|
Nếu có người nào bỗng dưng sống đạo đức, sốt
sắng, ta liền tự hỏi: Anh này sao vậy? Có chuyện ǵ khác thường đă xảy ra chăng?
Về sự hoán cải cũng thế. Người ta nghĩ rằng hoán cải là một sự can thiệp độc đáo
của Thiên Chúa, như một tiếng sét chớp nhoáng, kiểu biến cố Đamát của thánh
Phaolô. Lẽ dĩ nhiên, có những biến cố xảy ra đột ngột, chẳng hạn một cái tang,
một chuyện gây thất vọng, một cuộc tĩnh tâm… đă làm thay đổi một con người.
Nhưng nếu cứ chờ một biến cố như thế, rất có thể ta sẽ không bao giờ hoán cải.
Nh́n vào đời sống của Phanxicô, có những chuyện
kỳ lạ. Nhưng khi đi ngược lại giai đoạn khởi đầu, ta thấy Thiên Chúa giống như
một nhà giáo dục rất sư phạm, đă can thiệp rất kín đáo. Phanxicô trai trẻ, đầy
nhiệt huyết, là một tâm hồn kiêu hănh, cao thượng và lịch thiệp. Nhưng Phanxicô
có hai tật lớn: hướng về những vui thú thế gian và t́m kiếm những điều phù vân;
do đó, đời sống thiêng liêng của chàng bị tê liệt. Đức Kitô đến đánh thức chàng
bằng một vài kinh nghiệm rất đơn giản, qua đó cho chàng thấy là tất cả những ǵ
chàng theo đuổi đều không đáng kể.
1.- Cơn bệnh:
Phanxicô mơ một cuộc sống toàn êm dịu, không cay đắng…, th́ đây, chàng bị bệnh
nặng. Đây là kinh nghiệm về một sự hồi tâm rất đau xót. Khi bị tù, người ta cũng
bị khổ, nhưng dường như không rút ra được kinh nghiệm ǵ, nếu không phải là kinh
nghiệm này: cứ kiên nhẫn, là mọi sự sẽ qua. C̣n ở đây, Phanxicô cảm thấy mạng
sống ḿnh bị đe dọa, chàng hồi tâm (x. 1 Cel 3).
- Cơn bệnh làm lệch hướng
đời: Phanxicô tưởng không thể
sống mà không có những công việc hằng ngày pha với những cuộc vui. Th́nh ĺnh
chàng bị bệnh nặng: cuộc đời chàng bị tước mất mọi sự, tất cả những ǵ là dịu
ngọt không c̣n nữa. Chàng đau đớn v́ nhận ra rằng thế gian không chờ chàng, nó
vẫn cứ xoay vần, chàng đă bị đẩy ra bên lề, đă bị “tách khỏi thế gian” mà không
hề muốn. Trước đây, chàng không muốn đưa đau khổ vào trong thế giới của chàng,
nay đau khổ đẩy chàng ra khỏi thế giới của loài người.
- Cơn bệnh đưa Phanxicô trở
lại với chính ḿnh: Sống theo
lạc thú, tưởng là triển nở, thật ra là quên mất chính ḿnh. C̣n đau khổ, v́ có
liên hệ tới cái chết, nó lôi ta trở về với bản thân: Phanxicô thấy ḿnh có một
cuộc sống nội tâm mà lúc nào chàng cũng có thể làm cho sống lại, nhưng lâu này
chàng lại lơ là.
Lúc này, Phanxicô nghĩ tới những chuyện lạ
thường, mới mẻ. Kinh nghiệm hồi tâm này rất quan trọng đối với giai đoạn khởi
đầu cuộc đời hoán cải của Phanxicô. Sau này, chàng sẽ càng đi sâu vào trong tĩnh
mạc, vào những nơi hoang vắng.
- Cơn bệnh làm cho Phanxicô
cảm thấy khắc khoải: Đây là một
kinh nghiệm rất khó chịu, Phanxicô cảm thấy khắc khoải v́ thấy đời ḿnh bị cái
chết đe dọa sớm quá, thấy đời ḿnh vô nghĩa, thấy tương lai không được dành cho
ḿnh; chàng cảm thấy như vấp phải một bức tường.
- Cơn bệnh làm phát sinh sự
hối tiếc: Phanxicô thấy rằng
lâu nay ḿnh đă phí th́ giờ vô ích, thấy ḿnh đă phí cả cuộc đời. Cảm giác bén
nhạy là ḿnh đă không làm ǵ cả, và bây giờ phải làm ngay, Phanxicô sẽ có suốt
đời (Đại Truyện 14,1). Chàng sẽ coi th́ giờ là quà tặng lớn lao nhất. Khắc khoải
v́ sắp phải chết, nhưng cũng là khắc khoải v́ lâu nay đă sống như người chết ….
2.- Chán chường trước cảnh đẹp
Assisi
Nhưng rồi chàng trai đă khỏi bệnh. Chàng vội đi
ra cánh đồng, v́ muốn t́m lại hạnh phúc đă mất. Cánh đồng Ombria rất đẹp, nhưng
Phanxicô không thấy đẹp ǵ cả (1 Cel 3). Chàng hốt hoảng, không hiểu được ḿnh
nữa. Chàng không có lư ǵ để không vui sướng: cảnh đẹp, mặt trời chói chan, làn
gió nhẹ… Không có ǵ gây trở ngại. Thế mà chàng chẳng thấy hấp dẫn ǵ cả.
Phanxicô ngạc nhiên, nh́n quanh, t́m cảm xúc ngày
xưa, nhưng vẫn không t́m được. Bây giờ mọi sự được dành cho chàng, th́ chàng lại
thấy mọi sự vuột khỏi tay ḿnh.
- Do đó, Phanxicô phải tự phê
phán chính ḿnh (1 Cel 4). Các
thọ tạo đẹp như thế, vẫn là như thế, nhưng chính chàng th́ không c̣n như thế
nữa. Ngày xưa, các thọ tạo này không cho chàng đủ; nay chúng chẳng cho chàng cái
ǵ cả. Chàng chỉ thấy trong ḷng một khoảng trống không và thấy thọ tạo là
hư-không.
- Từ đó Phanxicô đi tới thái
độ tự khinh ḿnh: Chàng trở về
nhà trong tâm trạng đó. Chàng đă cứ tưởng ḿnh chỉ cần đứng trước những ǵ ḿnh
yêu thích là yêu được, đứng trước những ǵ ḿnh ham muốn là hạnh phúc ngay. Bởi
v́ lâu nay tôi không mong ước ǵ hơn là thú vui, tôi tưởng không có ǵ hơn. Bây
giờ Phanxicô mới biết.
3.- Cuộc chiến hụt: đào thoát
Sau đó, Phanxicô trở lại với công việc làm ăn, và
xây dựng công danh. Dĩ nhiên, cuộc hoán cải đâu phải hoàn tất một sớm một chiều?
Chàng lại thành công trong công việc buôn bán (1 Cel 4), lại mơ những thành công
thế gian, lại sống trong nhung lụa (Đại Truyện 4,1).
- Nhưng có một chuyện mới:
Phanxicô không muốn sống tầm thường; chàng mơ làm hiệp sĩ. Rơ ràng chàng muốn
dứt với một cuộc sống dễ dăi. Thế gian sẽ không c̣n là một quang cảnh cho chàng
thưởng thức nữa, nhưng từ nay sẽ là một sân khấu để chàng lập những kỳ công.
Chàng như lật ngược các vai tṛ. Từ nay, sẽ không là người thừa tự của người cha
trần thế, là ông Bênađônê, nhưng tự lập và đạt những thành tích vẻ vang.
Phanxicô muốn đạt được những danh hiệu riêng cho ḿnh: tự tạo cuộc đời, tự xây
dựng công danh bằng cách vượt qua các trở ngại. Chàng ra trận.
- Đây có vẻ là một sự thay
đổi tốt trong lối sống: Trong
thực tế, Phanxicô vẫn đang t́m cách tránh thoát bàn tay Chúa. Chàng muốn tự tạo,
tự lập, không phó ḿnh cho Chúa, không muốn mở ḷng ra. Do đó đây chưa phải là
một cuộc “vượt qua”, mà là một cuộc đào thoát. Cũng v́ thế, Phanxicô lại kẹt vào
trong đó; chàng cứ loay hoay với ư định thực hiện những giấc mộng lớn, chờ đợi
một biến cố nào đó tới trấn an ḿnh.
- Chúa cho chàng mơ thấy một
lâu đài với các vũ khí mang h́nh thánh giá:
Ta tưởng Chúa sẽ chận bước Phanxicô, nào ngờ Người lại làm cho các khát vọng của
chàng nên mạnh thêm. Nhưng khi sắp lên đường, Phanxicô lại thấy buồn chán.
***
Chính những sự kiện tầm thường trong đời sống
hằng ngày lại rất quan trọng đối với chúng ta: một cơn bệnh bắt ta ngưng sinh
hoạt và đưa vào tĩnh lặng, tới độ ta không chịu nổi v́ khám phá một chỗ trống
trong ḷng; một chuyến du ngoạn, một cuộn phim ta tưởng hay đẹp, nhưng lại làm
ta thất vọng; một bức thư của một người bạn hay chuyến đi thăm một người bà con,
tuyệt vời lắm, nhưng không thỏa măn ta; sự tận tụy trong công việc hay niềm hăng
say làm việc, nhưng thật ra chỉ là một sự trốn tránh hay t́m quên những đ̣i hỏi
thâm sâu hơn.
Ai lại không có lần cảm thấy cần được một người
bạn hay một người cố vấn xác minh cho ḿnh một nẻo đường mà đến nay ḿnh vẫn
thấy có ǵ đó không trong sáng. Họ khuyến khích ta đi theo những ǵ ta đă nói
với họ, nhưng ngay khi đó ta cảm thấy bất an. Nhưng c̣n Chúa, Người gọi ta tỉnh
dậy cách kín đáo và tế nhị, nên ta phải rất chú ư, phải biết t́m về tĩnh lặng.
Chúa không xô đẩy vội vàng, mà chỉ dùng những sự kiện tầm thường của cuộc sống
mà đánh thức ta.
Phanxicô đă biết lưu ư. Với những người biết lưu
ư, th́ không có ǵ là tầm thường. Tất cả có thể trở thành một tiếng mời gọi
người ta đi sâu lương tâm để hiểu rơ hơn mọi chuyện. Đối với Chúa, không có ǵ
là xoàng xĩnh, tầm thường. Do đó, “ước ǵ hôm nay các bạn nghe tiếng Chúa… Chớ
cứng ḷng” (Tv 94).
***
Lạy Thiên Chúa tối cao và vinh hiển,
xin chiếu sáng cơi ḷng tăm tối của con.
Xin ban cho con đức tin ngay thẳng,
đức cậy vững vàng và đức mến hoàn hảo.
Lạy Chúa, xin ban cho con được ơn hiểu biết,
để con chu toàn sứ mạng thánh thiện và chân thật Chúa giao phó.
(Kinh đọc trước Thánh giá)
Ghi chú:
1
Cel, 2 Cel: Đây là hai quyển tiểu sử của thánh Phanxicô do thầy Tôma thành
Celano viết.
Đại Truyện: Đây là quyển tiểu sử của thánh Phanxicô do thánh Bônaventura viết.
Lm.
FX Vũ Phan Long, OFM
Nói đến Cha Thánh Phanxicô, chúng ta nghĩ
ngày đến h́nh ảnh của một người cha nhân từ, người thầy mẫu mực, người anh đạo
đức, người bạn hiền ḥa gần gủi, thân thương, tràn đầy niềm kính ái; Và khi suy
ngẫm về sự hoán cải của Người, th́ những hiểu biết, những cảm nghiệm của chúng
ta chỉ bằng một giọt nước trong một đại dương.
Đối với Cha Thánh, hoán cải là một ơn Chúa ban để biết từ bỏ mọi vui
thú của thế gian, những ích kỷ riêng tư của bản thân, và biết ăn năn, hối hận về
những lỗi đă phạm, chấp nhận h́nh phạt để đền bù; la biết thay đối tâm hồn, thay
đổi đời sống bằng việc cầu nguyện liên lỉ để chiến đấu, khắc phục, chế ngự bản
thân, quy hướng về Thiên Chúa và đến với người khác với ḷng yêu mến Chúa…
Là con của một thương gia giàu có, lại được phú bẫm với một tâm hồn
cao thượng, tế nhị, nhạy cảm; nhưng Phanxicô lại chạy theo danh vọng, thích sống
xa hoa, vung văi bạc tiền để t́m vui với bạn bè khiến đời sống thiêng liêng chết
lịm; cụ thể như khi muốn đạt mộng công danh, Phanxicô đă không ngần ngài dùng
tiền bạc để mua áo giáp và ngựa chiến để ṭng quân.
Bị bắt ở tù, sau đó được phóng thích v́ cơn bệnh ngặt nghèo,
Phanxicô đă bắt đầu giai đoạn hồi tâm, Chính Chúa đă gởi những cơn bệnh để đưa
Phanxicô trở về với chính ḿnh. Trong tận cùng nỗi đau khi cận kề cái chết,
Người mới nhận ra ḿnh đă sống một cuộc sống quá vô nghĩa, phung phí thời gian,
phung phí bạc tiền, kiếm t́m những thú vui trần gian, tuy sống nhưng cũng như
chết, Người khắc khoải, hối tiếc…
Sau khi lên đường ṭng quân lần thứ nh́, Thiên Chúa lại t́m gặp
Phanxicô trong giấc mơ, khiến Người bối rối, xa lánh bạn bè, trầm lặng, suy tư,
cầu nguyện, chờ đợi… Và Thiên Chúa lại đến xua tan bóng tối mây mù, đánh thức
tâm hồn cao thượng, khơi lên ngọn lửa đầy nhiệt huyết, hé mở cho Người cánh cửa
yêu thương, d́u Phanxicô tiến lên con đường hoán cải bằng cách trao tặng chính
Đức Kitô bằng xương, bằng thịt, mang nỗi đau tận cùng của xă hội, lê lết bên
đường với tấm thân phong hủi lỡ loét, hôi hám chờ đợi của bố thí.
Cảm nhận được Đức Kitô nghèo hèn, hiện diện trong người đau khổ và
để đáp trả t́nh yêu cao vời, ngọt ngào ấy, Phanxicô đă ôm hôn người phong hủi ấy
bằng một ṿng tay tŕu mến, với trái tim nồng nàn, chan chứa yêu thương. Đây là
điều mà trước kia không bao giờ Phanxicô nghĩ đến v́ người rất ghê tởm người
phong cùi. Chỉ nghĩ đến họ thôi là Phanxicô đă buồn nôn. Và cũng bắt đầu từ đây,
Người ngẩn cao đầu nói không với vật chất, bạc tiền, quên ḿnh, đến với anh em,
và luôn xin ơn tha thứ, Người bắt đầu chọn “Tin Mừng làm chuẩn”, và luôn triệt
để thực hành Lời Chúa, đích thật là người sống “hoán cải và tin vào Tin Mừng”
(Mc 1, 14).
Cha Thánh Phanxicô đă tiến tới đỉnh trọn lành bằng con đường hoán
cải, và hoán cải là biến đổi từ xấu trở nên tốt, là con đường nên thánh. Sức
mạnh đă giúp cho Cha Thánh tiến bước là sự cầu nguyện liên lỉ, việc làm thể hiện
tâm tinh hoán cải của Người là yêu thương và khiêm hạ, trọn cuộc đời của Cha
Thánh không có những việc lớn để phô trương hay khoe khoang, cũng không viễn
vông xa vời mà là sự bắt đầu từ chính bản thân ḿnh bằng những việc bé nhỏ nhưng
với trọn vẹn yêu thương. Và Thiên Chúa nhân từ hằng yêu người bé mọn, đă cất
nhắc Người làm vị Thánh lỗi lạc của cả nhân loại từ xă hội cho đến giáo hội và
nhất là của gia đinh Phan Sinh nói riêng.
Từ ấy đến nay, tám trăm năm đă qua nhưng gương sáng của Cha Thánh
vẫn rạng ngời, vẫn tỏa hương trong ḷng nhân loại, trong mái nhà Giáo Hội, và
t́nh yêu Thiên Chúa vẫn chan ḥa cho những ai biết sống tinh thần hoán cải. Và
trong t́nh yêu bao la chan ḥa ấy, Mẹ Giáo Hội đă ưu ái tặng ban cho đại gia
đ́nh Phan Sinh một Năm Thánh, chúng ta, những người đă, đang chọn Linh Đạo Phan
Sinh làm lối bước về Nhà Chúa hăy ghi ḷng hai chữ hoán cải, hăy học và hành
theo gương của Cha Thánh mỗi ngày cho đến trọn đời hầu mong xứng đáng với ân huệ
Chúa tặng ban.
T.CT
Khi ra đi rao
giảng Tin Mừng Nước Trời, Chúa Giêsu đă bắt đầu kêu gọi: “Hăy hoán cải,
v́ Nước Trời đă gần bên” (Mt 4,7; x. 3,2).
Chúng ta thường
nói tới việc ăn năn đền tội, tức là hối hận về một lỗi phạm và chấp nhận
một h́nh phạt để đền bù. Nhưng danh từ đền tội có ư nghĩa căn bản là
hoán cải (tiếng hy lạp: metanoia), la thay đổi hướng ḷng, thay đổi
con đường.
Cha thánh
Phanxicô sau khi trở lại đă rao giảng
sự hoán cải cho mọi người (1 Cel 23). Những anh em đầu tiên đến chia sẻ
lối sống của ngài đă mang tên là “Nhóm người sống đời đền tội thành Assisi” (Ba
Người Bạn (Bnb), số 17). Nhóm Ḍng Ba tiên khởi được gọi là
“Ḍng Đền Tội” (Ordo de Pœnitentia) hoặc “Anh chị em ăn năn đền tội”. Sự
chọn lựa đó gây nên một tiếng vang không nhỏ, v́ đối với con người thời đó, con
đường đền tội vẫn c̣n là một cái ǵ hoàn toàn xa lạ, và bị coi như một chuyện
điên rồ (x. Bnb, 39).
Đức giáo hoàng
Innôxenxio III, sau khi chấp nhận Bản Luật Phúc Âm của anh em, đă nói: “Anh em
hăy ra đi, và xin Chúa ở cùng anh em! Anh em hăy rao giảng sự hoán cai cho mọi
người như Chúa sẽ đoái thương soi sáng cho anh em. . .” (1 Cel 33). Và
chính Phanxicô cũng đă bảo anh
em đi rao giảng sự hoán cải cho mọi người (Luật không sắc dụ (Lksd)
21,3-9; Thư gửi các Anh Phục vụ (TcPv), c. 6).
Chúng ta sẽ xem cha thánh sống đời
hoán cải như thế nào, và
học hỏi quan niệm của ngài về sự
hoán cải.
I.-
Cha thánh Phanxicô sống đời hoán cải
A.-
Hoán cải là một ân huệ
Đối
với cha thánh Phanxicô, hoán cải là một ơn Chúa ban. Ngài viết trong Di chúc
(DC): “Chúa đă ban cho tôi, tu sĩ Phanxicô, ơn bắt đầu cuộc
đời hoán cải như thế này...” (c.1). Đối với ngài, tất cả là ân huệ: hoán
cải là một ơn, cũng như ơn tin vào các nhà thờ (DC, 4), ơn tin vào các
linh mục (c. 6), ơn được có những anh em tới chia sẻ lư tưởng của ḿnh (c.
14)...
Theo
thánh nhân, chính Chúa đóng vai chủ động và khởi xướng trong cuộc hoán cải cũng
như trong mọi khía cạnh khác của đời sống ngài: Chúa đă dẫn ngài đến với người
cùi (DC, 2), đă mạc khải cho ngài biết phải sống theo Phúc Am (c. 14), đă
mạc khải cho ngài biết phải chào người ta bằng lời này: “Xin Chúa ban b́nh an
cho quí vị” (c. 23).
B.-
Hoán cải là bỏ đường tội lỗi
Cha
thánh viết tiếp trong Di chúc: Trước khi được ơn bất đầu hoán cải, ngài
đă “sống trong tội lỗi” (c. 1).
Điều
mà ngài gọi là “tội lỗi”, thường chỉ là việc chạy theo danh vọng, giàu sang,
t́m kiếm một nếp sống tiện nghi, xa xỉ, tiêu xài tiền bạc hoang phí, để mua
vui với bạn bè. Quả thật, đối với một vị thánh đă đạt tới đỉnh cao của sự thánh
thiện, về cuối đời, nh́n lại quá khứ xa xưa, th́ thời gian trước khi được ơn trở
lại với Chúa quả là một giai đoạn “sống trong tội lỗi”: chỉ mải miết t́m kiếm
bản thân và những sự phù vân thế gian. Thật vậy, bản chất sâu xa của
tội lỗi nằm ở xu hướng ích kỷ, qui về ḿnh, thay v́ qui hướng về Thiên
Chúa và qui hướng về người khác với ḷng mến Chúa.
C.-
Hoán cải là từ bỏ thế gian
Nhưng ơn Chúa đă can thiệp
vào trong đoạn đời thanh niên của Phanxicô để đưa chàng đến quyết định rời bỏ
thế gian.
1)
Một cơn bệnh
Chúa đă gửi
tới cho chàng một cơn bệnh. Nhờ cơ hội này, Phanxicô thay đổi cái nh́n về ngoại
cảnh. Chàng bắt đầu chán ngán những cuộc vui chơi, yến tiệc ồn ào (x. 1 Cel
3-4).
2) Vỡ mộng công danh
Tuy nhiên, sau
cơn bệnh đó, Phanxicô vẫn nuôi mộng công danh, vẫn muốn làm hiệp sĩ đi lập chiến
công và chiếm được trái tim của một người đẹp. Chính Chúa sẽ dùng tham vọng đó
để biến chàng thành một hiẹp sĩ của Người.
a) Trong một
giấc chiêm bao, Phanxicô thấy một lầu đài đầy vũ khí có ghi dấu thánh giá,
và trong lâu đài ấy lại có một thiếu nữ rất đẹp. Chàng được Chúa cho biết là tất
cả những thứ đó sẽ thuộc về chàng và các hiệp sĩ của chàng, nếu chàng dám chấp
nhận chiến đấu dưới lá cờ của Chúa Kitô (x. 1 Cel 5; Đại Truyện[1]
1,3; Bnb 5).
b) Tại
Spôlêtô, Phanxicô nghe tiếng Chúa truyền lệnh cho chàng rời bỏ binh
nghiệp, trở về Assisi, để sẵn sàng theo Chúa, v́ Chúa cao trọng và giàu sang hơn
loài người (x. 2 Cel 6; Đại Truyện 1,3; Bnb 6).
c) Khi
trở lại Assisi, sau bữa tiệc linh đ́nh cuối cùng với bạn bè, Phanxicô
được ơn Chúa tác động mạnh mẽ trong ḷng, làm cho chàng trầm tư, đến nỗi bạn bè
chế riễu chàng rằng chàng đang mơ tới người vợ tương lai (x. 1 Cel 7;
Bnb 7).
3) Cuộc gặp
gỡ người cùi
Sau những gợi ư gián tiếp và xa xa của Chúa trong tiềm thức và ư
thức của Phanxicô, ơn Chúa sẽ biến đổi con người chàng
một cách rơ rệt và cụ thể hơn bằng những hành động và những trung gian hữu h́nh.
Sự kiện lịch sử quan trọng và nổi bật nhất đánh dấu cuộc
hoán cải của Phanxicô, chính là
cuộc gặp gỡ với người cùi, như ngài đă ghi lại trong Di chúc: “Chúa
đă dẫn tôi đến với người phung và tôi đă tỏ ḷng thương xót họ” (c. 2). Các
Truyện kư có kể rơ chi tiết: Phanxicô đă ôm hôn một người cùi dọc đường
(x. 1 Cel
17; Đại Truyện 1,5;
Bnb 11). Đây là một bước nhảy
vọt trong đức ái. Thật vậy, các Truyện kư cho ta biết rằng Phanxicô được
Chúa phú bẩm cho tính quảng đại và ḷng nhân ái. Nhưng sống theo tính quảng đại
bẩm sinh, th́ chỉ ở mức độ tầm thường của ḷng bác ái. Với cái hôn trao tặng một
người cùi, Phanxicô đă vượt từ mức bác ái tầm thường và thông thường qua mức
bác ái phi thường mang tính anh hùng, v́ ḷng mến Chúa. Đó là dấu chỉ lẫy
lừng nhất của ơn hoán cải đă làm cho
Phanxicô thắng vượt được xu hướng ích kỷ để đến với tha nhân, nhất là
những tha nhân nghèo khổ hơn cả, và là hiện thân ưu tiên của Chúa Kitô[2].
Chính hành động bác ái phi thường đó
đánh dấu một biến đổi sâu sắc trong tâm hồn và trong cảm giác của Phanxicô, đến
nỗi sau này thánh nhân có thể viết: “Điều đối với tôi trước kia là ghê tởm, đă
trở thành dịu ngọt cho tôi trong tâm hồn cũng như ngoài thể xác” (DC 3).
Sự dịu ngọt cho tâm hồn đó chắc chắn phát xuất từ Thiên Chúa, là Đấng có bản
chất là T́nh Yêu (1 Ga 4,16; Thư gửi các tín hữu bản II (TTh II),
c. 87).
4) Gặp gỡ Chúa Kitô chịa đóng đinh
Hành vi bác ái phi thường đối với người cùi đă đánh dấu một bước tiến quyết liệt
trong cuộc hoán cải của
Phanxicô: đem ngài trở lại trực tiếp với tha nhân, và gián tiếp
với Chúa Kitô đau khổ và khiêm hạ. Nhưng Chúa Thánh Thần c̣n tiếp tục tác động
để đẩy Phanxicô tiến xa hơn nữa: Phanxicô sẽ được gặp Chúa Kitô một cách gần
gũi, trực tiếp hơn.
a) Trong nơi cô tịch: Theo thánh
Bônaventura, Phanxicô, sau khi hôn người cùi, đă thích t́m vào nơi cô tịch để
cầu nguyện. Chính trong một lúc cầu nguyện như thế, ngài được thấy Chúa
Kitô-chịu-đóng-đinh hiện ra với ngài. Từ đó, h́nh ảnh Đấng chịu nạn được in
sâu vào ḷng ngài cho đến chết (Đại
Truyện 1,5).
b) Trong nhà thờ Thánh Đamianô: Cuộc
gặp gỡ này đă làm sáng tỏ sứ mệnh của Phanxicô là phải trùng tu Nhà
Chúa, nghĩa là cuối cùng, trùng tu Giáo hội (x.
2 Cel 11; 204; Đại Truyện
2,1; Bnb 13).
5) Gặp Chúa Kitô trong các linh mục và trong lời Phúc
Am
Mục đích của
hoán cải là để bước theo Chúa Kitô,
một Chúa Kitô nghèo khó, và hạ ḿnh phục vụ mọi người. Để biết và theo Chúa Kitô
cách chắc chắn, Phanxicô phải t́m gặp Người trong Giáo hôi, cụ thể hơn, trong
các bí tích (Bí tích Thánh Thể: Huấn ngôn 1), trong Lời Chúa
(DC 14-16), và trong các thừa tác viên có phận sự ban phát các bí
tích và hướng dẫn Dân Chúa (DC 8-9.13).
D.-Kết luận
Nh́n vào gương cha thánh
Phanxicô, chúng ta thấy rằng:
- Sự
hoán cải của ngài không phải là một hành động riêng rẽ và mau lẹ,
nhưng là cả một quá tŕnh.
- Ơn
hoán cải Chúa ban cho ngài không phải chỉ là một hiện sủng, nhưng
c̣n là một thường sủng.
- Việc ngài từ bỏ thế gian (DC
3) không phải chỉ là hành động rời bỏ cha mẹ,
anh em và bạn bè vui chơi trước đây, và từ bỏ của cải, danh vọng,
để bước vào một nếp sống mới. Nhưng ngài đă được Chúa dẫn đưa dần dà qua một quá
tŕnh gồm nhiều biến cố khác nhau, làm cho ngài thấm thía kinh nghiệm đời và
khám phá ra các khía cạnh phong phú của sứ mạng và của lư tưởng. Nh́n theo một
phương diện hữu h́nh nào đó, ngài đă rời bỏ thế gian, nhưng ngài vẫn hoạt động
trong thế gian, để cứu thế gian. Nhưng dù ở trong thế gian, ngài vẫn không thuộc
về thế gian (x. Ga 17,14-18), v́ đă từ khước tinh thần thế gian, và ngài vẫn
phải chiến đấu liên lỉ chống lại tinh thần ấy, bằng những cố gắng tích cực để
sống theo Phúc An. Chính ngài sẽ viết trong Bản Luật 1221 của Anh Em Hèn Mọn:
“Bây giờ, sau khi đă từ bỏ thế gian, chúng ta chỉ có một việc phải làm là tuân
theo thánh ư Chúa và làm đẹp ḷng Người” (Lksd 22,9).
II.- Quan niệm của cha thánh
Phanxicô về sự hoán
cải
A.- Cái nh́n
của Phanxicô về thân phận con người
1) Chương tŕnh tạo dựng
Con người được Thiên Chúa tạo dựng
cách rất cao quí: theo h́nh ảnh Con yêu dấu của Người (x. Hn 5,1).
2) Sự sa ngă
Nhưng con người đă sa ngă v́ tội
lỗi ḿnh. Tuy nh́n nhận có sự xúi giục của Satan (x. Hn 2,4), cha
thánh vẫn nhấn mạnh đến trách nhiệm của con người: chính xác thịt chủ
động chống lại Thiên Chúa (Hn 10).
3) T́nh trạng sa đọa
Sau khi phạm tội, loài người đă trở
thành nô lệ của tội lỗi (x. Ga 8,34) và ra khốn nạn (Lksd 22,6). Cha
thánh khẳng định: “Chúng ta hăy biết chắc chắn rằng chúng ta chỉ có nết xấu
và tội lỗi” (Lksd 17,8; x. Rm 7,18).
4) Ơn cứu độ
Con người bị nô lệ tội lỗi, không thể
làm được điều ǵ lành (x. Hn 8,2) và không thể tự giải thoát được (x. Rm
7,24). Bởi vậy cần có sự can thiệp của Thiên Chúa. Sự can thiệp đó đă xảy ra
trong việc Ngôi Lời nhập thể để mạc khải Chúa Cha (TTh II 4-5;
Hn 1; Lksd 23,5-6), và nhất là trong việc Người chết trên thập giá
để cứu chuộc chúng ta (Hn 6,1; TTh II 6-15; Lksd 23,6).
5) Tác dụng của ơn cứu độ
Chúa Kitô đă thực hiện việc cứu độ, để
giải thoát chúng ta khỏi ách thống trị của “luật sự tội và sự chết” (Rm 8,2) và
khỏi ách thống trị của “tinh thần xác thịt”. Nhưng sự cứu độ này c̣n phải được
Chúa Thánh Thần ứng dụng vào trong đời sống mỗi người.
Dựa theo Hn 8,1-2, cha thánh cho ta
hiểu: Chính Chúa Thánh Thần hoán cải
ḷng chúng ta bằng cách làm cho chúng ta tin vào Đức Giêsu là Chúa
cứu thế và làm cho chúng ta có khả năng làm sự lành và sống thánh thiện.
B.- Quan niệm của cha thánh
về sự hoán cải
1) Tại sao phải hoán cải?
Tại v́, sau khi Ađam nghe theo ma quỉ
xúi giục mà phạm tội bất tuân (x. Hn 2), th́ mọi người chỉ có nết xấu và
tội lỗi (x. Lksd 17,7), mọi người đều bị chi phối bởi “tinh thần xác
thịt” (x. Lksd 17,11-12), “coi phạm tội là điều êm dịu, c̣n phụng sự
Thiên Chúa th́ thật khó nhọc” (T ThII 69). Con người xác thịt đă trở nên
bất lực, đă không làm được điều ǵ lành (Hn 8,2), mà lại c̣n luôn luôn
chống nghịch với mọi điều lành (x. Hn 12,2). V́ có tinh thần xác thịt ngự
trị, nên cơi ḷng con người trở nên tối tăm và chai đá (Hn 1,14-15), từ
đó phát xuất ra mọi thứ tội lỗi và đam mê (T Th II 37.69) làm cho con
người thành nô lệ thế gian, xác thịt và ma quỉ (T Th II 65-66). Chính cơi
ḷng xấu xa đó phải thay đổi tận gốc rễ.
2) Nhờ đâu mà
hoán cải?
Câu trả lời
của cha thánh Phanxicô rất đơn giản: Nhờ sức mạnh của Tinh Thần Chúa, con
người mới có thể hoán cải được tâm hồn.
Do đó, thánh
nhân đă khuyên anh em: “Trên hết mọi sự, anh em phải ao ước được Tinh Thần Chúa
và tác động thánh của Người” (L 10,9), v́ chính Chúa Thánh Thần hoán cải
ḷng chúng ta, bằng cách thanh luyện, soi sáng và nung nấu nội tâm
chúng ta (x. Kinh “Lạy Thiên Chúa toàn năng vĩnh cửu” trong Thư gửi toàn Ḍng
(T TD) 50-52). Người giúp chúng ta từ bỏ tội lỗi và thế gian (x.
DC 1-3) để bước theo vết chân Đức Giêsu Kitô.
Cha thánh
gọicách tổng quát đời sống hoán cải đó của người Phan sinh là cuộc “bước đi
trong Thần Khí” (Lksd 5,4-5) hay là “phục tùng Thần Khí” (x.
Kinh “Kinh mừng các Nhân đức” (K Nđ), 15).
3) Ư nghĩa
phượng tự của hoán cải
Như vậy, theo
cha thánh Phanxicô, hoán cải là chế ngự xác thịt (x. Lksd 17,14) để bắt
thân xác vâng lời Thần Khí và vâng lời anh em (x. K Nđ 15). Và v́ cần có
Thần Khí giúp ta trong việc này, nên cha thánh khuyên chúng ta phải ước ao,
nghĩa là cầu nguyện, cho có được Tinh Thần Chúa và tác động thánh của
Người (L 10,9; x. Lc 11,13). Liền trước và sau lời khuyên trọng tâm đó
của Luật Ḍng Anh Em Hèn Mọn, cha thánh đề cập đến hai khía cạnh của đời sống
hoán cải:
- Khía cạnh
tiêu cực: “Anh em hẵy tránh mọi h́nh thức kiêu ngạo, huênh hoang, ganh tị, tham
lam, bận tâm và lo lắng việc đời, nói xấu và cằn nhằn” (L 10,7). Đó là
khổ chế, tự chế và từ bỏ trong đời sống hoán cải: Phải từ bỏ tất cả mọi trở ngại
cho suy tư và hành động mới:
* thế gian
(gia đ́nh, danh vọng: mộng hiệp sĩ. . .),
*
tội lỗi, đam mê dục vọng (x. Hn 5,3),
* nhất là ư riêng (x. Hn 2).
- Khía cạnh tích cực: Nhờ
tác động thánh của Thần Linh Chúa, anh em sẽ cầu nguyện cùng Chúa luôn luôn với
tâm hồn trong sạch”, sẽ có ḷng “khiêm nhường, nhẫn nhục trong khi bị bách hại
và đau ốm”, sẽ “yêu mến những kẻ bách hại, khiển trách và buộc tội”
anh em (L 10,9-10).
Tóm lại, chương tŕnh hành
động cụ thể của đời
sống hoán cải gồm hai việc chính:
(1) chế ngự xác thịt,
(2) và cầu nguyện cho được Tinh Thần Chúa.
Trong Luật Ḍng cũng như trong chính đời sống của ngài, cha thánh Phanxicô đă kết
hợp hài ḥa hai mặt ấy lại với nhau thành như việc phượng tự mà người
Phan sinh phải dâng lên Thiên Chúa (x. L 3; Lksd 3). Thật vậy, phượng
tự ki-tô giáo không phải chỉ có cầu nguyện, nhưng gồm mọi sinh hoạt của con người,
với linh hồn và thân xác trong sự duy nhất của ngôi vị, khi các sinh hoạt đó xảy
ra dưới tác động của Tinh Thần Chúa. Do đó, thân xác phải ăn khớp hài ḥa với
linh hồn trong quyết tâm hoán cải, nghĩa là toàn diện con người phải vâng lời Thần
Linh Chúa.
Thánh Phaolô cũng hiểu phượng tự theo nghĩa bao quát đó khi ngài khuyên: “Anh em
hăy dâng hiến thân ḿnh anh em làm lễ tế sống động, thánh thiện, đẹp ḷng Thiên
Chúa. Đó là sự thờ phượng thiêng liêng của anh em” (Rm 12,1).
Để
trở nên hy tế thiêng liêng, than xác chúng ta phải qua lửa thanh luyện của
khổ chế, gồm những việc ăn chay, hăm ḿnh, nhằm làm cho con người chúng ta
trở nên thuấn thục, dễ dạy đối với tác động của Thần Khí, thấm nhuần và chan ḥa
Tinh Thần Chúa, đến nỗi chính thân xác chúng ta thực sự trở nên “đền thờ của
Chúa Thánh Thần” (1 Cr 6,19-20).
C.-
Kết luận
Sống hoán cải như thế, người Phan sinh sẽ đi đến chỗ yêu Chúa trên hết mọi
sự, nhận Chúa làm nguồn hạnh phúc độc nhất của ḿnh. Cứ xem các Kinh mà thánh
Phanxicô đă dùng, th́ ta thấy thật sự đă nhận Chúa làm nguồn hạnh phúc duy nhất:
Kinh Tung hô đọc vào mọi Giờ Kinh; Lời mời gọi ngợi khen Thiên Chúa;
nhất là Kinh Ngợi khen Thiên Chúa tối cao. Cũng v́ thế, truyền thống dân
gian đă gán cho ngài một lời kinh rất đẹp: “Lạy Thiên Chúa, xin thu hút ḷng
con” (Absorbeat):
Lạy Chúa,
xin thu hút ḷng con
khỏi đam mê mọi sự trên đời,
thu hút bằng t́nh yêu nóng bỏng
và ngọt ngào của Chúa,
để con chết v́ say mê mối t́nh của Chúa,
như chính Chúa đă vui ḷng chết
v́ say mê mối t́nh của con.
Chúng ta ghi nhận là Phanxicô sống hết sức khổ hạnh với ḿnh, nhưng lại rất mềm
giẻo với anh em: ngài đă ân cần khuyến cáo thánh Clara và các bạn đầu tiên của
ḿnh không được thái quá trong việc hành xác (2 Cel 21, 22). Ngài thường
xuyên dạy anh em phải cung ứng đầy đủ nhu cầu thể xác, sao cho nó khỏi viện cớ để
nổi loạn hay bất măn. C̣n ngài, ngài đă lao ḿnh vào cuộc chiến với bản thân bằng
một ư chí quyết liệt, đến nỗi vào cuối đời, ngài cảm thấy cần phải xin lỗi “Anh
Lừa” (thể xác) v́ đă quá mạnh tay với anh. Anh Tôma Xêlanô ghi nhận đây là trường
hợp duy nhất mà “hành động và lời nói của cha thánh đă không ăn khớp với nhau” (2
Cel 129).
Qua
cuộc sống đền tội bên trong lẫn bên ngoài, Phanxicô đă thực thi hầu như trọn vẹn
những yêu sách của “các Mối Phúc chí ái” chính ngài đă công bố theo sau Phúc Am
(x. Hn 13,26.28), ngài đă dâng hiến mạng sống ḿnh để cứu độ các tội nhân,
là đối tượng vẫn làm cho ngài phải băn khoăn thao thức. Kết quả là thánh nhân đă
khắc phục được bản thân và thực hiện được một sự duy nhất nội tâm tuyệt hảo (E.
Longpré).
FX Long, ofm
Áo Nâu, Anh thân yêu
Năm 1998, em có theo
con em đi vùng sâu vùng xa trong chiến dịch “Mùa
Hè Xanh”
của các sinh viên. Khi đến nơi, vốn là “mít ướt”, em khóc hết nước mắt: Một vùng
tối tăm đ́u hiu không điện không nước; con người ở đây trông ốm gầy, lem luốc
làm sao! Trẻ em và cả người lớn đa số đều không biết chữ. Em đă cùng với các
con giúp họ học chữ; cầm tay họ nắn nót vẽ những đường thẳng đường cong để hiện
h́nh những kư tự i, t, rồi o, a...
Ngoài các công việc ấy, sinh viên c̣n mang theo lương thực khô và
thuốc thông dụng hằng ngày để cứu trợ bà con.
Khi đă hết thời gian để trở về, em lại gặp một cụ bà tâm sự: Bà sinh
được 4 người con, chồng mất sớm, bà tần tảo nuôi con trong cảnh nghèo khổ, rồi
cũng dựng vợ gả chồng cho cả 4; tuy đám cưới sơ sài, bà để lại cho con chỉ là
vài món lặt vặt ai cũng có thể kiếm được. Thế rồi đến hôm nay cụ đă già, bệnh
hoạn, chẳng có người con nào nh́n bà cụ cả, chúng lư luận rằng hồi đó cưới hỏi,
bà chẳng cho ǵ cả...
Cuộc đời trớ trêu! Nghe xong, em run cả người. Trong lúc xúc động,
phản ứng tự nhiên, điều em suy nghĩ đầu tiên chỉ là làm ǵ đó để an ủi cụ bà.
Thế là em vội vàng nhận cụ bà làm mẹ nuôi. Bông nảy ra trong em một mơ ước là
mọi người sẽ có trách nhiệm đối với người thân và đồng loại! Em thầm hứa sẽ cố
gắng bù đắp cho cụ bà phần nào những thiếu hụt do hành vi của các người con bất
hiếu của bà.
Niềm vui “cho đi” vừa mới kịp tới, th́ cũng lúc ấy em cảm thấy lo
âu: Bà theo chân em về nhà, trong ḷng em h́nh dung ra được những khó khăn của
bài toán, nào chồng nào con, nào kinh tế! Làm sao t́m cho ra đáp án? Nhưng trong
ḷng vẫn thương cụ bà, và với niềm trông cậy vào sự an bài của Chúa, nên đi th́
cứ đi. May mắn thay, về tới Saigon, em lại gặp một Sơ Nữ Tử Bác Ái mà em được
quen từ thời c̣n đi học. Sơ đă sẵn sàng nhận đưa cụ bà vào viện dưỡng lăo: Chúa
đă an bài và tiếp sức!
Thế rồi từ đó, trong hoàn cảnh kinh tế ngày càng suy sụp, nhu cầu
chi tiêu ngày càng đ̣i hỏi cấp bách hơn, cuộc sống đè nặng trên vai một người
mẹ, một người vợ, một người tông đồ... và rồi em quyên bẵng không bao giờ nghĩ
đến cụ bà nữa. Tuy nhiên lời ước mơ thời ấy th́ vẫn vang vẳng trong tâm tư...
Mới đây, em gặp lại bà Sơ đă từng giúp cụ bà, thông tin cho em hay
biết rằng cụ bà đă nhập Giáo Hội, sau đó đă từ trần trong b́nh an. Vấn nạn và
cũng là mơ ước của em thời ấy lại sống dậy mănh liệt hơn trong em. Tại sao có
nhiều người giàu có, chi tiêu phung phí, mà không chút mảy may thương những
người đói nghèo đơn côi. Tại sao bên cạnh cái gọi là kinh tế tăng trưởng vượt
bực, bên cạnh cái gọi là tiến bộ trong việc xoá đói giảm nghèo lại c̣n vô số
những người bị bỏ rơi! Tại sao có bao nhiêu sân gôn, bao nhiêu khách sạn 5 sao,
siêu sao, bao nhiêu khu nhà lầu cao sân rộng, bao hiêu là khu gia cư, bao nhiêu
biệt thự tư nhân giá lên đến một vài tỉ đồng, mà vẫn nhan nhản những người ḅ lê
lết giữa đường, kiếm chút không gian của cuộc sống. Tại sao có những bữa tiệc mà
khẩu phần lên tới hàng triệu đồng, trong khi chỉ một vài ngàn đồng thôi là giúp
cho một em bé có một mẩu niềm vui! Tại sao có hàng ngàn hàng vạn những ngôi nhà
t́nh thương, mái ấm t́nh thương, mà vẫn c̣n những em bé không ai nh́n nhận, lang
thang đây đó, như những sinh vật lạ lùng ngoài hành tinh để ngơ ngác nh́n người
qua lại! Tại sao c̣n những con người lợi dụng những bệnh nhân, lợi dụng những em
bé tật nguyền để làm tiền trên ḷng thương xót của tha nhân ! Rêu rao làm ǵ
những thành quả của con người gian dối, để rồi sự thật vẫn bị nhốt vào bóng tối
tử thần...
Nhớ về cuộc đời Cha Thánh Phanxicô, khi đang sống trong nhung lụa,
đang sống như hoàng tử, như “Anh Đại” của cả một đám bạn bè, Ngài lại từ bỏ để
t́m cái nghèo, NGHÈO thánh thiêng, t́m BÀ CHÚA NGHÈO, sẵn sàng đến cùng chung
chia cuộc sống với đám người ăn mày, nhận một người ăn xin làm cha nuôi, trong
khi đó th́ những con cái Ngài, những người đă khấn hứa, những người quyết tâm
theo cách thức của Ngài để bước theo vết chân Con Chúa lại lo t́m tiền tài danh
vọng, bỏ qua nhiều cơ hội thực thi t́nh yêu thương.
Anh ạ. Những ai có lương tâm, những ai là con người nhân bản th́ ai
cũng có mơ ước ấy, Nhưng mơ ước ấy có đạt được hay không?
Agnès
Kim Gương

Lúc 10 giờ 10 sáng ngày 22 tháng 02, 2009, giáo
hội Công Giáo toàn cầu “đă mất” một vị Hồng Y trung thành và thánh thiện, giáo
hội Việt Nam đă mất một vị “cha già” nhân từ và khả kính, riêng những anh chị
Phan Sinh Tại Thế Việt Nam cũng phải chia tay với người “anh rất kính ái của
ḿnh” là Đức Cố Hồng Y Phaolô Giuse Phạm Đ́nh Tụng, SFO.
Thật vậy, theo lời của linh mục FX Vũ Phan Long,
OFM cho biết: “Trong những dịp gặp ĐHY Phạm Đ́nh Tụng tại Hà Nội, khi tôi ra
đó dạy cho Đại Chủng Viện, ĐHY cũng tự nhận ḿnh là "người của nhà Ḍng",
v́ ngài là một thành viên trong Ḍng Phan Sinh Tại Thế; nhưng tôi chẳng c̣n nhớ
là ngài đă gia nhập Ḍng Ba từ khi nào.” Ngoài ra, trong quyển "Tỉnh Ḍng
Anh Em Hèn Mọn Việt Nam - Lược Khảo Lịch Sử" (Tập 3), khi đề cập đến Huynh
đệ đoàn Phan Sinh Tại Thế Thánh Antôn xứ Hàm Long, Hà Nội, ở trang 131, cha
Antôn Maria Trần Phổ, OFM, viết như sau: "Đặc điểm của đoàn là có các linh
mục cũng là Ḍng Ba hướng dẫn. Sau khi cha Trịnh Như Khuê, SFO được thăng Tổng
Giám mục Hà Nội và sau đó vinh thăng Hồng Y, cha Phạm Đ́nh Tụng cũng là
Ḍng Ba, (tức Ḍng Phan Sinh Tại Thế) thay thế ngài hướng dẫn cho
đoàn. Cha Phạm Đ́nh Tụng sau cũng được vinh thăng Giám Mục giáo phận Bắc
Ninh, sau này được vinh thăng Tổng Gíam mục Hà Nội và Hồng Y." Thật vậy,
tuy là một linh mục, giám mục, tổng giám mục, và sau này là hồng y, nhưng ngài
vẫn luôn nh́n nhận ḿnh là một thành phần trong Ḍng Phan Sinh Tại Thế, ngài đă
sống, và phục vụ như một người Phan Sinh Tại Thế đích thật.
Giờ đây, khi đọc đến những ḍng chữ này, và với
niềm tin tưởng vào Chúa Kitô Phục Sinh, và trong tinh thần huynh đệ Phan Sinh,
chúng ta vui mừng cảm tạ Thiên Chúa Từ Nhân đă thương nhận linh hồn Phaolô Giuse
trở về với Ngài, và cùng tin tưởng rằng “người anh Hồng Y” ấy đang cầu nguyện
cho hội ḍng của chúng ta cách đặc biệt như xưa kia ngài đă d́u dắt những người
Phan Sinh Tại Thế ở Hàm Long, Hà Nội, Việt Nam qua mọi biến cố của xă hội trong
thời đại của ngài.
Thật là một vinh dự cho hội ḍng của chúng ta khi
có một “người anh trong ḍng” như Đức Hồng Y Phạm Định Tụng, SFO; giờ đây chúng
ta cùng hiệp ư cầu nguyện cho ngài: Chúng con cậy v́ Danh Chúa Nhân Từ, cho linh
hồn Phaolô Giuse được lên chốn nghỉ ngơi, hằng xem thấy mặt Đức Chúa Trời Sáng
Lán vui vẻ vô cùng. Amen
BBT
Chúng tôi là hàng xóm của nhau đă gần 40 năm, chị lớn hơn tôi vài
tuổi, và trong cái nh́n của mọi người th́ chị không có ǵ gọi là, nhưng tôi lại
thấy ưu điểm của chị rất lớn: hiền hậu, cần mẫn, vâng phục, chăm lo gia đ́nh vẹn
tṛn, với họ đạo chị luôn chu toàn bổn phận, và trong huynh đệ đoàn, dù chị là
người đi trước, là bậc hiền tỷ của tôi nhưng chị luôn vâng phục dù tôi c̣n rất
nhiều điều thiếu sót…
Thuở ấy chị là huynh trưởng và tôi là thiếu nhi; chị bên ca đoàn
giới trẻ th́ tôi ở ca đoàn thiếu nhi. Khi đủ tuổi bước vào giới trẻ, tôi và chị
cùng ngồi chung một ca đoàn. Khi tôi là Người Phục Vụ giới trẻ th́ chị làm việc
trong hội đồng giáo xứ, ngày chị tập làm người Phan Sinh, tôi đứng ở hàng ghế
giáo dân để cầu nguyện cho chị, năm năm sau, hai chị em cùng đồng hành theo Đấng
Áo Nâu. Mười lăm năm sau hai chị em đồng Vĩnh Khấn, thề hứa sẽ tuân giữ Lời Chúa
theo tinh thần Phan Sinh đến trọn đời.
Cuộc sống có nhiều thay đổi và có lắm điều nghĩ suy, họ đạo lại có
quá nhiều sóng gió và giông băo làm cho những mối hận thù, ganh tỵ dấy lên mạnh
mẽ trong ḷng con người làm cho huynh đệ đoàn tan ră… Khi huynh đệ đoàn tái sum
họp th́ chị lại v́ cơm áo gạo tiền mà phải đi làm xa lắc xa lơ thỉnh thoảng mới
được về thăm nhà, đôi khi chị em được gặp nhau nơi nhà thờ, tặng nhau nụ cười,
cho nhau dăm lời thăm hỏi, tặng nhau chút thân t́nh, những lúc như vậy, tôi cảm
thấy rất b́nh thường; Và cứ thế, thời gian cứ b́nh thản trôi qua…
Một hôm nọ, tôi được tin chị bị bệnh hiểm nghèo ở giai đoạn cuối,
hơi ngỡ ngàng v́ từ xưa tới giờ chị là người rất khỏe mạnh. Ḷng bối rối, tôi
vội vả đến thăm chị, người thân của chị cho biết chị bị bệnh đúng như những ǵ
tôi đă nghe; nỗi buồn đau bỗng đâu ùa tới vây kín tâm trí, thương chị đến se sắt
ḷng…
Gia đ́nh chị rất đơn chiếc nên tôi thường xuyên tới lui thăm viếng,
phụ giúp lặt vặt cho chị, nh́n chị mỗi ngày một héo hon, tàn tạ ḷng tôi đau
buốt. Điều đặc biệt là trong khi mọi người thân chuẩn bị tinh thần để lo hậu sự
cho chị th́ cứ vô tư như thiên thần, chị không hề bận tâm đến phút vĩnh biệt
gian trần đă cận kề; chị cứ mong cho mau hết bệnh để trở lại phục vụ họ đạo,
phục vụ những người mà chị yêu mến.
Ngày 11 tháng 2 vừa qua, tôi nhắc chị kính nhớ ngày lễ ḱnh Đức Mẹ
Lộ Đức, tôi vừa dứt lời th́ chị cất giọng hát: “Lạy Mẹ Maria Mẹ Thiên Chúa, Mẹ
đồng trinh…” tôi vỗ tay nhè nhẹ, nhịp nhàng theo lời hát của chị và cùng hát với
chị, nhưng chỉ hát được vài chữ th́ cổ họng của tôi nghẹn cứng, mắt tôi nḥa lệ,
tôi cố gắng để không bật thành tiếng trước mặt chị… ba ngày sau chị nhẹ nhàng
thanh thản trút hơi thở cuối cùng mà về với Chúa.
Những ngày lo hậu sự cho chị, ḷng tôi rối bời, đầu óc trống rỗng,
quên trước, quên sau, tâm trí như bị phân tán và mắt tôi th́ ráo hoảnh, tôi
không biết tại sao như vậy; Nhưng ngày tiễn chị về nơi an nghĩ, dù cố gắng hết
sức để giữ thái độ b́nh thường trước mọi người nhưng tâm trí tôi lại bị xao
động, tâm hồn tôi như mặt nước bị sóng ngầm chực hờ nổi dậy. Khi cách cửa ḷ hỏa
táng khép lại, mọi người quay lưng ra về, c̣n lại một ḿnh, bất chợt tôi bật
khóc như trẻ thơ bị mẹ đánh, khóc không ḱm được… Ừ! Bây giờ tôi mới hiểu lư do
tại sao tôi cứ bối rối, bồi hồi, ḷng dạ nặng nề, xốn xang. Th́ ra trái tim tôi
đang bị thương tích v́ sự ra đi của chị, tinh thần tôi hụt hẫng v́ mất chị, mấy
mươi năm nghĩa t́nh huynh đệ Phan Sinh giờ như trôi tuột vào cơi hư vô, nỗi
thương đau níu kéo trong tâm hồn làm ḷng tôi da diết.
Ai cũng có một thời để sống, để yêu, để nhớ thương, để hy sinh, và
để chết; Vậy, những ai đang sống, xin hăy sống cho trọn vẹn những giây phút hiện
tại; Hăy làm, hăy nói, hăy phục vụ, hăy yêu thương bằng hết con tim. Hôm nay c̣n
gặp được nhau là niềm hạnh phúc, hăy tôn trọng nhau, hăy cho nhau những chân
t́nh thương mến, hăy trao tặng nhau niềm vui, tiếng cười, hăy nghĩ tốt cho nhau
để khi chia ĺa ta không hối tiếc, ray rức và để lại những h́nh ảnh đẹp về nhau
măi măi. Vâng! cuộc sống ở cơi đời tạm này rất ngắn ngủi; nếu hôm nay chúng ta
không thể yêu mến nhau th́ ngày mai nơi Vương Quốc T́nh Yêu làm sao chúng ta có
thể nh́n mặt nhau và sống chung với nhau đến muôn đời được nhỉ?
Mùa Chay 2009
T.MK
Khi màu tím phủ ngập trong nhà thờ, những Bài Đọc, những bài thánh
ca như thúc giục, gọi mời mọi người hăy hoán cải, th́ người Kitô Hữu nào cũng
biết đă vào mùa Chay, mùa sám hối, mùa kiểm điểm lại con người của ḿnh, mùa cố
gắng canh tân tinh thần để đời sống hoàn thiện hơn trước mặt Thiên Chúa… th́
trong tôi lại thoáng chút bâng khuâng nhớ lại kỷ niệm của một thời xưa cũ.
Thuở ấy tôi c̣n quá trẻ, chỉ thích sôi nổi, ồn ào, vui nhộn, cả ngày
chỉ thích đạp xe long ngong ngoài phố, nói chuyện phím với bạn bè mỗi khi rănh
rỗi hơn là ngồi một ḿnh trầm lắng để nghĩ suy chuyện ḿnh và chuyện người; lại
càng ngại ngùng hơn khi phải ngồi yên một chổ để suy niệm Lời Chúa cho tâm hồn
được lớn lên.
Sáng chủ nhật thứ nhất Mùa Chay, tan lễ nhất, cả bọn chúng tôi, đứa
trốn dạy giáo lư, đứa trốn giữ xe, giữ trật tự, đứa nghĩ hát lễ nh́, rủ nhau ra
bờ sông ăn sáng và tán gẫu. Quê tôi có nhiều gịng sông, mỗi gịng sông một vẻ
nhưng cùng chung một con nước lớn ṛng, cùng chuyên chở bao người, bao đ̣ ghe
xuôi ngược ngày đêm, cùng mang phù sa phủ khắp bụi bờ mỗi khi mùa lũ về. Ngồi
bên bờ sông với bạn bè để ngắm sông, hóng mát là một niềm vui, hạnh phúc của
chúng tôi.
Buổi sớm, mặt trời đă lên cao nhưng ánh nắng vẫn cố t́nh lẫn trốn
sau những áng mây làm bầu trời thật dễ thương, không khí thật lành mạnh, gió
sông thổi vào lồng lộng mát rượi thật dễ chịu làm cả bọn khoái chí, vừa đạp xe
vừa râm ran bàn tính “kế hoạch” cho buổi sáng. Khi đến nơi cả bọn tiu nghĩu v́
địa điểm của chúng tôi chọn đă bị nhóm người khác “xí” mất rồi! Nhưng cũng may
là nhóm người đó không lạ lắm, họ là những người ở họ đạo gần bên, chúng tôi
nhanh chóng làm thân và thế là ai cũng vui v́ có thêm bạn; T́nh yêu của tôi cũng
bắt đầu từ đó!
Sau buổi gặp gỡ của ngày hôm ấy, tôi có những buổi dạo phố riêng,
những lần ngắm sông riêng với người bạn mới quen, và theo thời gian, ngắm sông
đă trở thành những giờ phút riêng tư rât vui, rất thiêng liêng, rất quư giá của
chúng tôi, và cũng như bao người khác, chúng tôi cũng sắp đặt cho ḿnh một tương
lai…
Một hôm, ngồi bên bờ sông, anh nói với tôi: “Anh muốn trở thành một
linh mục, hăy cầu nguyện cho anh”, tôi bàng hoàng, ngẩn ngơ trước ư muốn của
anh, và tôi chỉ biết im lặng.
Rồi một sáng, cũng bên bờ sông ấy, tôi nói lời tạm biệt anh; Tuy
miệng nói lời tạm biệt nhưng trong ḷng tôi th́ thầm hai tiếng vĩnh biệt, vĩnh
biệt một t́nh yêu. Ngày anh đi, tôi tiễn anh đến cổng Ṭa Giám Mục, chúng tôi
chào nhau bằng cái nh́n sâu thẳm, tôi hiểu cái nh́n của anh muốn nói ǵ với tôi,
và chúng tôi chia tay. Anh quay lưng bước nhanh qua cánh cửa sắt lạnh lùng để
bắt đầu một cuộc đời chiêm niệm; Tôi lặng lẽ quay lưng, đạp xe về giữa ḷng đời
xuôi ngược, ḷng th́ thầm mong anh được b́nh an sống trọn với đời tận hiến.
Chuyện đă qua lâu lắm rồi, người bạn ấy giờ đây đă là một linh mục
chững chạc với mái tóc đă điểm sương và đang phục vụ ở một nơi xa lắc lơ nào đó
mà tôi cũng chẳng biết và tuy ít liên lạc với nhau nhưng chúng tôi vẫn luôn cầu
nguyện cho nhau biết sống sao cho trọn ơn gọi và lư tưởng mà mỗi người đă chọn.
Có người biết chuyện đă cho rằng tôi thật can đảm và cao thượng;
Không đâu! Tôi không can đảm như mọi người nghĩ. Để nói lên tiếng “xin vâng” với
anh, tôi đă phải cầu nguyện liên lỉ, phải chiến đấu quyết liệt với bản thân, đă
khóc thật nhiều cho cuộc t́nh không đoạn kết của ḿnh, đă chịu nhiều vằn vặt của
bản thân, cấu xé của trái tim. Tôi nghĩ rằng, khi anh chọn đời tu tŕ là anh đă
t́m được hạnh phúc mới, hạnh phúc thật, một hạnh phúc mà không bao giờ bị tan vỡ
hay mất đi, bởi hạnh phúc ấy là chính Thiên Chúa ban tặng, Thiên Chúa quá yêu
anh, Người ưu ái chọn anh vào hàng Dân Riêng của Người, và Giáo Hội sẽ có thêm
một thợ gặt tài đức, khôn ngoan, nhiệt thành tiến vào cánh đồng nhân loại.
C̣n tôi, khi yêu là phải làm cho người ḿnh yêu được hạnh phúc; hay
nói khác đi, hạnh phúc của người ḿnh yêu chính là hạnh phúc của riêng ḿnh. Và
cho dù tôi có yêu mănh liệt hay tha thiết đến sâu thẳm đến đâu đi nữa, th́ trong
cuộc t́nh ấy phải có sự tự do, và có sự tôn trọng nhau, bởi v́ ai cũng cần một
khoảng trời riêng tư cho ḿnh. Đ̣i hỏi, ép buộc hay ra lệnh th́ không thể gọi là
t́nh yêu v́ như Thiên Chúa là Đấng rất mực yêu thương chúng ta nhưng Người vẫn
tôn trọng chúng ta, Người cho chúng ta được tự do từ chối hay đón nhận ơn Người.
Nhiều năm đă qua, bao Mùa Chay đă đến rồi đi như thời gian đă cuốn
trôi thật xa những vùng kỷ niệm; ḷng người, t́nh người đă về những đâu đâu,
nhưng gịng sông quê tôi vẫn hiền ḥa xuôi chảy, hiền ḥa như tấm ḷng của Chúa
dành cho con người. Sông có khi vơi có khi đầy, nhưng t́nh yêu Thiên Chúa không
bao giờ cạn; Tôi và anh mỗi người có một con đường, nhưng chúng tôi đang bước đi
trong hạnh phúc, hạnh phúc trong t́nh yêu Thiên Chúa T́nh Yêu.
TCT
|
|