Mọi thư từ liên lạc, xin gửi về PSTTVNUSA@YAHOO.COM. Copyright © 2002 WWW.PSTTVNUSA.NET. All rights reserved.
 

NỘI DUNG HÀNG THÁNG (03-2008)

NGUYỆN CẦU CHO GIÁO HỘI

VÀ QUÊ HƯƠNG VIỆT NAM

 
Trong Số Này:
TÂM SỰ HẰNG THÁNG
 

Cánh Đồng Truyền Giáo

HỌC HỎI LỜI CHÚA
 

Ánh Sáng Cho Người Mù

LINH ĐẠO PHAN SINH
  Dòng Nhất Giúp Tinh Thần
GIÁO LƯ TÓM LƯỢC
  Bài 51: Thập Giới: Giới Răn 1 (phần II) và Giới Răn II (Xh 20,4-7)
LỜI KINH MỖI THÁNG
  Xin Hãy Chọn Con
HÔN NHÂN GIA Đ̀NH
  Giáo Huấn 5: Gia Đình, Tổ Ấm Của Giới Trẻ -- Giáo Huấn 6: Bầu Khí Tinh Thần
NHỮNG BÀI ĐỌC THÊM
   
CẦU NGUYỆN CHO NHAU
   
THÔNG BÁO TIN TỨC
   

 
 

Cánh Đồng Truyền Giáo

Thưa quí anh chị,

Nghề Nông là một nghề vất vả vô cùng. Nếu ai đã từng là nhà nông sẽ dễ dàng cảm nhận câu nói: "Một Nắng, Hai Sương."

Để có một mùa lúa bội thu, người nông dân phải tính thời gian, xem thời tiết, cân nhắc tiền của, cày bừa kỹ càng, chọn giống thật tốt, gieo hạt đúng ngày. Khi hạt giống tung gieo thì cũng là lúc nước mắt và mồ hôi bắt đầu nhỏ xuống nương đồng. Khi hạt lúa nảy mầm thì những lo toan, vất vả sẽ cùng lớn lên theo từng tháng ngày. Dù nắng đổ, mưa sa, bảo táp hay nước lũ dâng tràn thì người làm ruộng cũng không bao giờ được nghỉ ngơi hay chùng bước…

Nhưng sẽ hân hoan khi tay ôm những bó lúa vàng trĩu hạt. Sẽ vui mừng khi nhìn thấy những bồ lúa đầy tràn. Sẽ hạnh phúc khi được tận hưởng hương vị thơm ngon, dẽo ngọt của những hạt cơm trắng muốt. Sẽ mĩm cười mãn nguyện khi hạt gạo do chính công sức của mình vun trồng để nuôi sống anh em. Sẽ cảm tạ ơn Chúa vì công sức của mình đổ ra được đền bù cân xứng…

Chúa Giêsu là một "Nhà Nông" đầy quyền năng và tuyệt vời trên cánh đồng nhân loại. Người nhìn thấu suốt từng giây phút của dòng thời gian. Nắm rõ tứ thời bát tiết, biết chính xác từng giọt nắng, hạt mưa rớt rơi trong tâm hồn của mỗi người. Nhưng Người không dùng quyền năng để canh tác; cũng không thu hoa lợi cho riêng mình. Người kêu gọi các môn đệ cùng cộng tác với Người, cùng vun xới tâm hồn tha nhân bằng lời cầu nguyện, bằng những hy sinh cho mỗi tâm hồn. Người đã lặn lội tìm kiếm những tâm hồn hoang vắng, chết chóc, những tâm hồn khô cằn để gieo Lời Hằng Sống, để tưới Mưa Hồng Ân, và mang sức nóng tình yêu sưởi ấm cho những trái tim lạnh giá. Và hơn thế nữa, "Bác Nông Dân" này đã chấp nhận cái chết để thân xác chí thánh biến thành một loại "phân bón vĩnh cữu", hoà tan vào cánh đồng nhân loại để cho tình yêu ấy đơm hoa qua sự Phục Sinh vinh quang vĩnh cữu cho toàn nhân loại được hưởng nhờ.

Hơn hai ngàn năm qua, cánh đồng vẫn mọc lên những cây lúa xanh mướt màu thương yêu, và hy sinh; những hạt Tin Mừng vàng óng lấp lánh đẹp ngời tình yêu Chúa… nhưng, thợ gặt thì ít quá… Chúa Giêsu đã một đời lao nhọc. Đã lặn lội hết cánh đồng này đến cánh đồng khác để vun trồng, cày cấy, luôn thiết tha kêu gọi chúng ta hãy cộng tác với Người vì: "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về." ( Lc 10, 2 )

Hôm nay, đứng trước cánh đồng truyền giáo với mùa lúa đã chính vàng, chúng ta không phải lao nhọc, vất vả như Chúa, chúng ta chỉ có bổn phận đi gặt hái, thu lượm kết quả mà Chúa đã cực khổ vun trồng.

Chúng ta có coi lời mời gọi đó là một mệnh lệnh xuất phát từ tình yêu chứ không bằng uy quyền không? Một mệnh lệnh mà nếu chúng ta trung tín thi hành thì chúng ta sẽ được phần thưởng trên cõi vĩnh hằng.

Hãy đáp lại lời kêu gọi của Chúa. Hãy là một thợ gặt thành tâm bằng cách: cho nhau tình thương, cho nhau nụ cười, xoá tan hận thù, hợp tác với nhau trong việc xây dựng cộng đoàn, xây dựng giáo hội trong vai trò, trong vị trí của mình như Thánh Ý Chúa đã thương ban… Được như thế đó; là đã trở thành người thợ gặt thật sự đúng như thánh ý Chúa mong muốn cho những người được kêu mời từ ngàn xưa...

 BBT

 

Trở về mục lục >>

 

Ánh Sáng Cho Người Mù

(Gioan 9,1-41 – CN IV MC - A)


1Đi ngang qua, Đức Giê-su nhìn thấy một người mù từ thuở mới sinh. 2Các môn
đệ hỏi Người: "Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta?" 3Đức Giê-su trả lời: "Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như vậy là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh. 4Chúng ta phải thực hiện công trình của Đấng đã sai Thầy, khi trời còn sáng; đêm đến, không ai có thể làm việc được. 5Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian." 6Nói xong, Đức Giê-su nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, 7rồi bảo anh ta: "Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa" (Si-lô-ác có nghĩa là: người được sai phái). Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được. 8Các người láng giềng và những kẻ trước kia thường thấy anh ta ăn xin mới nói: "Hắn không phải là người vẫn ngồi ăn xin đó sao?" 9Có người nói: "Chính hắn đó!" Kẻ khác lại rằng: "Không phải đâu! Nhưng là một đứa nào giống hắn đó thôi! Còn anh ta thì quả quyết: "Chính tôi đây!" 10Người ta liền hỏi anh: "Vậy, làm sao mắt anh lại mở ra được như thế?" 11Anh ta trả lời: "Người tên là Giê-su đã trộn một chút bùn, xức vào mắt tôi, rồi bảo: "Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa. Tôi đã đi, đã rửa và tôi nhìn thấy." 12Họ lại hỏi anh: "Ông ấy ở đâu?" Anh ta đáp: "Tôi không biết." 13Họ dẫn kẻ trước đây bị mù đến với những người Pha-ri-sêu. 14Nhưng ngày Đức Giê-su trộn chút bùn và làm cho mắt anh ta mở ra lại là ngày sa-bát. 15Vậy, các người Pha-ri-sêu hỏi thêm một lần nữa làm sao anh nhìn thấy được. Anh trả lời: "Ông ấy lấy bùn thoa vào mắt tôi, tôi rửa và tôi nhìn thấy." 16Trong nhóm Pha-ri-sêu, người thì nói: "Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày sa-bát"; kẻ thì bảo: "Một người tội lỗi sao có thể làm được những dấu lạ như vậy?" Thế là họ đâm ra chia rẽ. 17Họ lại hỏi người mù: "Còn anh, anh nghĩ gì về người đã mở mắt cho anh?" Anh đáp: "Người là một vị ngôn sứ!" 18Người Do-thái không tin là trước đây anh bị mù mà nay nhìn thấy được, nên đã gọi cha mẹ anh ta đến. 19Họ hỏi: "Anh này có phải là con ông bà không? Ông bà nói là anh bị mù từ khi mới sinh, vậy sao bây giờ anh lại nhìn thấy được?" 20Cha mẹ anh đáp: "Chúng tôi biết nó là con chúng tôi, nó bị mù từ khi mới sinh. 21Còn bây giờ làm sao nó thấy được, chúng tôi không biết, hoặc có ai đã mở mắt cho nó, chúng tôi cũng chẳng hay. Xin các ông cứ hỏi nó; nó đã khôn lớn rồi, nó có thể tự khai được." 22Cha mẹ anh nói thế vì sợ người Do-thái. Thật vậy, người Do-thái đã đồng lòng trục xuất khỏi hội đường kẻ nào dám tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô. 23Vì thế, cha mẹ anh mới nói: "Nó đã khôn lớn rồi, xin các ông cứ hỏi nó." 24Một lần nữa, họ gọi người trước đây bị mù đến và bảo: "Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa. Chúng ta đây, chúng ta biết ông ấy là người tội lỗi." 25Anh ta đáp: "Ông ấy có phải là người tội lỗi hay không, tôi không biết. Tôi chỉ biết một điều: trước đây tôi bị mù mà nay tôi nhìn thấy được!" 26Họ mới nói với anh: "Ông ấy đã làm gì cho anh? Ông ấy đã mở mắt cho anh thế nào?" 27Anh trả lời: "Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông vẫn không chịu nghe. Tại sao các ông còn muốn nghe lại chuyện đó nữa? Hay các ông cũng muốn làm môn đệ ông ấy chăng?" 28Họ liền mắng nhiếc anh: "Có mày mới là môn đệ của ông ấy; còn chúng ta, chúng ta là môn đệ của ông Mô-sê. 29Chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã nói với ông Mô-sê; nhưng chúng ta không biết ông Giê-su ấy bởi đâu mà đến." 30Anh đáp: "Kể cũng lạ thật! Các ông không biết ông ấy bởi đâu mà đến, thế mà ông ấy lại là người đã mở mắt tôi! 31Chúng ta biết: Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy. 32Xưa nay chưa hề nghe nói có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh. 33Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì." 34Họ đối lại: "Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư?" Rồi họ tống anh ra ngoài. 35Đức Giê-su nghe nói họ đã trục xuất anh. Khi gặp lại anh, Người hỏi: "Anh có tin vào Con Người không?" 36Anh đáp: "Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin?" 37Đức Giê-su trả lời: "Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây." 38Anh nói: "Thưa Ngài, tôi tin." Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người. 39Đức Giê-su nói: "Tôi đến thế gian này chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù!" 40Những người Pha-ri-sêu đang ở đó với Đức Giê-su nghe vậy, liền lên tiếng: "Thế ra cả chúng tôi cũng đui mù hay sao?" 41Đức Giê-su bảo họ: "Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng: Chúng tôi thấy, nên tội các ông vẫn còn!".

1.- Văn mạch

Tin Mừng Gioan có hai phần lớn:

1) Sách các Dấu lạ (ch. 2–12: trình bày bảy đề tài chính của Tin Mừng);

2) Sách Vinh quang hay Sách Khổ Nạn và Phục Sinh (ch. 13–20).

Bản văn đọc hôm nay thuộc về Phần I và triển khai đề tài thứ năm: “Cuộc phán xét bởi ánh sáng” (9,1–10,39). Việc chữa lành anh mù từ khi mới chào đời được tác giả TM IV ghi nhận như là một trong những "dấu lạ" quan trọng "để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người” (20,31).

Truyện được trình bày như một phiên tòa xử Đức Giêsu xuyên qua những cuộc gặp gỡ của anh mù với nhiều hạng người, để rồi cuối cùng lại chính Đức Giêsu là người đứng ra kết án. Tấn bi kịch đã được báo trước trong hai chương 7 và 8. Khi các thuộc hạ trở về mà không bắt Đức Giêsu, các thượng tế và người Pharisêu đã kêu lên: "Còn bọn dân đen này, thứ người không biết Lề Luật, đúng là quân bị nguyền rủa" (7,49). Đấy là như tiền đề cho việc họ nổi giận lên với người mù, vì anh ta "sinh ra trong tội", mà lại dám lên mặt sửa dạy các "môn đệ của ông Môsê" (9,28-34). Câu truyện người đàn bà ngoại tình là một lý do thứ hai, bởi vì trong sự cố này, cũng vẫn là Đức Giêsu đã "tước vũ khí" của họ khi nói: "Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi” (8,7). Rồi sau đó là những câu nói đầy thách thức: 8,21.24.35-44.46.

2.- Bố cục

Bản văn có thể chia thành bốn phần:

1) Đức Giêsu và môn đệ đối diện với anh mù (9,1-5);

2) Đức Giêsu chữa lành anh mù (9,6-7);

3) Cuộc xử án (9,8-33):

a) Láng giềng anh mù (9,8-12),

b) Người Pharisêu (9,13-17),

c) Cha mẹ anh mù (9,18-23),

d) Người Pharisêu (9,24-33);

4) Tuyên án (9,34-41):

a) Anh mù bị người Pharisêu tống ra ngoài (9,34),

b) Anh mù được Đức Giêsu đón tiếp và anh tin nhậnNgười (9,35-38),

c) Đức Giêsu kết án người Pharisêu (9,39-41).

Chúng ta có thể nhận ra bảy cuộc gặp gỡ trong truyện này:

1- Đức Giêsu và anh mù (chữa mắt: c. 6);

2- Anh mù và láng giềng (c. 8);

3- Anh mù và người Pharisêu (c. 13);

4- Anh mù và người Do-thái và cha mẹ (c. 18);

5- Anh mù và người Do-thái (c. 24);

6- Đức Giêsu và anh mù (tin: c. 35);

7- Đức Giêsu và người Pharisêu (c. 40).

3.- Vài điểm chú giải

- ai đã phạm tội (2): Mặc dù có sách Gióp , lý thuyết cổ truyền vẫn tồn tại: người ta nghĩ rằng có một quan hệ nhân quả trực tiếp giữa tội và bệnh tật. Về trường hợp một em bé mới sinh đã mắc bệnh tật, xem Xh 20,5.

- như vậy là để công trình của Thiên Chúa nơi anh được tỏ hiện (3): Các kinh sư nói đến việc Thiên Chúa ban cho loài người "những hình phạt tình yêu", nghĩa là những sửa dạy mà nếu người ta chấp nhận quảng đại, sẽ đưa đến cho họ đời sống dài lâu và những phần thưởng. Nhưng hình như tư tưởng của Đức Giêsu ở đây hoặc ở 11,4 không phải là như thế; Đức Giêsu lại cho thấy rằng Thiên Chúa vận hành lịch sử để tôn vinh Danh Người. Chúng ta có một ví dụ rõ ràng ở Xh 9,16, được trích dẫn trong Rm 9,17.

- Thầy là ánh sáng cho trần gian (5): Rất có thể lời này được rút từ Is 49,6, trong đó Người Tôi Trung của Đức Chúa được mô tả như là một ánh sáng cho muôn dân. Chính là trong dịp Lễ Lều mà Đức Giêsu đã tuyên bố lần đầu: “Chính tôi là ánh sáng cho trần gian" (8,12).

- nhổ nước miếng (6): Chỉ có Ga Mc (7,33; 8,23) nhắc nhớ rằng Đức Giêsu nhổ nước miếng. Người xưa coi nước miếng như là một thứ thuốc chữa mắt và cả những phần khác trên thân thể (Tacite, Historiae IV, 81). Dường như sức chữa bệnh của nước miếng sẽ gia tăng nếu trộn với đất hay đất sét. Đức Giêsu đã làm cử chỉ nhổ nước miếng mà trộn bùn không phải vì các thứ này cần để có thể làm phép lạ, nhưng là để “gây chuyện” với người Pharisêu.

- hồ Silôác (7): Hôm nay, ta còn thấy cái hồ này ở phía đông nam Giêrusalem, ở cuối thung lũng Tyrôpêôn. Con suối Gihôn đã cung cấp nước cho hồ này nhờ con kênh vua Xítkigia (Ézéchias) đã cho đào trong đá (x. 2 V 20,20; 2 Sb 32,30; Hc 48,17). Silôác có nghĩa là "người sai phái" (= người gửi [nước]). Tác giả Ga ghi nhận tên này, nhưng lại dịch như một từ ngữ ở thái bị động: “Silôác có nghĩa là: người được sai phái" (c. 7). Rõ ràng ngài dùng từ ngữ như một biểu tượng. Trong TM IV , hơn 40 lần Đức Giêsu được gọi là "Đấng được sai phái”, và Người cũng vừa nói với các môn đệ là Người phải "thực hiện công trình của Đấng đã sai phái Thầy" (c. 4). Vậy tác giả muốn nói rằng hồ Silôác, cũng như Đền Thờ, như lễ Vượt Qua, như ngày sa-bát, như mọi sự trong Israel, đều được quy hướng về Đức Giêsu và rút ra từ Người ý nghĩa vĩnh viễn và chân thật. Chính cái tên hồ loan báo rằng Đấng Mêsia sẽ đến múc nước và thông ban cho nước hồ một sức mạnh thần linh.

Ngoài ra cái hồ này còn có một ý nghĩa thiêng liêng. Isaia (8,6) đã coi cái hồ có dòng nước chảy êm ả này như một biểu tượng về đời sống an bình của Israel dưới sự che chở của Thiên Chúa. Nhưng vị ngôn sứ cũng nhân danh Đức Chúa mà than thở rằng "dân này khinh dể nước mương Silôác chảy lững lờ". Có lẽ tác giả coi sự từ khước này như một lời loan báo sự cứng lòng của người Do-Thái thời Đức Giêsu.

Ngoài ra, nước hồ còn được dùng trong lễ Lều. Mỗi ngày trong tuần Lễ Lều, người ta đi rước xuống hồ. Một tư tế long trọng múc nước, rồi đi rước lên Đền Thờ. Vị tư tế ấy vừa đổ nước trên bàn thờ vừa đọc những lời kinh theo nghi thức: họ xin Thiên Chúa ban mưa xuống cho mùa sắp tới; họ đọc những bài đọc Kinh Thánh tưởng niệm phép lạ nước vọt ra từ tảng đá trong sa mạc và loan báo việc canh tân thiêng liêng Sion vào thời Đấng Mêsia. Nhiều liên hệ giữa truyện anh mù và những biến cố dịp Lễ Lều trong TM Ga (ch. 7 và 8) mời ta đọc phép lạ này dưới ánh sáng của lễ nghi Lễ Lều. Điều này càng có lý khi ta biết rằng lễ nước, Lễ Lều cũng là lễ ánh sáng. Mỗi buổi chiều, người ta đốt đèn đuốc trong Đền Thờ. Và ngôn sứ Dacaria đã mô tả Ngày của Đức Chúa như là mở đầu cho việc muôn dân cử hành Lễ Lều thật hoành tráng (x. Dcr 14,7). Đây là khung cảnh rất phù hợp với lời tuyên bố của Đức Giêsu: "Tôi là ánh sáng cho trần gian" và với "dấu lạ" anh mù: có lễ ánh sáng, có việc rưới nước hồ Silôác và có những niềm hy vọng vào Đấng Mêsia.

Những dây liên hệ này soi sáng cho thấy ý nghĩa của biểu tượng Đức Giêsu-Ánh-sáng-cho-trần-gian", cũng như "dấu lạ" diễn tả biểu tượng này. Những phúc lành và việc tuôn đổ Thánh Thần, được tượng trưng trong dịp Lễ Lều bằng nước Silôác, sẽ được Đức Giêsu ban cho trần gian: trong tay Người, "nước mương Silôác chảy lững lờ" sẽ chan hòa ánh sáng và sức sống.

- những người Pharisêu (13): Những người phỏng vấn được gọi là Pharisêu trong cc. 13.15.16 (cả c. 40); ở cc. 18 và 22, thì được gọi là "người Do-Thái", là từ ngữ quen thuộc hơn với Ga .

- vì không giữ ngày sa-bát (16): Thứ nhất, bởi vì mạng sống của anh mù không bị đe dọa, lẽ ra Đức Giêsu nên chờ đến một ngày khác mà chữa anh. Thứ hai, trong số ba mươi chín việc bị cấm làm trong ngày sa-bát (Mishna, Shabbath 7,2), có việc nhào trộn bột. Thứ ba, thể theo truyền thống sau này của Do-thái giáo (TalBab, Abodah Zarah 28b), có một ý kiến nói rằng không được phép xức dầu vào mắt ngày sa-bát. Thứ tư, truyền thống (TalJer, Shabbath 14d và 17f) cũng cấm nhổ nước miếng lên mắt ngày sa-bát.

- một vị ngôn sứ (17): Hai vị ngôn sứ nổi tiếng với việc làm phép lạ chữa bệnh là Êlia và Êlisa (x. cả Is 38,21). Có lẽ anh này đang nghĩ đến việc ngôn sứ Êlisa bảo Naaman đi tắm trong sông Giođan. Ít ra có lẽ anh mù tin rằng Đức Giêsu có quyền lực thần linh và "ngôn sứ" là hạng người như thế.

- trục xuất khỏi hội đường (22): Có lẽ tác giả đang nghĩ đến việc giới chức Do-Thái loại các Kitô hữu gốc Do-Thái khỏi hội đường (= dứt phép thông công) vào cuối thế kỷ I.

- Chúng ta (24): Nicôđêmô đã dùng chủ ngữ này (3,2) để nói về uy tín của người Do-Thái có học thức.

- Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa (24): Đây là một công thức để thề trước khi làm chứng hoặc thú nhận một lỗi lầm (Gs 7,19). Nhưng cũng rất có thể tác giả muốn chơi chữ, bởi vì anh mù sẽ tôn vinh Thiên Chúa.

- Thiên Chúa đã nói với ông Môsê (29): Xem Xh 33,11; Ds 12,2-8.

- Chúng ta biết (30): Anh mù dùng chủ ngữ "chúng ta" của người Pharisêu (c. 24), y như Đức Giêsu ở 3,11 đã lấy lại chủ ngữ "chúng ta/tôi" của Nicôđêmô. Rõ ràng những đoạn này được dùng trong những cuộc bút chiến giữa người Do-Thái và các Kitô hữu.

- Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi (31): Đây là một nguyên tắc Kinh Thánh quen thuộc (x. Is 1,15; 1 Ga 3,21).

- họ tống anh ra ngoài (34): Đây không phải là một việc dứt phép thông công đúng nghĩa nhưng chỉ là việc đưổi anh cho khuất mắt họ.

- Khi gặp lại anh (35): Hành vi này ngược lại với hành vi củangười Pharisêu khi đuổi anh ra ngoài, và minh họa cho lời hứa của Đức Giêsu ở 6,37: "Ai đến với tôi, tôi sẽ không loại ra ngoài".

4.- Ý nghĩa của bản văn

Trong TM IV, truyện anh mù được chữa lành có một vị trí trung tâm. Truyện này giống như một tổng hợp về sứ mạng làm ánh sáng của Đức Giêsu trong thế gian và về cuộc xung đột giữa ánh sáng và bóng tối xảy ra giữa Đức Giêsu và người Do-Thái. Bản văn đã được trình bày như một cuộc xử án, nhưng Đức Giêsu không trực tiếp đối đầu với các đối thủ. Bản án của Người chỉ được xác định qua việc kết án anh mù; Đức Giêsu chỉ xuất hiện lúc đầu để thực hiện “dấu lạ” và xác định ư nghĩa của “dấu lạ”, rồi xuất hiện ở cuối để uy nghi công bố bản án.

* Đức Giêsu và các môn đệ đối diện với anh mù (1-5) Không ai xin Đức Giêsu chữa cho anh mù: chính Người bộc phát chữa lành anh (9,1-7). Nghĩ đến số phận đáng thương của anh mù, các môn đệ nại đến một luận điểm quen thuộc trong dân Do-Thái: Tại sao anh bị như thế? Do lỗi của ai? Các ông tìm cách quy kết trách nhiệm. Các ông nghĩ đến một lỗi chống lại Thiên Chúa. Nhưng Đức Giêsu loại bỏ lối suy luận này. Sau này bản văn sẽ cho thấy tội lỗi thật chống lại Thiên Chúa là tội lỗi gì và nó đưa đến sự đui mù nào. Còn đối với người mù từ sơ sinh, Đức Giêsu không nhìn lại đàng sau, Người nhìn tới trước: nhờ anh, Người có thể tỏ mình ra rõ ràng là ánh sáng thế gian. Cho ai đang ngạc nhiên về sự thiếu may mắn của anh mù, lòng thương xót và quyền lực của Thiên Chúa lại được tỏ lộ. Như thế, Đức Giêsu cho thấy ý nghĩa của những việc Người làm.

* Đức Giêsu chữa lành anh mù (6-7) Khác với những hành vi quyền lực khác của Người, ở đây Đức Giêsu không chỉ hành động bằng lời nói của Người. Tác giả mô tả chi tiết những gì Người làm cho anh mù (9,6.11.14.15). Và cả anh này cũng phải làm một việc: Tin vào lời Đức Giêsu, anh đi đến hồ nước rửa mắt và thấy được. Đức Giêsu không có mặt trong bốn cuộc gặp gỡ sau đó, nhưng tất cả đều xoay quanh những gì Người đã làm cho anh mù và về tương quan của Người với Thiên Chúa. Chính là qua các cuộc tranh luận này mà người lành bệnh được dẫn từng bước một đến chỗ thấy ai là người đã chữa lành anh. Các con mắt mà Đức Giêsu đã mở cho anh để anh thấy ánh nắng mặt trời, bây giờ lại mở ra để thấy “ánh sáng cho trần gian”.

* Cuộc xử án (8-33) Trong cuộc gặp gỡ với những người láng giềng (cc. 8-12), có một toan tính đầu tiên là giữ khoảng cách với sự thật quá hiển nhiên về cuộc chữa lành và tránh lấy lập trường đối với chuyện này. Người ta nghi ngờ về căn cước của người được chữa lành: không chắc chắn kẻ đang thấy đây là người mù từ lúc mới sinh lâu nay vẫn phải sống bằng việc hành khất, mà ai cũng biết. Tuy nhiên anh khẳng định căn cước của anh và nói rõ ràng về những gì Đức Giêsu đã làm cho anh.

Khi ra trình diện người Pharisêu, anh lại phải mô tả những gì Đức Giêsu đã làm cho anh và cách thức anh lại thấy được (cc. 13-17). Họ tỏ ra khó chịu vì Đức Giêsu đã làm việc ấy trong ngày sa-bát, và thế là nêu lên câu hỏi, từ bây giờ sẽ là vấn đề nổi bật, về tương quan của Người với Thiên Chúa. Có những người coi quan niệm của họ về ngày sa-bát là tiêu chuẩn đánh giá duy nhất, nên cho rằng Đức Giêsu không thể đến từ Thiên Chúa. Những người khác nhìn nhận rằng việc chữa lành này là đặc biệt và không thể cho rằng Đức Giêsu là một người tội lỗi. Bây giờ chính người được lành cũng bị buộc phải lấy lập trường: anh nhìn nhận Đức Giêsu là một ngôn sứ, một người được Thiên Chúa sai phái.

Mẩu đối thoại giữa người Do-Thái và cha mẹ anh (cc. 18-23) đưa vào một toan tính khác nhằm giữ khoảng cách đối với sự thật. Bây giờ người ta nghi ngờ về tình trạng mù lòa trước đây của anh. Cha mẹ anh công nhận căn tính của anh và tình trạng mù lòa của anh từ khi mới chào đời, nhưng không muốn biết gì về việc chữa lành. Họ cúi đầu trước áp lực của quyền bính. Họ không muốn bị cô lập về mặt xã hội; do đó họ nhắm mắt lại trước ánh sáng.

Cuộc đối diện thứ hai của anh được lành với người Pharisêu (cc. 24-34) đã phân rẽ các tâm trí. Sau khi mọi lý do đã bị loại bỏ và việc chữa lành đã được xác nhận, người ta không thể tránh khỏi việc lấy lập trường đối với người đã làm việc này. Người Pharisêu chỉ quan tâm tới "cách thức" chữa lành (x. cc. 15.19.26). Và bởi vì cách thức này vi phạm quan niệm của họ về ngày sa-bát, họ biết chắc chắn rằng Đức Giêsu là một kẻ tội lỗi. "Sự kiện" là việc chữa lành đã thực sự xảy ra không hề có tầm quan trọng nào đối với họ. Nhưng đây lại chính là điểm mà anh mù bám vững, nhất định không nao núng (x. cc. 25.30.32). Khởi đi từ hành vi Đức Giêsu đã làm, anh nhận ra càng lúc càng rõ tương quan của Đức Giêsu với Thiên Chúa. Đối lại với sự hiểu biết mà người Pharisêu cho rằng họ có về Đức Giêsu (cc. 24.29), anh đề ra sự hiểu biết của anh về Thiên Chúa, mà cả người Pharisêu cũng phải công nhận: "Chúng ta biết: Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy" (c. 31). Từ hành vi phi thường Đức Giêsu đã làm và từ sự hiểu biết này về Thiên Chúa, anh rút ra hệ luận là Đức Giêsu không phải là một kẻ tội lỗi, nhưng là một người làm theo ý muốn của Thiên Chúa và đến từ Thiên Chúa. Ở đây chúng ta có một ví dụ tiêu biểu về thái độ tích cực và tiêu cực khi đứng trước một hành vi quyền lực Đức Giêsu đã thực hiện. Anh được lành không chỉ xử sự như một người sung sướng vì có thể thấy và không quan tâm gì đến người đã chữa anh lành. Ngược lại, đối với anh, việc chữa lành thật sự đã trở thành một dấu chỉ đưa anh đến chỗ nhận biết dây liên kết giữa Thiên Chúa và Đức Giêsu. Người Pharisêu vẫn ở lại trong thái độ không muốn thấy và cứng lòng lại trong việc từ khước Đức Giêsu. Đối với những sự kiện cụ thể được anh mù nêu ra, họ chỉ có thể chống lại bằng cử chỉ bạo lực là tống anh ra ngoài.

* Tuyên án (34-41) Cuộc gặp gỡ thứ hai giữa anh được lành và Đức Giêsu (cc. 35-38) xảy ra lần nữa vẫn do sáng kiến của Đức Giêsu. Đức Giêsu quan tâm đến người đã bị tống ra ngoài và giúp anh có thể thấy thêm nữa, bằng cách đưa anh đến chỗ tin vào Con Thiên Chúa. Nhờ cuộc tranh luận trước đó, càng ngày anh càng đến gần Đức Giêsu hơn và ngày càng mở ra hơn với tương quan của Đức Giêsu với Thiên Chúa. Bây giờ Đức Giêsu tự mạc khải ra cho anh là người bị loại trừ biết Người là Con Thiên Chúa nhập thể, Người không đến thế gian trong ánh vinh quang huy hoàng, nhưng trong tình trạng đơn giản của thân phận con người và đi đến chỗ sẽ được giương cao trên thập giá (3,14; 6,35; 12,23.34). Anh được lành đã tin và quì xuống trước mặt Người, tức là làm một cử chỉ thờ phượng Thiên Chúa. Anh đã có thể thấy trọn vẹn phẩm cách và tầm quan trọng của Đức Giêsu. Khi chữa lành anh và hướng dẫn anh, Đức Giêsu đã ngày càng trở thành ánh sáng cho anh.

Cuối cùng xảy ra cuộc đối đầu giữa Đức Giêsu và người Pharisêu (cc. 39-41). Các ông này đã phản ứng lại với một khẳng định của Người về một phương diện quan trọng trong sứ mạng của Người: Người đã đến để cứu độ thế giới (3,17; 12,47); Người ở trong thế gian như là ánh sáng ban sự sống. Do Đức Giêsu không xuất hiện với một quyền lực to lớn, sự hiện diện của Người làm cho loài người chia rẽ nhau. Có những người đón nhận Người và chấp nhận sự trợ giúp của Người, được Người mở mắt và đi đến chỗ nhận biết thực tại trọn vẹn. Có những người khác lại loại trừ Người, nghĩ rằng họ đã biết mọi sự không cần Người và thế là họ thành đui mù thật sự. Khi mà thực tại đã trở nên ngày càng khả thị (= thấy được), sự đui mù của những người ấy càng trầm trọng. Người Pharisêu muốn biết phải chăng điều này cũng đúng đối với họ. Họ đã xác định Đức Giêsu là một "kẻ tội lỗi" (9,24); bây giờ lại chính là Người đang mô tả lối xử sự của họ, mà gọi là "tội lỗi", là thiếu sót đối với Thiên Chúa.

+ Kết luận

Đức Giêsu là ánh sáng cho trần gian trong tư cách là bao lâu Người còn ở trần gian, Người thực hiện những việc Chúa Cha giao phó cho Người (9,4-5). Người không phải là một ánh sáng được áp đặt cho bất cứ ai không phân biệt. Điều ghi nhận được với người mù từ thuở mới sinh là nhờ Người, có những người trở thành thấy được và có những người lại trở nên đui mù (c. 39). Qua bảy cuộc gặp gỡ, trong đó Đức Giêsu chỉ có mặt ở lần đầu và hai lần cuối, ta thấy diễn ra một tình huống đầy kịch tính và phong phú hậu quả. Từ việc chữa lành anh mù, từ những cuộc tranh luận với những người ở xung quanh Người và từ lời mạc khải về Đức Giêsu, người mù được dẫn đến chỗ thấy được hoàn toàn, tin và thờ phượng Đức Giêsu. Các đối thủ chỉ thấy Đức Giêsu là một người tội lỗi, đã vi phạm Lề Luật và chống lại ý muốn của Thiên Chúa. Những gì Đức Giêsu đã làm và trong đó lòng từ bi thương xót của Thiên Chúa được tỏ bày ra, đối với họ, lại là một công trình chống lại Thiên Chúa. Ánh sáng làm cho người ta thấy Thiên Chúa, thấy Đấng Ngài sai phái và lễ dâng của Người để cứu độ thế giới, lại làm cho mọi sự ra tối tăm đối với họ. Chỉ ai mở ra, ai chấp nhận được giáo huấn và hướng dẫn, mới có thể gặp Đức Giêsu và nhận được ánh sáng ban ơn cứu độ.

5.- Gợi ý suy niệm

1. Hôm nay chúng ta có thể tự hỏi về thái độ của chúng ta khi đứng trước đau khổ của người khác. Chúng ta có tự hỏi là vì sao và do đâu mà có đau khổ này, hoặc mục đích của nỗi đau khổ này là gì chăng? Nhất là chúng ta có biết nhìn sự đau khổ của người khác như Đức Giêsu đã nhìn chăng? Không nên kết luận rằng những người phải khốn khổ là nạn nhân của một số phận mù quáng. Sớm hay muộn, Thiên Chúa sẽ làm bùng lên nơi họ quyền năng và lòng thương xót của Ngài (x. Rm 8,28).

2. Con đường anh mù đã rảo qua cho chúng ta hiểu cách thức Đức Giêsu hành động trong tư cách là "ánh sáng cho trần gian". Người không chỉ hiện diện trên mặt đất, Người còn đi gặp loài người, chữa lành họ và dẫn họ đi tới, để họ thấy càng ngày càng rõ hơn là Người từ đâu đến và Người là ai. Dù sao, chúng ta cũng biết rằng không phải chính chúng ta sẽ bảo cho Đức Giêsu biết phải sống thế nào và phải làm gì. Chúng ta cần phải để cho Người chỉ cho biết Người là ai và Người muốn mang đến cho chúng ta điều gì.

3. Anh mù đã càng lúc càng hiểu rõ hơn việc anh được lành. Hôm nay tôi có thể tìm hiểu xem kinh nghiệm nào đã là khởi điểm để tôi hiểu Đức Giêsu ngày càng sâu xa hơn. Cần phải nhớ lại kinh nghiệm anh mù đã trải qua. Vì nhìn nhận Đức Giêsu là Đấng Thiên Chúa sai phái, anh bị tống ra ngoài cộng đoàn; người ta đuổi anh như đuổi một kẻ tội lỗi. Cả cha mẹ anh cũng từ chối bảo vệ anh. Khi đó, niềm tin đưa đến hậu quả là sự cô đơn. Phải vượt lên trên nỗi sợ hãi, sự cả nể, mối bận tâm đến ư kiến của người đời, để có thể độc lập, và đi đến tự do chân chính.

4. Con người vừa là ánh sáng vừa là bóng tối. Nó có khả năng tự làm mình ra đui mù, đưa ra những lư do tốt để khỏi thấy, tạo ra cho mình những xác tín giả trá, từ chối mở mắt ra mà lại nói là mình "đang thấy”. Ánh sáng rất đòi hỏi: nó bắt ta xét lại nhiều chuyện, từ bỏ nhiều thói quen, đôi khi phải đoạn tuyệt với cả một môi trường. Bị đui mù mà nhìn nhận mình thiếu ánh sáng và không thấy, thì không phải là một tội; nhưng tự hào là mình biết tất cả về Thiên Chúa và về thế giới và từ chối ánh sáng đến từ Thiên Chúa, điều này đi ngược lại ư muốn của Thiên Chúa, nên cũng là một tội.

 Lm. F.X. Vũ Phan Long, ofm

 

 

Trở về mục lục >>

 

̣ng Nhất Giúp Tinh Thần

Luật Dòng Phan Sinh Tại Thế: Điều 26 tt

MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC KINH LÝ:

Tổng Hiến Chương nhắc đến mục đích Kinh lư: "...làm sống lại tinh thần Phúc Âm Phan Sinh, bảo đảm sự trung thành đối với đoàn sủng và Luật Dòng, mang lại sự trợ giúp cho đời sống của các huynh đệ đoàn, thắt chặt mối dây hiệp nhất trong Dòng Phan Sinh tại thế và phát huy sự hoà nhập hữu hiệu hơn trong gia đình Phan Sinh và trong Hội Thánh" (điều 92). "Cuộc kinh lý huynh đệ là một thời gian hiệp thông, biểu lộ tinh thần phục vụ và sự quan tâm cụ thể của các anh/chị hữu trách tại thế thuộc các cấp khác nhau để làm cho huynh đệ đoàn tăng trưởng trong sự trung tín đối với ơn gọi của mình" (điều 94.1); "Cuộc Kinh lý mục vụ là một thời gian đặc biệt để hiệp thông với Dòng Nhất và Dòng Ba Tại viện... nhằm bảo đảm và cổ võ việc tuân giữ Luật Dòng và Hiến Chương, cũng như cổ võ lòng trung thành với đoàn sủng Phan Sinh" (điều 95.1).

Riêng tài liệu (huấn luyện) về việc kinh lý, do Hội Đồng Phan Sinh Tại Thế Việt Nam soạn vào tháng 6.2005, có dùng từ "thức tỉnh" (Tổng Hiến Chương viết là "làm sống lại") tinh thần Phúc Âm Phan Sinh, và (trong tài liệu này) dùng từ: nâng cao tinh thần Phúc Âm Phan Sinh, để tô đậm ư nghĩa là không chỉ là làm sống lại một tinh thần đã chết, hay đánh thức một tinh thần đang ngủ, mà là nâng tinh thần ấy lên một mức cao hơn.

NHỮNG VIỆC PHẢI LÀM:

Điều 93 của THC cũng qui định những việc phải làm khi kinh lý như sau:

- "Vị kinh lý sẽ thông báo kịp thời cho Hội Đồng liên hệ biết mục đích và chương trình thăm viếng (93,2),

- Kiểm chứng sức sống Phúc Âm và Tông Đồ, việc tuân giữ Luật Dòng và Hiến chương, sự hoà nhập của các Huynh đệ đoàn vào trong Dòng Phan Sinh Tại Thế và Hội Thánh (93.1);

- Xem xét sổ sách và các chứng từ kể cả những chứng từ liên quan đến những cuộc kinh lư trước, các cuộc bầu cử Hội Đồng và việc quản lí tài sản (93.2)

- Làm một bản tường trình về việc thăm viếng để vào hồ sơ riêng của huynh đệ đoàn vừa mới kinh lý và phúc trình lại với Hội đồng của cấp đã cử mình đi. (93.2)

- Gặp toàn thể huynh đệ đoàn và các nhóm, các tổ thuộc huynh đệ đoàn; quan tâm đến các anh/chị đang trong thời kỳ Huấn luyện, và những ai cần gặp riêng. Nếu cần, Vị kinh lý sẽ sửa lỗi trong tình Huynh đệ những thiếu sót ngài nhận thấy (93.3)

Điều 94 Tổng Hiến Chương nói rõ hơn và cụ thể hơn những việc mà các vị kinh lý Huynh đệ thực hiện, kể cả việc giúp huynh đệ đoàn giải quyết những vụ việc như là "vì lý do nào đó việc phục vụ của họ không được thực hiện thoả đáng đối với các nhu cầu của Huynh đệ đoàn, anh/chị kinh lý sẽ đề nghị những sáng kiến thích hợp, kể cả những qui định về từ nhiệm và bãi nhiệm, nếu cần" (94.4).

Điều 95, Tổng Hiến Chương cũng nói rõ hơn những việc cụ thể được thực hiện trong các cuộc kinh lý mục vụ, nhưng chú trọng đến các yếu tố tinh thần nhiều hơn, (tinh thần hiệp thông và xây dựng Hội Thánh, tinh thần đồng trách nhiệm...) kể các việc kiểm tra chất lượng của việc trợ giúp tinh thần cho Huynh đệ đoàn, quan tâm đến những chương trình, các phương pháp và kinh nghiệm về việc huấn luyện.

 Phêrô Nguyễn Đức Tiến; sfo

 

 

Trở về mục lục >>
 

Bài 51: Thập Giới: Giới Răn 1 (phần II) và Giới Răn II (Xh 20,4-7)

Phần thứ hai trong giới răn I (hoặc Giới răn II theo Giáo-hội Chính thống) có nội dung như sau: "Ngươi không được tạc tượng… để mà thờ".

Đối với người xưa, hình tượng là những trung gian qua đó con người gặp gỡ và thờ phượng vị thần linh của mình. Có thể nói hình tượng là hiện thân của thần linh. Vì thế phần II trong Giới răn I cấm tạc bất cứ hình thù nào thành tượng để mà thờ. Giới răn này nhắm tránh tội thờ tà thần. Về sau giới răn được hiểu là cấm cả việc vẽ hình và tạc tượng Gia-vê, vì không một thụ tạo nào trên trời hay dưới đất có thể diễn tả Đức Chúa một cách đầy đủ được.

Tất nhiên sang thời Tân Ước có sự biến đổi quan trọng: Đức Giê-su, Con Một Thiên Chúa, đã làm người để trở nên cho chúng ta "hình ảnh của Thiên Chúa vô hình" (2 Cr 4,4 ; Cl 1,15). Vì thế công-đồng Ni-xê-a II (năm 787) đã cho phép các tín hữu làm các ảnh tượng Chúa Giê-su cũng như các thánh, để tưởng nhớ đến các ngài, vì các ngài là những con người lịch sử.

Đối với Giáo-hội ngày nay, các ảnh tượng chỉ có giá trị gợi ý và giáo dục. Chúng không có giá tự thân như đối với người xưa, nên chúng không tạo ra nguy cơ cho các tín hữu chạy theo các tà thần.

Giới răn II liên hệ đến việc tôn kính Thánh Danh Thiên Chúa: "Ngươi không được dùng Danh Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, một cách bất xứng…" (Xh 20,7).

Danh hiệu một người tiêu biểu cho chính bản thân người ấy. Vì thế giới răn này cấm dùng Danh Thiên Chúa để thề gian thề dối hoặc để thực hành những việc ám muội có tính cách phù phép. Người ta không thể lợi dụng Danh Thiên Chúa như một thứ thần chú, để bắt Người phục vụ những lợi ích của con người. Trái lại con người phải phục vụ Thiên Chúa và chúc tụng Danh Người (Tv 99,3; 103,1). Lời kinh sau đây của Đức Giê-su tương ứng với giới răn thứ hai: “Chúng con nguyện Danh Cha cả sáng" (Mt 6,9). (còn tiếp)

 Lm. Norbert Nguyễn Văn Khanh, ofm

 


Trở về mục lục >>

 

Xin Hăy Chọn Con

Lạy Thầy Giêsu Chí Thánh.

Khi xuống thế gian, Thầy đã gieo vào cánh đồng nhân loại hạt giống yêu thương; đã để hạt giống ấy lớn lên và sinh hoa kết quả. Thầy đã vun trông bằng chính mạng sống của Thầy, bằng cái chết đau thương đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại. Thầy chính là hạt giống đầu tiên mục nát trên thập giá, nảy mầm nơi huyệt đá. Và ba ngày sau đơm hoa phục sinh vinh quang cho chúng con được hưởng hoa trái ngọt ngào của mầu nhiệm phục sinh và sự sống đời đời.

Hơn hai ngàn năm qua, cánh đồng vẫn sinh hoa kết quả, nhưng thợ gặt thì quá ít… và lời mời gọi dịu dàng tha thiết của Thầy vẫn réo gọi.

Lạy Thầy Giêsu Chí Thánh; con sấp mình khẩn xin được là môn đệ của Thầy. Xin hãy chọn con như là một tông đồ nhiệt thành bước theo chân Thầy để: “đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lư vào chốn lỗi lầm…" Amen.

 Maria

 

Trở về mục lục >>
 

 

Giáo Huấn 5: Gia Đình, Tổ Ấm Của Giới Trẻ

Đứa trẻ sau khi sinh ra cần được săn sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Đây là giai đoạn mà gia đình có phần đóng góp quan trọng nhất trong đời sống con người.

Đối với giới trẻ, gia đình phải là một tổ ấm; nơi mà chúng cảm thấy hạnh phúc. Để được như vậy chúng ta cần có một số dữ kiện vật chất và tinh thần.

Về phương diện vật chất, đứa trẻ cần được sống trong một ngôi nhà. Ngôi nhà này không đòi phải sang trọng nguy nga, nhưng cần có sự cao ráo, sạch sẽ, trật tự và rộng rãi để bảo đảm sự phát triển thể chất và tinh thần của chúng. Có những ngôi nhà mà nơi ăn, chốn ngủ, bàn học, phòng khách đều chỉ là một cái giường hay một bộ ván chật hẹp. Có những gia đình mà cha mẹ con cái đều ngủ chung với nhau... Anh chị em phải cố gắng để có một ngôi nhà thích hợp cho con em mình.

Kế đến, ngôi nhà cần được trang trí cách khéo léo và vui tươi. Trẻ con sống trong gia đình như những con cá nhỏ trong bể nước. Chúng ta không có khả năng trang trí cách tốn kém theo thời trang, nhưng sự đơn sơ, sạch sẽ và thứ tự là những điều có thể thực hiện được. Có những gia đình mặc dù nghèo nhưng vẫn tạo cho con cái một khung cảnh hợp vệ sinh, vui tươi và thoải mái.

Sau cùng, bầu khí vật chất của gia đình tuỳ thuộc một phần lớn vào sự lao động của cha mẹ và của các anh chị. Người ta nói: "Nhàn cư vi bất thiện". Muốn có một ngôi nhà khang trang và một cuộc sống ấm no, người gia trưởng phải có nghề, các anh chị lớn phải có công tác như: học hành hay sản xuất.

Kết luận: Một khung cảnh vật chất thoải mái là một trong những điều kiện cần thiết để xây dựng tổ ấm cho con người.

Giáo Huấn 6: Bầu Khí Tinh Thần

Là tổ ấm của con người, gia đình trước tiên cần có một khung cảnh vật chất thoải mái. Nhưng song song với điều kiện này, cha mẹ còn phải làm hết sức mình để tạo cho gia đình một bầu khí tinh thần lành mạnh. Bầu khí này dựa trên những tương quan giữa các thành phần trong gia đình.

1. Tương quan giữa vợ chồng:

Tình yêu và sự kính trọng nhau là nền tảng không thể thiếu trong đời sống vợ chồng. Thánh Phaolô dạy: “Dù sao, anh em mỗi người hãy yêu mến vợ như chính mình, còn vợ thì hãy kính sợ chồng mình" (Ep 10.33). Tình yêu và sự kính sợ này sẽ giúp đôi vợ chồng sống trung tín, hòa thuận, bình đẳng và đoàn kết với nhau. Cả hai sẽ tạo cho gia đình một bầu khí an toàn ấm áp.

2. Tương quan giữa cha mẹ và con cái

Nhờ yêu thương và đoàn kết, cha mẹ sẽ tận lực săn sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con cái. Tình yêu và sự tận tuỵ của họ sẽ khơi dậy nơi con cái sự tín nhiệm, tinh thần cởi mở và lòng biết ơn. Con cái sẽ gắn bó với cha mẹ. Bánh sáp đi, bánh quy lại.

3. Tương quan giữa anh chị em

Người ta nói: "Bàn tay có ngón vắn ngón dài". Nói thế để biện minh cho sự dị đồng giữa các anh chị em với nhau. Nhưng khác nhau không có nghĩa là xung khắc, đối nghịch nhau. Mà có thể là những cơ hội tốt để cộng tác và bổ sung cho nhau. Các anh chị lớn đi trước hỗ trợ và hướng dẫn các em nhỏ đi sau. Các em kính trọng và noi gương các anh chị.

Sau cùng, đối với những gia đình Kitô hữu, bầu khí tinh thần nói trên còn được nâng lên nhờ đời sống đức tin đức cậy và nhất là đức mến.

Gia đình phải là cứ điểm của thăng tiến con người trên mọi bình diện.

 ĐGM Nicolas Huỳnh Văn Nghi

 

 

Trở về mục lục >>

 

CHUYỆN THÁNH ANTÔN

Chuyện Thánh Antôn Pađua (tt)

PHẦN THỨ NHẤT: CUỘC ĐỜI LẠ LÙNG CỦA THÁNH ANTÔN

CHƯƠNG VI: CHÚA YÊU, QỦY SỢ

 

Có những sự kiện tỏ ra thầy Antôn được Thiên Chúa thương yêu chừng nào thì ma quỷ ghen ghét chừng ấy.

1. Chúa Hài Đồng Hiện Ra

Trong khi lưu thuyết trên nước Pháp; một hôm thầy trọ đêm trong phòng vắng vẻ của một nhà kia. Bỗng nửa đêm phòng thầy sáng rực. Chủ nhà mon men tới xem thì thầy Người đang ngất trí cầu nguyện và Chúa Hài đồng hiện đến ngự trị trên cánh tay Người vẻ đơn sơ, âu yếm để cho Người ẵm bồng và hôn kính.

Rồi chủ nhà nhẹ nhàng rút lui, tưởng thánh nhân không biết. Chẳng dè, sáng hôm sau, trước khi ra đi, Người dặn chủ nhà không được tiết lộ việc ấy ra. Vâng theo lời dặn, ông ấy giữ kỹ điều bí mật. Đến khi thánh nhân qua đời rồi, ông mới tỏ ra vinh danh của ông thánh, vì Người đã được Chúa Giêsu yêu mến như vậy. Do tích này mà tượng thánh Antôn thường có bồng Chúa Hài đồng trên tay.

2. Quỷ Quấy Phá Thánh Nhân

Thầy Antôn làm sáng danh Thiên Chúa và cứu vớt nhiều linh hồn, nên quỷ giận ghét Người lắm. Chẳng những nó cố sức ngăn cản công việc của Người mà có toan giết, hãm hại Người nữa.

Một hôm, người vừa ngả mình được một lát, quỷ liền xông vào bóp cổ Người chặt đến nỗi, nếu như không được Đức Mẹ cứu kịp thời thì Người đã tắt thở. Nhưng Người mau mắn làm dấu Thánh Giá trên mình và đọc thầm trong trí Kinh Đức Mẹ mà Người vốn thuộc từ bé, thì quỷ buông Người ra và biến đi.

Một đêm khác, thầy Antôn đang cầu nguyện nơi hang đá kia, bỗng chốc quỷ lấy hình hung ác hiện ra, giơ tay lên toan đánh chết Người, Người liền đọc Kinh Đức Mẹ thì Đức Mẹ hiện ra sáng chói trên đám mây, giữa muôn vàn thiên thần, quỷ sợ hãi trốn mất dạng. Về sau, người ta xây một bàn thờ trong hang ấy để tạ ơn Đức Mẹ, bàn thờ ấy ngày nay vẫn còn và người ta năng đến kính viếng.

3. Ơn Nói Tiên Tri:

Tại thành Anisi, nước Pháp, có một người đàn ông giàu sang, nhưng bê bối về đạo vợ chồng. Một hôm, thầy Antôn gặp ông và nói: "Tôi quý ông, vì tôi biết sau này ông sẽ sửa mình, đi truyền giáo và được phúc tử đạo nữa”.

Người ấy nghe nói vậy thì cúi đầu cười rồi bỏ đi. Chẳng bao lâu, ông ấy được ơn hối cải, lại nhiệt thành theo Đức Giám Mục Giáo Phận sang giảng đạo cho người Hồi Giáo tại Đất Thánh, đạt được nhiều thành quả, và sau cùng được phúc tử đạo cùng với vị Giám Mục ấy.

Cũng tại thành Anisi, có một bà đến xin làm phép thai, thầy Antôn bảo: "bà hãy vui mừng, con bà sẽ gọi là Philliphê, sẽ tu Dòng Phan Sinh và nên cao trọng trước mặt Chúa vì phúc tử đạo”. Mọi việc xảy ra đúng như thầy báo trước. Người con ấy đã làm linh mục Phan Sinh, sang Đất Thánh lo việc đạo, chẳng may bị người Hồi bắt sống cùng nhóm bạn đông lắm. Bấy giờ quân Hồi cho các giáo hữu chọn một trong hai điều này: một là bỏ đạo mình mà theo đạo Hồi, hai là bị xử chém tất cả. Thầy Philliphê sốt sắng khuyên anh em thà chết hơn là bỏ đạo Đức Giêsu. Và mọi người cùng với thầy giữ vững đức tin xưng đạo ra, để lãnh lấy nhành thiên tuế tử đạo. (còn tiếp)

THƯ CHO ÁO NÂU

Hóa Giải Dỗi Hờn

Áo Nâu, Anh thân yêu.

Người ta thường nói: "Ánh mắt là cửa sổ của tâm hồn". Đúng vậy, vì miệng chúng ta có thể nói dối, nhưng ánh mắt bất luận lúc nào cũng phải chân thành, phản ảnh đúng tâm tư.

Tình yêu là chất bồi tụ cho tâm hồn thêm giàu có, làm tăng thêm khát vọng cho đời sống có ý nghĩa, và tình yêu cũng là trung tâm cho con người trở về mà nương náu.

Em viết cho Anh cả hàng trăm lá thư bày tỏ tình yêu chân thành, và em cũng đã nói hết tất cả những điều con tim mách bảo, viết tất cả những cảm xúc trìu mến. Xin cám ơn về cuộc tình mà Anh đã ban tặng. Em vẫn luôn kỳ vọng vào chính Anh.

Cũng may là Anh đã thành công trong việc hướng dẫn mọi suy nghĩ và hành động để em được luôn giống Anh. Vì thế, ước vọng của em dù là nhỏ bé, cũng luôn là niềm hy vọng của Anh. Chúng ta chẳng thấy khó khăn nào mà không vượt qua được, và trong mối tình này sẽ không có đất cho mâu thuẫn nẩy sinh. Thế nhưng trong tình yêu cũng có lúc rơi vào mặc cảm yếu đuối, hay chán nản không muốn phục vụ nữa. Nhưng em lại cho rằng: chẳng qua, đó chỉ là những cung bậc thăng trầm tất yếu của tình yêu. Điều quan trọng là phải biết hoá giải theo đúng hướng tích cực, để cuộc sống hiện tại của mình tốt đẹp hơn lên.

Hãy nhìn vũ trụ càn khôn kìa! Phần cứng là mặt trời và trái đất, nhưng nếu không có phần mềm là mây là gió, và không khí thì làm sao vũ trụ có thể luân chuyển đổi mới được? Cho nên những cơn giận của Anh và những nhõng nhẽo của em chính là "thời tiết" biến đổi, để làm cho tình yêu thêm mặn mà linh động đấy thôi.

Những lúc làm điều mất lòng Anh, em lại bắt gặp ánh mắt giả vờ nghiêm nghị trách móc của Anh. Ánh mắt ấy đã tiếp sức cho em biết quên mình đi, biết cách hoá giải những dỗi hờn trong em, và cũng giúp em tìm đến với những người cô đơn sầu khổ khác đang ở quanh em, anh nhỉ? Cám ơn Anh, Chàng Ao Nâu của em...

 Agnès Kim Gương

NHỮNG BÀI ĐỌC THÊM

Thánh Cả Giuse

Thuở nhỏ, khi được học hỏi về Hạnh Các Thánh, vị Thánh mà tôi yêu kính nhất là Thánh cả Giuse, và tôi vẫn thường gọi ngài là "Cha". Nhưng tại sao yêu Cha nhiều như thế thì mãi đến bây giờ vẫn là dấu chấm hỏi.

Hằng năm, mỗi khi đến tháng Ba, Họ đạo của tôi thường làm việc kính Thánh Cả bằng cách đọc cho cộng đoàn nghe những đoạn sách nói về lòng nhân hậu của Người đối với con cái qua những phép lạ Người ban như: mất của, thất nghiệp, đau yếu, con cái hoang đàng, hiếm muộn con cái, nhà cửa bị ma quỷ quấy phá… mà kêu xin Người cách thành tâm thì Người mau mắn nhậm lời. Việc đạo đức này đã được duy trì trong họ đạo tôi suốt hai mươi mấy năm nay. Thường thường thì tôi là người chịu trách nhiệm về việc đọc sách này nên tôi gần như thuộc nằm lòng những điều đã ghi chép trong quyển sách ấy. Có lẽ đây cũng là động lực giúp tôi thêm lòng yêu kính Thánh Cả chăng?

Năm tháng qua mau cho tôi khôn lớn, tình yêu của tôi đối với Cha cũng lớn lên theo tuổi đời, tôi càng cảm nhận tình yêu Cha dành cho tôi càng bao la sâu thẳm qua những lần tôi kêu xin Cha, đều được cha mau mắn đáp lời.

Hôm nay, khi ngồi viết những giòng chữ này tôi chợt hỏi lòng mình: Tại sao tôi yêu Cha, tại sao tôi cảm nhận được tình Cha dành cho tôi… nhưng vẫn không có câu trả lời. Tôi luôn đặt những câu hỏi về Cha, tôi tìm kiếm sách vở tài liệu liên quan đên Cha, thế nhưng, tôi không may mắn tìm thấy một quyển sách nào nói rõ về thân thế cuộc đời của Cha cả. Kinh Thánh cũng chỉ nói đến Cha một cách lướt qua. Và vì lẽ ấy, tôi cảm nghiệm rằng: Cha là một người khiêm tốn thầm lặng, thầm lặng cách tuyệt vời. Dù được Thiên Chúa trao cho việc chăm sóc Thánh Gia, được chung tay với Mẹ Chúa để phụng sự Con Chúa ngay trong nhà mình khi ở trần gian. Được trọn đời sống cho Chúa và chết trong vòng tay của Chúa và Mẹ của Chúa. Nhưng Cha chưa bao giờ cất tiếng nói… Bằng chứng cụ thể là chưa có ai nghe được một lời nào thốt ra từ môi miệng của vị Gia Trưởng khả kính. Tôi ấm ức, hỏi Mẹ Maria, (vì chỉ có Mẹ là người hiểu Cha nhiều nhất. Mẹ đã sống với Cha chung một mái nhà.) Và Mẹ cho tôi hiểu rằng: Ngoài Mẹ ra, chưa có một tạo vật nào thờ phượng, cung kính phụng sự Chúa vẹn toàn như Cha. Trước mặt người đời, đây là một gia trưởng bình thường như những gia trưởng khác. Ngày ngày lao động cần cù để mưu sinh cho gia đình, chăm lo vợ con rất vuông tròn. Nhưng trước mặt Thiên Chúa thì đây là Người Công Chính. Cha chưa bao giờ được Thiên Chúa đối diện trực tiếp để phán dạy. Chỉ được Thiên Thần phán bảo trong giấc mơ nhưng Cha đã cảm nghiệm tình yêu Chúa và sứ mạng của Cha trong xác tín, cung kính, khi sấp mình lãnh nhận Thiên Ý, mau mắn xin vâng, tin yêu, phó thác trọn vẹn vào Chúa.

Để ý Chúa được thể hiện, Cha luôn ý thức mình là tạo vật thấp hèn, Cha đã dần dần biến mình thành nhỏ bé để Chúa được lớn lên… Để thể hiện tình yêu của mình với Thiên Chúa, Cha đã quên mình, hoà tan xác hồn trong tình yêu của Thiên Chúa bằng chính đời sống phục vụ, hy sinh, nghèo hèn, khiêm tốn, thầm lặng, tin yêu, phó thác, chan hoà yêu thương. Chính cuộc sống của Thánh Cả đã nói lên tình yêu Thiên Chúa bằng cách quên mình để phục vụ Thiên Chúa.

Kính yêu Cha bởi nơi Cha có muôn vàn gương sáng để noi theo, kính yêu Cha bởi muôn ơn lành Cha hằng tuôn đổ cho con cái khi con cái khẩn nguyện.

Lạy thánh Cả Giuse là Quan Thầy bàu chữa Hội Thánh, là Đấng Nâng Đỡ Gia Thất chúng con, là Đấng an ủi kẻ mắc gian nan. Xin cầu cho chúng con, khi này và trong giờ lâm tử, Amen.

 Con của Cha

Mùa Chay Của Tôi

Với tôi, Mùa Chay là mùa "vén gọn" nhiều thứ: Vén gọn trí lòng, vén gọn tâm hồn, vén gọn mọi lo lắng bon chen mệt nhọc của cuộc sống. Thậm chí có những điều bỏ lại cả sau lưng để dành thời gian tìm về một góc nhỏ nào đó trong cuộc đời, để ngồi thinh lặng cho tâm hồn trầm lắng mà nhìn lại chính mình…

Khi dừng lại tôi mới hiểu được ư nghĩa của đời sống. Khi thinh lặng tôi mới nhận ra được tiếng gọi tình yêu thôi thúc. Bởi vì bao ngày tháng qua tôi cứ mê mãi trần gian, chạy theo vật chất, đua chen với đời, so đo với người mà quên mất tâm hồn mình đang cần những giờ phút thinh lặng để thở. Quen sống ồn ào, tất bật quên mất nhịp tim mình đang lặng lẽ, khao khát, chờ đợi được hoà hợp cùng một tâm hồn một nhịp bước yêu thương…

Khi dừng lại tôi mới nhìn thấy mình quá đổi cô đơn. Muốn đưa bàn tay ra để tìm một cái xiết tay chân tình; nhưng bàn tay tôi chỉ quờ quạng vào khoảng không hiu quạnh. Bởi quanh tôi không có ai, không còn ai cả. Những người đồng hành bên tôi đã bị tôi bỏ rơi, đã trôi tuột vào quên lãng tự bao giờ.

Khi dừng lại tôi mới nhận ra bao mảnh đời đang cố bước đi, nhưng đã bị tôi dùng tiền bạc lấn lướt giành đường. Đã bị tôi xô té bằng danh vọng, dẫm đạp bằng quyền lực, loại trừ bằng hình thức đạo đức giả. Thứ đạo đức mà Chúa Giêsu mắng là mồ mả tô vôi.

Khi dừng