỗ loét. Bụng càng to, thân thể Cha càng suy yếu. Dần dần Cha không còn tự mình trăn trở được nữa, Cha vẫn không một tiếng rên than. Trước khi về Nhà Chúa ba ngày, Cha cố gắng ngồi xe lăn để dâng Thánh Lễ cuối cùng. Chiều hôm sau, Cha bảo chúng tôi vây quanh chiếc võng của Cha đang nằm và cố gắng đưa cánh tay gầy gò, run rẩy lên để ban tặng cho chúng tôi Phép Lành cuối cùng. Và đêm ấy, lúc không giờ, cơn đau hoành hành thân xác Ngài cực độ. Ngài lăn lộn, rên rỉ, miệng nói liên tục… và Cha đã về Nhà Chúa lúc mười bốn giờ ngày hôm sau.

Tôi đã nhiều lần đi thăm viếng các bệnh nhân ở giai đoạn cuối. Trong cơn đau các bệnh nhân thường nói một mình mà không biết mình nói gì. Cũng có những bệnh nhân khi cơn đau cực độ lại sinh ra cộc cằn, lồng lộn trách mắng Chúa. Còn Cha Sở tôi, trong cơn đau cực độ Ngài luôn miệng van vỉ: "Lạy Chúa, xin hãy ẳm con đi”. Cha sở tôi trút hơi thở cuối cùng trong tuần thứ hai Mùa Chay. Ngài về với Chúa ở tuổi 86, sau 56 năm 27 ngày chu toàn bổn phận của Người Mục Tử. Khi Cha sở tôi nằm xuống chính là lúc mắt tôi được mở ra. Tôi thấy có rất nhiều học trò Linh Mục, có cả Đức Giám Mục của địa phận đến cung kính, tri ân, tiễn biệt Ngài. Có Linh Mục gọi Ngài là cây Cao Bóng Cả, có vị gọi Ngài là Tấm Gương Sáng, có vị gọi Ngài là Vị Thầy Mẫu Mực… Những quyển sổ bài giảng của Ngài được Chủng Viện lưu giữ làm tài liệu học tập. Còn tôi, tôi gọi Ngài là: "Người Con Ngoan Của Thiên Chúa". Gọi là người con ngoan bởi Ngài đã sống cùng, sống với, sống cho chúng tôi suốt hai mươi ba năm. Trong hai mươi ba năm này tôi chưa thấy Ngài một lần lỗi bỗn phận. Biết bao lần Ngài lầm lũi trong nắng mưa để tìm kiếm những con chiên lạc. Bao nhiêu đêm lặn lội đường xa để đem Chúa đến cho những người hấp hối. Biết bao lần cha và con lội ruộng, lội sình, đi xuồng, đi ghe để đến những vùng sâu, vùng xa dâng Thánh lễ cho những tâm hồn khát khao Chúa… Biết bao lần Cha cùng con quỳ thờ lạy Thánh Thể, quỳ gối giang tay lần hạt Mai Khôi để đền tạ Khiết Tâm Mẹ, và biết bao lần Cha cùng con làm Tuần Cửu Nhật dâng kính Thánh cả Giuse để nguyện cầu cho Giáo Hội, cho nhân loại... Bước chân Cha đã in sâu hằn trên mảnh đất của Giáo Hội, những việc làm của Cha thật đậm nét trong tâm trí tôi. Và gương sáng mà tôi nguyện đem theo suốt đời đó là sự Vâng Phục Thánh Ý Chúa cho đến chết mà không một tiếng than trách…

Những tháng ngày cuối đời của Cha sẽ mãi mãi là bài học vô giá cho tôi. Tôi khôn lớn trưởng thành trong đời sống Đức Tin như ngày hôm nay là nhờ ở Cha. Cha ra đi, tôi cảm thấy mình như bị mất mát điều gì đó thật lớn, và tinh thần thật trống trãi. Tôi bối rối và hoang mang… Nhưng đó chỉ là một vài phút suy nghĩ nông cạn thoáng qua. Cha đi xa nhưng thật ra Cha đang ở rất gần bên tôi, và Người vẫn đang dạy dỗ, huấn luyện Đức Tin cho tôi bằng những lời cầu thay bên chân Chúa. Người đi xa nhưng trái tim Người luôn gởi lại trong lòng họ đạo.

Ai bảo chết là hết? Không! Chết là bắt đầu một cuộc sống mới. Ai bảo chết là vĩnh biệt? Không! Chỉ là một cuộc tạm biệt. Cha sở tôi chết? Không! Người chỉ mới bắt đầu phục sinh! Cha ơi, cầu nguyện cho chúng con luôn nhé... Alleluia

 MK

Hy Vọng Phục Sinh

Mùa Chay năm nay, cũng như bao người tín hữu khác, tôi có dịp trở về, trở về để nhìn lại mình, nhìn lại những yếu đuối, lỗi lầm của chính mình. May mắn thay, hai năm nay, cộng đoàn của chúng tôi theo Chương trình Mục Vụ của Giáo Phận hình thành những nhóm nhỏ để chia sẻ Phúc Âm trong Mùa Chay. Tôi được tìm hiểu, lắng nghe lời Chúa qua sự chia sẻ tốt lành của các anh chị trong nhóm. Chúa sinh mỗi người một cách đặc biệt, mỗi người có một cá tính riêng biệt, nhờ thời gian chia sẻ này mà tôi đã hiểu và học hỏi nhiều điều từ tấm lòng hy sinh, bác ái, khó nghèo của qúy anh chị trong nhóm, được nhắc nhủ mỗi tuần nên tôi có quyết tâm hơn.

Nhớ lại trước kia, tôi cũng "bước vào" Mùa Chay, nhưng hình như chỉ để làm cho xong bổn phận, và "bước ra", giống như ánh lửa được thổi bùng lên rồi lại lịm tắt trong đời sống thường nhật, và đâu lại vào đó, để rồi Mùa Chay năm sau lại bắt đầu... Chẳng quyết tâm, chẳng thăng tiến được gì. Nhớ lại tình thương vô biên của Chúa qua bao thăng trầm trong cuộc sống, nhưng Ngài vẫn luôn thương yêu, luôn cho tôi cơ hội để trở về. Nhìn lại cuộc đời là cả chuỗi dài hồng ân, nhưng tôi đã làm được gì để tạ ơn Ngài.

Những tuần chay trôi qua trong hy vọng đợi chờ, nhất là sau Chúa Nhật thứ IV, Chúa nhật mà ngày trước hay gọi là "Chúa Nhật hồng trong mùa tím" tôi bắt đầu mỗi ngày trong niềm vui và cảm tạ. Nhất là dâng tất cả đời sống, công việc, dự định và cả những sai sót, lỗi lầm trong bàn tay nhân ái của Ngài. Tôi cảm thấy thật cần Chúa vì nếu không có Ngài tôi chẳng đủ ư chí, nghị lực để chịu đựng, vượt thắng những cám dỗ, nản lòng. Giáo hội đề cao khổ đau, nhưng không rơi vào bi quan yếm thế. Mùa chay ngày nay không còn là khổ chế hành xác mà Chúa mời gọi mọi người tháo bỏ xiềng xích, gông cùm đang trói buộc chính mình.

Tôi ý thức hơn, ăn chay là tìm lại tự do cho chính mình, tự do không bị ràng buộc bởi những đố kỵ, ghen ghét, hận thu, danh vọng, lạc thú... để mang bình an, niềm vui đến cho chính mình và cho tha nhân.

Tôi nghĩ đến những người kém may mắn về vật chất cũng như tinh thần, đang phải sống trong thiếu thốn khó khăn. Đến người chị em trong đoàn hai năm nay nằm trên giường bệnh chỉ ao ước được có ngày trở lại sinh hoạt, điều cảm động, giữa bao nhiêu giấy tờ, toa thuốc phải thay đổi mỗi ngày, nhưng hai tấm thiệp sinh nhật anh chị em trong đoàn gởi chị trong dịp vào thăm, một năm nay chị vẫn gắn bên cạnh giường. Tôi nghĩ đến mùa đông giá lạnh năm nay, đến bao nhiêu kẻ bơ vơ không nhà. Đến những gia đình đau khổ vì mất mát xa lià, những người đang chịu oan trong cảnh lao tù. Đến hai người bạn trẻ có con còn nhỏ, đang mang chứng bệnh nan y thời kỳ thứ ba... Và ngay cả gia đình tôi, tất cả vẫn còn ở Việt Nam trong cảnh khó khăn. Tôi còn mắc nợ nhiều lắm, tình Chúa, tình người.

Xin Chúa giúp tôi bền vững theo đuổi lư tưởng, để niềm vui và sự Phục Sinh của Chúa được thể hiện trong cuộc sống của tôi. Những ngày Mùa Chay với tâm tình ăn năng thống hối rồi cũng qua đi, chỉ mong sao những hạt giống của “mùa xuân tâm hồn" được tăng trưởng và nở rộ trong niềm vui và hy vọng.

 Maria PTP

Trưởng Phục Vụ

Đoàn tôi có một anh thật hiền lành đạo đức, văn hay chữ tốt. Anh vào Dòng đã lâu và được mọi người quí mến. Tận tâm ân cần, khiêm tốn, anh chị nào có việc nhờ anh giúp, anh không bao giờ từ chối. Anh chỉ ngại nhất một việc là đứng nói trước công ch