Mọi thư từ liên lạc, xin gửi về PSTTVNUSA@YAHOO.COM. Copyright © 2002 WWW.PSTTVNUSA.NET. All rights reserved.
 

NỘI DUNG HÀNG THÁNG (03-2007)

 

ANH EM HĂY SÁM HỐI  và TIN VÀO TIN MỪNG
(Mt 1: 15)

 
 
Trong Số Này:
TÂM SỰ HẰNG THÁNG
 

Thiên Chúa T́nh Yêu

HỌC HỎI LỜI CHÚA
 

Đức Giêsu Hiển Dung

LINH ĐẠO PHAN SINH
  Linh Đạo Phan Sinh Tại Thế
GIÁO LƯ TÓM LƯỢC
  Bài 40: Dân Do Thái Tại Ai-Cập
LỜI KINH MỖI THÁNG
  Sự Hiếu Thảo
HÔN NHÂN GIA Đ̀NH
  Bài 5: Sự thánh thiện của Gia Đ́nh nhằm phục vụ Tin Mừng
NHỮNG BÀI ĐỌC THÊM
  Cùng Mẹ Suy Miệm 14 Chặng Đàng Thánh Giá...
CẦU NGUYỆN CHO NHAU
   
THÔNG BÁO TIN TỨC
   

 

 

Thiên Chúa T́nh Yêu

Thưa quí anh chị,

Từ bé chúng ta đă được nghe, đọc, suy niệm và chia sẻ rất nhiều về T́nh Yêu Thiên Chúa. Dù vậy, t́nh yêu ấy vẫn là điều ǵ đó rất bí ẩn, thiêng liêng, diệu huyền mà con người không bao giờ lư giải được.

Và hôm nay, khi bước vào nhà Chúa, màu tím u buồn bao phủ không gian làm ḷng chúng ta chùng xuống; các tượng thánh phủ khăn tím, chủ tế mặc lễ phục tím, kinh nguyện phụng vụ, những bài thánh ca cũng đậm sắc tím. Sắc tím muôn thuở là buồn hiu hắt, là một sự gợi nhớ những chuyện dang dở, chia ly. Giáo hội dùng sắc tím để kêu gọi chúng ta sám hối đồng thời cũng nhắc nhở chúng ta kính nhớ một chuyện t́nh…

   Ngày xa xưa ấy, khi chúng ta c̣n trong cơi vô minh, hoặc chỉ là những hạt bụi bay trong không gian… th́ Thiên Chúa, Vua của T́nh yêu đă yêu thương, ấp ủ, sinh dựng, nuôi dưỡng chúng ta trong thiên ân. Rồi Ngài cất nhắc chúng ta lên làm con cái, làm bạn hữu nghĩa thiết của Ngài. Ngài tặng ban t́nh yêu cho chúng ta bằng mọi cách. Và phương thế hoàn hảo nhất là Ngài đă tặng ban chính Người Con Một của Ngài ‘Chúa Ngôi Hai’ Đấng đă chấp nhận xuống thế để mang lấy thân phận con người yếu hèn v́ yêu, và hiến thân v́ yêu bằng cái chết đau thương đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại. Để những ai tin nhận Ngài th́ Ngài ban cho họ Sự Sống.

T́nh yêu thật phải xuất phát từ trái tim và đi đến trái tim. T́nh yêu chân chính phải được xây dựng trên nền tảng vô vị lợi. Để t́nh yêu được sống, triển nở và tồn tại th́ phải biết hy sinh v́ “Không có t́nh yêu nào cao cả hơn t́nh yêu của người đă hy sinh tính mạng v́ bạn hữu của ḿnh” (Ga 15.13). Thiên Chúa của chúng ta là Thiên Chúa t́nh yêu, và v́ yêu nên Ngài đă trao ban cho nhân loại Người Con Yêu Cực Thánh của Ngài một cách hoàn toàn nhưng không; và Người Con của Ngài đă hoàn toàn tự hiến ḿnh trên Thánh Giá để cứu rỗi chúng ta, cho chúng ta được sống. C̣n chúng ta, có bao giờ biết t́m về chốn thinh lặng trong tâm hồn để suy niệm, kính nhớ vị Vua T́nh Yêu và cũng là Người Yêu của chúng ta chăng? Có khi nào chúng ta tự hỏi: Thiên Chúa đă yêu thương chúng ta như thế nào? Ngài tặng ban Chúa Ngôi Hai cho nhân loại để làm ǵ? Và Người đến thế gian để làm ǵ? Ba mươi năm sống nghèo nàn, thầm lặng tại Nagiarét dạy ta điều ǵ? Vất vả ngược xuôi trên con đường truyền giáo cho chúng ta bài học ǵ? Chúa Ngôi Hai đă đi tận cùng con đường khổ h́nh v́ chúng ta như thế nào?

Giáo Hội kính nhớ Sự Thương Khó của Chúa để nhắc nhở chúng ta điều ǵ? Người bị bắt, bị kết tội, bị đánh đập, xỉ nhục, vác thập giá, đội măo gai, bị đóng đinh, chết đau thương trần truồng, treo thân chơ vơ trên thập giá giữa hai tên trộm cướp nơi đồi hoang tím lạnh để chúng ta được ǵ?

Một cuộc t́nh đẫm máu nhất, đau thương nhất, đẹp ngời sự hy sinh cao cả nhất trong lịch sử nhân loại để bao phủ nhân loại trong t́nh yêu, để đưa nhân loại về Bến T́nh Yêu Bất Diệt. Vậy, c̣n t́nh yêu nào đẹp hơn, thiêng liêng hơn, cao trọng hơn, huyền dịu, bao la hơn t́nh Chúa yêu con người?

Mùa Chay Thánh đă về. Mẹ Giáo Hội nhắc chúng ta: “Hăy quay về với Chúa là Thiên Chúa các ngươi, v́ Người nhân lành và từ bi” (Joel 2,12). Vâng! Thưa Mẹ, con sẽ quay về, về với Thiên Chúa bởi Ngài là Thiên Chúa của t́nh yêu, con sẽ quay về ngay hôm nay, trong giờ phút này. Con quyết tâm dùng t́nh yêu để đáp đền t́nh yêu bằng chính những việc làm nhỏ nhặt, thường ngày trong đời sống của con. Con sẽ làm những điều tốt đẹp đem lại nụ cười và hạnh phúc cho anh em con, và con sẽ làm với hết tâm t́nh v́ ḷng yêu mến Chúa là Thiên Chúa T́nh yêu; Ngài cần t́nh yêu chứ không cần hy lễ…

BBT

 

Trở về mục lục >>

 

Đức Giêsu Hiển Dung

(Lc 9, 28b-36 – CN II MC - C )

   9:28Khoảng tám ngày sau khi nói những lời ấy, Đức Giê-su lên núi cầu nguyện, đem theo các ông Phê-rô, Gio-an và Gia-cô-bê. 9:29Đang lúc Người cầu nguyện, dung mạo Người bỗng đổi khác, y phục Người trở nên trắng tinh chói loà. 9:30Và ḱa, có hai nhân vật đàm đạo với Người, đó là ông Mô-sê và ông Ê-li-a. 9:31Hai vị hiện ra, rạng ngời vinh hiển, và nói về cuộc xuất hành Người sắp hoàn thành tại Giê-ru-sa-lem. 9:32C̣n ông Phê-rô và đồng bạn th́ ngủ mê mệt, nhưng khi tỉnh hẳn, các ông nh́n thấy vinh quang của Đức Giê-su, và hai nhân vật đứng bên Người. 9:33Đang lúc hai vị này rời xa Đức Giê-su, ông Phê-rô thưa với Người rằng: "Thưa Thầy, chúng con ở đây, thật là hay! Chúng con xin dựng ba cái lều, một cái cho Thầy, một cái cho ông Mô-sê, và một cái cho ông Ê-li-a". Ông không biết ḿnh đang nói ǵ. 9:34Ông c̣n đang nói, th́ bỗng có một đám mây bao phủ các ông. Khi thấy ḿnh vào trong đám mây, các ông hoảng sợ. 9:35Và từ đám mây có tiếng phán rằng: "Đây là Con Ta, người đă được Ta tuyển chọn, hăy vâng nghe lời Người!" 9:36Tiếng phán vừa dứt, th́ chỉ c̣n thấy một ḿnh Đức Giê-su. C̣n các môn đệ th́ nín thinh, và trong những ngày ấy, các ông không kể lại cho ai biết ǵ cả về những điều ḿnh đă thấy.

 1.- Ngữ cảnh

   Đây là biến cố cuối cùng trong thời gian hoạt động tại Galilê (3,1–9,50): Đức Giêsu đang ở tại một khúc quanh quan trọng trong sứ mạng; công việc rao giảng tại Galilê đă kết thúc; Phêrô mới đây đă tuyên xưng Người là “Đấng Kitô của Thiên Chúa” (9,20) và nhân dịp đó, Người đă củng cố thêm hiểu biết của các môn đệ bằng cách loan báo cuộc Thương Khó (9,22). Cũng giống như ở Mc 9,2-8, truyện Hiển Dung của Đức Giêsu trong TM III (9,28-36) đi theo sát lời Đức Giêsu nói về đời môn đệ. Cuộc Hiển Dung cho các môn đệ được thấy trước vinh quang của Đấng Phục Sinh, vinh quang Nước Trời.

 

2.- Bố cục

 Bản văn có thể chia thành ba đơn vị:

1) Hoàn cảnh của cuộc Hiển Dung (9,28);

2) Cuộc Hiển Dung (9,29-35);

3) Kết thúc cuộc Hiển Dung (9,36).

 3.- Vài điểm chú giải

 - dung mạo Người đổi khác (29): Cụm từ này đă thay thế cho động từ “được biến h́nh” (metamorphôthê ) trong Mc (9,2) và Mt (17,2) để tránh những truyện về hóa thân, hóa kiếp trong thần thoại ngoại giáo.

 - có hai nhân vật (30): V́ được giới thiệu là “hai nhân vật, hai người”, ta có thể nghĩ đến “hai người mặc áo trắng” trong truyện Phục Sinh (24,4) hoặc trong truyện Thăng Thiên (Cv 1,10). Như thế, quả thật Môsê và Êlia là hai chứng nhân của Đức Giêsu, nhưng ở đây, hai vị có mặt trong tư cách là những nhân vật thuộc thiên giới, nhằm loan báo vinh quang tương lai của Đức Kitô. Và nếu vậy, quang cảnh này trước hết là một h́nh ảnh báo trước cuộc Lên Trời (x. Cv 1,9: đám mây).

 - Xuất hành (31): Rất có thể tác giả Lc coi toàn bộ Thương Khó – Phục Sinh – Thăng Thiên là một cuộc Xuất Hành mới, đi từ Giêrusalem cứng tin (# Ai-cập) mà vào Vinh quang (# Đất hứa).

 - vinh quang (32): Lc là tác giả duy nhất sử dụng từ “vinh quang” ở đây. Kiểu ngài nối kết Khổ Nạn với Vinh quang ở đây rất gần với truyện Ga 12,27-28 (vẫn được coi như tương tự với truyện Hiển Dung trong các TMNL ).

 - thật là hay (33): Hay cho ai? Dù sao, ta hiểu là Phêrô không hiểu rơ hoàn cảnh và mơ ước kéo dài t́nh trạng này.  

 - đám mây (34): Phải chăng đám mây bao phủ cả các môn đệ, nên các ông mới sợ (sợ chết?) có bao phủ ba nhân vật kia không? Nhưng bản văn lại nói là “từ đám mây có tiếng phán ra”. Vậy có lẽ các môn đệ ở ngoài đám mây.  Nhưng dù thế nào, đám mây thường đi liền với cuộc thần hiển (x. Xh 16,10; 19,9.16; 24,15-16; x. Lv 16,2; Ds 11,25) và được coi như nơi ở (shơkinâh trong sách Talmud, có nghĩa là “sự hiện diện cũa Thiên Chúa”) của Thiên Chúa. Khi thấy đám mây xuất hiện và dường như c̣n bao trùm lấy ḿnh, các môn đệ kinh hăi.

 - Người được Ta tuyển chọn (35): Xem các “Bài ca về Người Tôi Trung”: Is 42,1; 49,7. 

 - trong những ngày ấy (36): nghĩa là trong thời gian Đức Giêsu đi hoạt động. Công thức này đối lại những ǵ được kể sau này, sau khi Đức Giêsu đă sống lại.

 4.- Ư nghĩa của bản văn

 * Hoàn cảnh của cuộc Hiển Dung (28)

   Cả ba môn đệ Phêrô, Gioan và Giacôbê vừa chứng kiến Đức Giêsu làm cho con gái ông Gia-ia sống lại (8,51-56), nay Người lại cho các ông được chứng kiến trước vinh quang phục sinh của Người, để giúp các ông hiểu ư nghĩa của những thử thách sắp đến.

   Người đưa các ông đi ra khỏi t́nh trạng ồn áo huyên náo của cuộc sống thường ngày và đưa các ông lên núi, biểu tượng của thế giới Thiên Chúa.

 * Cuộc Hiển Dung (29-35)

   Đang khi Người cầu nguyện, th́ dung mạo Người đổi khác: cuộc hiển dung là như kết quả của việc cầu nguyện. Các môn đệ cần hiểu rằng: phải để cho Đức Giêsu đưa vào nơi thanh vắng, đến gần Thiên Chúa và cầu nguyện th́ mới có thể hiểu được mầu nhiệm bản thân và sứ mạng của Người. “Dung mạo Người đổi khác, y phục Người trở nên trắng tinh chói ḷa”: các môn đệ nhận ra rằng dung mạo quen thuộc con người trần gian của Đức Giêsu lâu nay không diễn tả hết tất cả thực tại của Người; các ông hiểu rằng Người không bị khóa kín trong những giới hạn của thực tại trần gian. Đàng sau dung mạo phàm trần của Đức Giêsu, có ẩn giấu thực tại siêu phàm thần thiêng của Người.

   Không những các giới hạn của thực tại trần thế bị vượt quá, các biên cương của thời gian cũng bị lướt qua. Bên cạnh Đức Giêsu, xuất hiện hai ông Môsê và Êlia, hai dung mạo nổi bật trong lịch sử dân Ít-ra-en. Các ông đại diện cho mối quan tâm săn sóc của Thiên Chúa và cuộc chiến đấu của Người cho dân tộc này. Hai ông đă đàm đạo với Đức Giêsu về “cuộc xuất hành” sắp hoàn thành. Lc coi toàn bộ Thương Khó–Phục Sinh–Thăng Thiên là một cuộc Xuất Hành mới, đi từ Giêrusalem cứng tin (# Ai-cập) mà vào Vinh quang (# Đất hứa). Nhưng toàn bộ cuộc Xuất Hành mới này liên hệ đến lịch sử Ít-ra-en (đại diện bởi Môsê và Êlia); Đức Giêsu sẽ đưa lịch sử của những mối quan tâm săn sóc của Thiên Chúa đối với dân Người đến chỗ hoàn tất.

   Những điều đă xảy ra cho tới nay, bây giờ được chuẩn nhận và được biểu lộ trong ư nghĩa tṛn đầy bởi tiếng từ trời ngỏ lời với ba môn đệ. Ngoài lời tuyên xưng của Phêrô nhằm nh́n nhận Đức Giêsu là Đấng Kitô (9,20), bây giờ các môn đệ hiểu quan hệ của Đức Giêsu với Thiên Chúa nhờ lời mạc khải từ trời: sau khi bày tỏ cho biết Đức Giêsu là Con của Ngài, Thiên Chúa c̣n tuyên bố về t́nh yêu của Ngài đối với Đức Giêsu. Đồng thời các ông được bảo cho biết hậu quả của quan hệ đó là thế nào: trên nền tảng là tư cách của Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, bổn phận nghe lời Người được xác định.  

 * Kết thúc cuộc Hiển Dung (36)

   Sau đó, các môn đệ giữ thinh lặng, không tiết lộ ǵ về những chuyện đă xảy ra trên núi. Ghi nhận sự thinh lặng này đúng ra là một câu tóm truyện Mc (Mc 9,9-13). Các ông cứ giữ thinh lặng như thế cho đến khi Đức Giêsu đă sống lại.

 + Kết luận

Biến cố Hiển Dung là trạm trung chuyển giữa ánh sáng loé lên quá mau của Phép Rửa và ánh sáng chói lọi của sáng ngày Phục Sinh. Trong cuộc hành tŕnh lên Giêrusalem, Đức Giêsu thấy ḿnh được tiếng Chúa Cha chuẩn nhận trong sứ mạng Mêsia chịu đau khổ: Người là Lời mà ta phải lắng nghe, là vị hướng đạo chắc chắn trong cuộc Xuất Hành cuối cùng đưa đến cuộc sống viên măn.

 5.- Gợi ư suy niệm

   1. Giống như ba môn đệ ngày hôm ấy, chỉ khi để cho Đức Giêsu dẫn đưa vào nơi thanh vắng và đến gần Thiên Chúa, chúng ta mới ở trong hoàn cảnh thích hợp, thuận lợi, mà bước một bước quyết định mới để hiểu rơ hơn mầu nhiệm bản thân Đức Giêsu.

2. Đức Giêsu đă biến h́nh trước mặt các ông. Điều xảy ra trong truyện này không nhắm trước tiên cho Đức Giêsu, nhưng là cho ba môn đệ. Không phải Người là Đấng phải thực hiện một kinh nghiệm hoặc phải biết một điều ǵ mới, nhưng chính các ông mới phải tiến tới trong việc hiểu biết Người và tin tưởng vào Người.

3. Sự kiện Đức Giêsu xuất hiện giữa Môsê và Êlia và hai ông đàm đạo với Người cho các môn đệ một bằng chứng nữa để có thể nhận ra Đức Giêsu là ai: Người thuộc về thế giới Thiên Chúa. Nhưng Người cũng thuộc về lịch sử dân Chúa, một lịch sử được Thiên Chúa hướng dẫn.  Đức Giêsu không xuất hiện bất ngờ như một sao băng không hề có liên hệ ǵ với quá khứ, nhưng Người tháp vào trong lịch sử dài gồm những săn sóc ân cần của Thiên Chúa đối với dân Ngài, và đưa lịch sử này đến chỗ hoàn tất, và như thế Người cũng đưa sứ mạng của Môsê và Êlia đến chỗ hoàn tất

4. Cho tới này, Ít-ra-en đă nghe lời Môsê và Êlia, nay họ phải nghe lời Đức Giêsu. Bằng bản thân, bằng hoạt động và bằng lời nói của Người, Đức Giêsu đưa đến cho dân chúng sứ điệp chung kết của Thiên Chúa. Nhờ có Người làm trung gian, chúng ta biết mọi điều mà Thiên Chúa có ư làm cho chúng ta và chúng ta biết cách xử sự với Thiên Chúa.

Lm. F.X. Vũ Phan Long, ofm

 

Trở về mục lục >>

 

Linh Đạo Phan Sinh Tại Thế

Chương III Của Luật 1987

Thưa quư anh chị.

“Tháp nhập vào Huynh Đệ Đoàn địa phương và tham gia vào đời sống huynh đệ là những yếu tố thiết yếu của việc tháp nhập vào Ḍng Phan Sinh Tại Thế”. Đó là qui định trong Tổng Hiến Chương, điều 53.3. Ở đây, chúng ta hiểu hai vấn đề bổ sung cho nhau: Tháp nhập và tham gia vào đời sống. Thực ra, một cành cây không thể sống một ḿnh, mà phải tháp nhập vào thân. Tháp là gắn vào, nhập là vào bên trong, và ḥa ḿnh vào với thân. Mà nếu tháp nhập vào thân mà không hút nhựa sống của thân, không nẩy sinh đọt, mầm, lá... Cành cây ấy thế nào cũng héo khô và bị đào thải.

Chương III của Luật 1978, từ điều 20 đến 26 qui định đời sống trong Huynh đệ đoàn, cụ thể là việc tổ chức và điều hành và sinh hoạt của các Huynh đệ đoàn các cấp.

1. Điều 20: Sống thành Huynh đệ đoàn: Ngay từ khi chưa được thành lập, cũng đă “quây quần chung quanh những tu viện chính thức,... một đoàn thể...cùng chung một lối sống, một tinh thần” (x. Thánh Phanxicô Assisi, tác giả Antôn và một nhóm anh em, ấn bản 2005, trang 238.) Từ rất sớm, Ḍng Phan Sinh Tại Thế đă có qui mô “toàn cầu”, với 4 cấp. Điều 20 này minh xác: “Ḍng Phan Sinh Tại Thế qui tụ các huynh đệ đoàn thuộc nhiều cấp khác nhau: huynh đệ đoàn địa phương, miền, quốc gia và quốc tế. Mỗi Huynh đệ đoàn là một pháp nhân trong Hội Thánh. Các huynh đệ đoàn ở các cấp khác nhau ấy được liên kết và thống nhất với nhau...”

Hăy nghe Tổng Hiến Chương, điều 28 triệt 2: ... “Ḍng Phan Sinh Tại Thế lan rộng ra thành những Huynh đệ đoàn thuộc các cấp khác nhau, với mục đích cổ vơ một cách có qui củ sự hiệp nhất và hợp tác hổ tương giữa các anh chị em với nhau, cũng như cổ vơ sự hiện diện tích cực và mang tính cộng đoàn của anh chị em trong Hội Thánh địa phương cũng như toàn cầu.” Ở đây, chúng ta thấy rơ mục đích của việc cơ cấu “thành Huynh đệ đoàn” của những người Phan Sinh Tại Thế là hiệp nhất và Hợp tác hổ tương, giúp nhau hiện diện tích cực theo tính cách cộng đoàn trong Hội Thánh.

a) Hiệp nhất

a1. Về mặt tổ chức: Chúng ta biết khi Cha Thánh Phanxicô lập Ḍng Ba, chỉ có một mô thức duy nhất cho những người muốn sống đời đền tội giữa chợ đời, nhưng về sau, tuy linh đạo không thay đổi, nhưng đă có sự thay đổi về mặt tổ chức. Đó là do (hồi ấy) các Huynh đệ đoàn Ḍng Ba chịu ảnh hưởng và giám sát của Anh Em Ḍng Nhất. Theo luật cũ, Vị Tu sĩ Ḍng I “điều khiển” Huynh đệ đoàn Ḍng III với tư cách một Giám Đốc, mà Ḍng Nhất th́ lại phân ra thành hai nhánh: Nhánh Tuân Thủ và Nhánh Tu Viện; nhánh Tuân thủ lại tách ra một nhánh nữa, gọi là nhánh lúp dài. Như vậy, Ḍng III không thể liên kết với nhau thành một khối được. Theo luật hiện hành (Đức Phaolô VI, 1978), các Huynh đệ đoàn được gom lại thành một khối mà thôi, gọi là Ḍng Phan Sinh Tại Thế, được sự chăm sóc tinh thần của Ḍng I (cả 3 nhánh) hoặc của Ḍng III tại viện. Như vậy, Sự Hiệp Nhất  về mặt tổ chức ở đây là điều mới mẻ, v́ chỉ có một Hội Đồng Phan Sinh Tại Thế Quốc Tế duy nhất, và một Tổng Phục Vụ duy nhất. Sự hiệp nhất dễ bảo toàn, v́ Ḍng Phan Sinh Tại Thế không chịu ảnh hưởng nhiều từ phía Ḍng I về mặt hành chính, tài chính cũng như nhân sự, mà chỉ hưởng nhờ việc Trợ Úy tinh thần (Sẽ nói sau khi đề cập đến điều 26 “Ḍng I giúp tinh thần”).

a2. Về mặt tinh thần: Trong loạt bài trước chúng tôi triển khai rộng việc anh chị em Phan Sinh Tại Thế sống t́nh huynh đệ Hiệp Nhất. Tổng Hiến Chương điều 29 triệt 1 có đoạn: “Các Huynh đệ đoàn này được hợp lại và liên kết với nhau... đáp ứng nhu cầu hiệp thông giữa các Huynh đệ đoàn, nhu cầu phối hợp cộng tác....”. Để tăng khả năng Hiệp thông về mặt tinh thần, các vị Trợ Úy cũng đă họp thành Hội Đồng. Ngay một số Miền cũng có Hội Đồng Trợ Úy Miền, cùng nhau vạch những chương tŕnh huấn luyện, giúp tinh thần cho các Huynh đệ đoàn; từ đó, việc hướng dẫn tinh thần được thống nhất với nhau hơn, nhất là khi cần triển khai một chương tŕnh của Giáo Hội, khi cần cổ vơ sự hiện diện tích cực và mang tính cộng đoàn của anh chị em trong Hội Thánh địa phương cũng như toàn cầu.

      b) Hợp tác hổ tương: cũng như trong một thân thể, một tổ chức tất nhiên thế nào cũng có chỗ mạnh, chỗ yếu. V́ t́nh huynh đệ, v́ tính hiệp nhất, anh chị em giúp đỡ nhau về mọi mặt nhất là trong lời cầu nguyện và hy sinh, giúp nhau làm chứng cho Chúa Kitô trong môi trường sống. Để giúp hữu hiệu hóa việc hợp tác hổ tương, Tổng Hiến Chương điều 32 khuyến cáo “các anh/chị Phục vụ và các thành viên Hội đồng phải sống và cổ vơ tinh thần và sự hiệp thông đích thực giữa các anh chị em,

 Phêrô Nguyễn Đức Tiến; sfo

 

Trở về mục lục >>
 

Bài 40: Dân Do Thái Tại Ai-Cập

(Xh 1, 1-22)

Câu chuyện về các tổ phụ được kể trong sách Sáng thế là phần khởi đầu lịch sử của Dân Thiên-Chúa. Ap-ra-ham, một người ngoại giáo được Thiên Chúa chọn để trở thành người cha của một dân tộc đông đảo. Đến đời cháu nội của ông Ap-ra-ham là Gia-cóp  th́ dân Do thái gặp đói kém. Họ đă xuống đất Ai-cập và cư ngụ tại đó dưới sự che chở của ông Giu-se. Họ càng ngày càng trở nên đông đảo, đến nỗi trở thành một mối đe doạ cho dân bản xứ.

Thời gian trôi qua và một ông vua mới lên trị v́ Ai-cập: vua này không biết ông Giu-se (Xh 1,8). V́ thế thời gian dân Do thái được ưu đăi đă kết thúc. Bây giờ khởi đầu thời gian bị áp bức và phải làm nô lệ. Sách Xuất hành viết: "Người ta đặt lên đầu lên cổ con cái It-ra-en những viên đốc công để hành hạ họ bằng những việc khổ sai. Họ phải xây cho Pha-ra-ô các thành làm kho lương thực Pi-thôm và Ram-xết" (Xh 1,11).

Chính lúc đó Thiên-Chúa kêu gọi ông Mô-sê và giao cho ông sứ mạng giải phóng dân Do thái mà tác giả sách Xuất hành thường gọi là "con cái It-ra-en ". Ông đă tổ chức cuộc xuất hành và đưa con cái It-ra-en  thoát khỏi ách nô lệ của Ai cập. Biến cố này xảy ra vào khoảng năm 1270 trước công nguyên, dưới thời Pha-ra-ô Ram-xết II. Tuy nhiên đối với các tác giả viết Sách thánh, điều quan trọng không phải là sự chính xác lịch sử, mà là sự kiện Thiên-Chúa đă đích thân can thiệp một cách rạng rỡ để cứu giải dân It-ra-en và biến họ trở thành Dân riêng của Người.

Trước biến cố Xuất hành con cái It-ra-en chưa phải là một dân tộc, mà c̣n là những bộ tộc rời rạc và là những con người nô lệ. Nhờ cuộc xuất hành, họ chính thức trở thành một dân tộc có tổ chức hẳn hoi, những con người tự do và được mời gọi sống trong giao ước với Thiên-Chúa. Họ trở thành dân riêng của Thiên-Chúa.

Lm. Norbert Nguyễn Văn Khanh, ofm


Trở về mục lục >>
 

Sự Hiếu Thảo

Lạy Chúa, mùa Chay Thánh đă trở lại cho ơn Chúa lại đến với chúng con. Xin giúp chúng con luôn ư thức rằng: Trần gian chỉ là cơi tạm. Đời sống chỉ là phù hoa. Mọi vinh quang, phú quư ở đời này cũng sẽ qua đi. Và chúng con không thể mang theo những ǵ thuộc về Cơi Đời khi về với Chúa được. Xin giúp chúng con biết đứng vững trước vinh quang chóng qua. Biết cầm ḷng trước phú quư chóng tàn. Biết nói không trước đồng tiền bất chính. Biết lướt thắng trước dục vọng thân xác. Biết sám hối và quay về với ḷng nhân hậu Chúa… v́ chỉ có Chúa mới là Vĩnh Cữu. Chỉ có Chúa mới cho chúng con sự sống đời đời và; Lạy Thiên Chúa từ nhân, Ngài chính là gia nghiệp của chúng con. Amen.

T; sfo

 

Trở về mục lục >>
 

 

Bài 5: Sự thánh thiện của Gia Đ́nh nhằm phục vụ Tin Mừng

1. Đọc Kinh Thánh: (Mc 16,14-18): 14Sau cùng Người tỏ ḿnh ra cho chính Nhóm Mười Một đang khi các ông dùng bữa. Người khiển trách các ông không tin và cứng ḷng, bởi lẽ các ông không chịu tin những kẻ đă được thấy Người sau khi Người chỗi dậy. 15Người nói với các ông: “Anh em hăy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. 16Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; c̣n ai không tin, th́ sẽ bị kết án. 17Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có ḷng tin: nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. 18Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhắm thuốc độc, th́ cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, th́ những người nầy sẽ được mạnh khỏe”

2. Suy Tư: Do bởi Bí Tích Hôn Phối, trên đó gia đ́nh đặt nền tảng, và từ đó t́m thấy lương thực, gia đ́nh liên tục nhận được sức sống từ Chúa Giêsu và được Người mời gọi và thúc đẩy đối thoại với Thiên Chúa qua các Bí Tích, qua việc dâng hiến đời sống ḿnh và qua việc cầu nguyện.

Bí Tích Hôn Phối là nguồn mạch đặc biệt và phương thế độc đáo để thánh hóa đôi vợ chồng và gia đ́nh Kitô hữu. Bí Tích Hôn Phối lấy lại và diễn tả cụ thể ân sủng thánh hóa của phép Thánh Tẩy. Nhờ mầu nhiệm Sự Chết và Sống Lại của Đức Kitô, mà các đôi vợ chồng được thông phần theo một cách thức mới nhờ hôn nhân, t́nh yêu vợ chồng được tinh luyện và nên thánh thiện: Chúa thấy là cần ban cho t́nh yêu này những quà tặng đặc biệt, những quà tặng của ân sủng và của đức ái có khả năng chữa lành, hoàn thiện và nâng cao.

3. Đức Giêsu hằng ở lại với họ:

Quà tặng của Đức Giêsu Kitô không chấm dứt sau khi cử hành Bí Tích Hôn Phối, nhưng đúng hơn đồng hành với đôi vợ chồng trong suốt cuộc sống của họ. Đức Giêsu Kitô hằng ở lại với họ, để -như Người đă yêu mến Hội Thánh và hiến ḿnh cho Hội Thánh- các đôi vợ chồng có thể yêu nhau và trung thành với nhau măi măi qua việc hiến thân hổ tương... V́ lư do đó, các đôi vợ chồng Kitô hữu có một Bí Tích đặc biệt nhờ đó họ được củng cố và nhận được một sự thánh hiến qua các bổn phận và phẩm giá của bậc sống họ. nhờ Bí Tích này, các đôi vợ chồng chu toàn những bổn phận của hôn nhân và gia đ́nh, họ được tràn đầy Thánh Khí của Đức Kitô, Đấng luôn đổ đức tin, đức cậy và đức ái trong cuộc đời họ. V́ thế họ càng ngày càng tiến bộ trên con đường hoàn thiện, cũng như thánh hóa lẫn nhau, và do đó cùng góp phần vào việc tôn vinh Thiên Chúa.

Các đôi vợ chồng và cha mẹ Kitô hữu cũng được bao gồm trong lời mời gọi mọi người nên thánh. Đối với họ, lời mời gọi này được xác định rơ bởi việc cử hành Bí Tích và được thể hiện cụ thể trong các thực tại riêng của đời sống hôn nhân và gia đ́nh. Chính từ nơi đó mà sinh ra ân sủng và cần đến một linh đạo hôn nhân và gia đ́nh đích thực và sâu sắc, được gợi hứng từ những chủ đề sáng tạo, giao ước, Thánh giá, sống lại và dấu chỉ.

4. Làm chứng cho “Tin Mừng của gia đ́nh” cũng như ân sủng và bổn phận sống mỗi ngày sự thánh thiện đă tuôn đổ trên đôi vợ chồng từ Bí Tích Hôn Phối, cũng vậy ân sủng và bổn phận luân lư đ̣i buộc họ biến đổi toàn thể đời sống thành một “hy tế thiêng liêng” cũng phát xuất từ Bí Tích đó. Điều Công Đồng nói về người giáo dân cũng áp dụng cho các đôi vợ chồng Kitô hữu và cha mẹ, đặc biệt trong lănh vực các thực tại trần thế và nhất thời vốn là đặc điểm của đời sống họ: là những người thờ phượng qua lối sống thánh thiện ở mọi nơi, người giáo dân biến thành thế gian cho Thiên Chúa.

Trong thời đại chúng ta cũng như trong quá khứ, không thiếu những nhân chứng về “tin mừng của gia đ́nh”, dù họ không được biết đến hoặc chưa được Hội Thánh nâng lên hàng chư thánh. Trong Hội Thánh kho tàng của gia đ́nh đă được giao phó trước tiên và nhất là cho các chứng nhân: cho những người cha, người mẹ, con cái là những người nhờ gia đ́nh đă khám phá con đường của ơn gọi nhân bản và Kitô hữu của họ, chiều kích của “con người nội tâm” (Ep 3,16) mà Thánh Tông Đồ nói đến, và v́ thế đă đạt đến sự thánh thiện. Thánh Gia là khởi đầu cho vô số các gia đ́nh thánh thiện khác. Công Đồng nhắc lại rằng sự thánh thiện là ơn gọi của mọi người đă lănh phép Thánh Tẩy.

5. Trao đổi

a) Các đội vợ chồng cần được mời gọi sống thánh thiện nghĩa là làm sao?

b) Làm thế nào để có thể đáp trả lời mời gọi này trong cuộc sống mỗi ngày?

Lm. Irênê Nguyễn Thanh Minh, ofm

 

Trở về mục lục >>

 

VẦN THƠ TÂM T̀NH

Chúa Chọn Ai?

Vào nhà thờ đi lên hàng thứ nhất

Ngay bàn đầu con lật Thánh Kinh

Hôm nay thanh tịnh hăm ḿnh

Chay ḷng kiên thịt giữ ǵn luật chung

Ngày hai buổi con đều dự lễ

Chuổi Mân Côi luôn để bên ḿnh

Gia đ́nh sốt sắng đọc kinh

Trung thành theo Chúa hết t́nh chẳng sai

Có dư tiền con c̣n bố thí

Bỏ vào thùng ủng hộ người nghèo

Điều thiện, bác ái con theo

Là người chức sắc: Pharisiêu mà!

Đứng ở cuối nhà thờ lặng lẽ

Chắp hai tay thỏ thẻ tŕnh tâu:

Chúa ơi con măi u sầu

Là người thu thuế dăi dầu nắng mưa

Giờ của Chúa con luôn lấy bớt

Bận việc đời thưa thớt đọc kinh

Làm sao cho trọn chữ t́nh

Vai mang trách nhiệm phận ḿnh chưa xong

Lỗi tại con là người lạnh nhạt

Đến cùng Cha thối thác cho qua

Xin ngài mở lượng hải hà

Con tin rằng: Chúa đă tha tội rồi.

Hồ Nguyễn

Con ngước mắt nh́n lên tượng Gia Thất

Thánh Giuse cung kính chấp hai tay

Trong mắt Ngài sao lấp lánh ai cài?

Như chứa đựng cả bầu trời hạnh phúc

   Ngài có buồn khi ḷng chưa nhận thức?

Hiền thê ḿnh vừa cưới đă mang thai

Được Thiên Thần báo mộng cho Ngài hay

Đức Trinh Nữ thụ thai theo ư Chúa

Ngài vui vẻ không đắn đo chọn lựa

Vững niềm tin vào Thiên Chúa ba Ngôi

Đường lánh nạn xứ Egưp xa xôi

Ngài bất chấp hiểm nguy và gian khó

Nghề thợ mộc kế sinh nhai nho nhỏ

Người cha hiền, người chồng tốt thủy chung

Suốt một đời lặng lẽ và kiên trung

Tṛn nhiệm vụ cho Chúa Cha giao phó

Để mỗi năm trong tháng Ba ghi rơ

Giáo Hội mừng kính Thánh Cả Giuse

Xin Ngài luôn phù hộ và chở che

Từng gia thất măi vững bền hạnh phúc

Hồ Nguyễn

Thương tiếc Cha PHÊRÔ TRƯƠNG TRỌNG NGHĨA

Đêm tịch mịch giữa rừng thông lạnh gía

Trái tim nồng đốt cháy bởi hồng ân,

Giờ rất thánh đêm tịnh tâm yên tĩnh

Chúng con chờ “ơn mưa mốc” qua Cha.

Julian với đường xa, ḱa dốc núi

Vượt đồi đèo, Cha ban phát hồng ân,

Từ Chúa Giêsu và cũng của Chúa Giêsu

Con nhận lănh, ôi muôn vàn qúy hóa.

Cha luôn đến không một lần quên sót

Dù tuổi đời đă đến lúc nghỉ ngơi,

H́nh ảnh Cha lưng thẳng mắt sáng ngời,

Trong những bộ áo quần đen đôn hậu

Len y kia che đỡ tấm thân gầy

Bêrê nọ chống những ngày sương gío.

Từ Cộng Đồng, Phong Trào, lẫn Ḍng Ba

Luôn cả việc xức dầu cho kẻ liệt,

Có khi nào Cha từ chối đâu Cha

Chúa ghi nhận chúng con đây đa ta.

Tấm gương vàng con cúi phục mến thương

Cha ít nói, nhưng lời cha vô gía

Cha ít cười, nhưng ánh mắt thân thương

Tư tưởng Cha sâu thẳm chứa ư ngàn

Bài học ấy làm sao con quên được.

Ngày Cha đi có mưa phùn gío lộng

Có t́nh thương có nối tiếc vấn vương

Cha đi nhé hưởng một đời no thỏa

“Vĩnh biệt Cha xin gặp lại nước Trời”

Anna Đặng Liên Hương

Có những ngày, và có những lần;

Tôi đi rong chơi trên đường trần vô định.

Tôi đi, đi măi, và đi măi;

Thế là… quên mất đường về…

Rồi một lần giật ḿnh;

Rồi nhiều lần hoảng hốt…

Gọi người thân; Không một ai đáp lời.

Thế mới biết: người thân không hẳn là người thân!

Rồi một ngày muốn trở về;

Đường về chông gai giăng tứ phía.

Lại bơ vơ, chợt nghĩ đến bạn bè;

Cất tiếng gọi… tiếng gọi rơi vào hư không.

Thế mới biết: Trần gian không dễ t́m được một tấm chân t́nh! 

Rồi một ngày rong ruỗi;

Lang thang trên ngọn đồi hoang vu.

Cúi đầu suy nghĩ về ḿnh, về người,

Chợt hiểu ra, cội rễ con người là Bất Toàn:

Trong bất toàn có phản phúc.

Trong phản phúc có vong ân…

Ngẩng nh́n lên.

Ồ! Một người bị treo trên thập tự!

Người là ai?

Sao lại chết quá đau thương?

Người là ai? Ừ! Biết rồi!

Đă mấy ngàn năm đi qua, Nhân loại chỉ nói về Một Người.

Cả vạn vạn con người, Cũng chỉ nói về Một Người:

Thiên Chúa Ngôi Hai;

Đức Vua T́nh Yêu,

Đấng đă chết v́ yêu, v́ những phản phúc, vong ân của anh của tôi… Vậy mà tôi cứ măi đi t́m đâu đâu những mối t́nh….

Lạy Chúa Ngôi Hai con xin quay về.

Về với Đấng Bao Dung, Đấng Muôn Đời Từ Ái.

Hỡi những ai cô đơn, lầm lạc xin hăy quay về.

Bởi nơi Người không có đau khổ, không hơn thua, ghen ghét, oán thù. Nơi Người là Hạnh Phúc Vĩnh Cữu.

Bởi v́ Người là Vua của T́nh Yêu.

Bởi t́nh yêu Người không thời hạn và vô ranh giới.

Hỡi những ai đă là người, xin hăy quay về…

***

Tôi muốn quỳ bên chân Người;

Để lắng nghe tiếng ḷng Người thổn thức; Người đang cô đơn…

Tôi muốn quỳ dười chân thập tự;

Để nh́n thấy những gịng máu hồng tươi của Người tuôn chảy;

V́ những vô tâm của con người…

Tôi muốn chạm đến những dấu đinh nơi thân thể Chí Thánh;

Để thấy rơ hơn sự ác tâm của loài người;

Và tôi muốn ngồi bên Mẹ;

Để được cùng Mẹ khóc;

Khóc cho tội lỗi tôi, tội lỗi anh, tội lỗi của toàn nhân loại…

Mai Khôi

Cùng Mẹ Suy Miệm 14 Chặng Đàng Thánh Giá

  Lourdes nằm tại miền nam nước Pháp, cách thủ đô Balê 750 cây số về hướng tây nam. Lourdes được coi như trung tâm hành hương của giáo dân ngoan đạo trên toàn thế giới. Suốt thời gian từ 12/02 đến 16/07 DL năm 1858 Thánh nữ Bernadette Soubirous đă được chứng kiến Đức Mẹ hiện ra 18 lần trong một hang động trên bờ con sông nhỏ, có tên là Gave de law, một ḍng sông phát xuất từ vùng núi Pyrénés. Bốn năm sau Giáo Hội tuyên bố nơi đây được phép thờ kính Đức Mẹ là Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội (Immaculate conception). Vương Cung Thánh Đường được xây cất sau đó vào năm 1876.

Tôi đến linh địa vào một buổi chiều mùa thu, rừng cây cỏ mây với những tia nắng thu vào buổi chiều đă bắt đầu lén lút báo hiệu một ngày sắp tàn, nhưng tuồng như khung trời nhợt nhạt ấy muốn có lời thúc giục nhân loại hăy yêu thương nhau như Thiên Chúa đă yêu thương loài người.

Chúng tôi xếp hàng vào kính viếng hang đá nơi Đức Mẹ hiện ra, cũng như mọi người khi vào trong ḷng hang đá, với tất cả niềm tin thành kính, tôi đặt cả hai bàn tay gục đầu vào những tảng đá trơn tru, mát lạnh mà ḷng dâng lên một nguồn vui khó tả. Hơn 100 năm trước Đức Mẹ đă nhiều lần đến đứng nơi đây. Măi đến khuya đoàn hành hương mới thưa vảng dần.

Sáng hôm sau dưới sự hướng dẫn của cha Linh Hướng chúng tôi cùng nhau suy ngắm 14 chặng đường Thánh Gía trên một ngọn đồi cao phía sau Vương Cung Thánh Đường. Cha Linh Hướng nhắc đi nhắc lại đường lên đồi cao dốc khó, nếu ai không đi được, có thể đứng dưới chân đồi hiệp thông cầu nguyện. Ấy vậy mà không một người nào bỏ cuộc, kể cả một vài cụ ǵa trên 80 tuổi.

Mười bốn địa điểm trên đường Thánh Gía được kiến trúc rất đẹp, rất công phu, với những tượng ảnh vô cùng sống động. Dừng chân trước mỗi địa điểm, nh́n vào thánh tượng Đức Mẹ nét mặt Mẹ u sầu, thánh tương của Chúa Giêsu đầu đội mũ gai, Chúa vác Thánh Giá, Chúa ngă xuống đất... Bằng những giọt nước mắt ăn năn thống hối đau đớn v́ tội lỗi, tôi tha thiết xin Chúa tha thứ. Tôi tha thiết nguyện xin Đức Mẹ hiệu diện với chúng con trong giờ phút này, v́ Mẹ là người đầu tiên bước đi trên con đường Thánh Gia Chúa Kitô.

Vào một buổi sáng sớm ngày thứ sáu, khi Đức Mẹ thấy Chúa Giêsu, con Mẹ được điệu ra pháp trường với một thân thể bầm dập đầy thương tích máu me bê bết, ḷng mẹ đau như một lưỡi gươm xuyên thủng qua tim, nước mắt Mẹ tuôn trào xuống hai g̣ má, có lời tuyên bố Đức Chúa Giêsu sẽ chịu đóng đinh vào Thánh Giá, nổi thống khổ tận cùng, Mẹ muốn van xin họ ngưng, nhưng Đức Mẹ biết Chúa Giêsu phải đi qua đoạn đường chông gai này... Mẹ đứng đó, lặng lẽ, âm thầm khóc. Chúa Giêsu kề vai vác cây nặng nề, nổi đau đớn của Mẹ lại dâng trào, Mẹ muốn đến gần Chúa, nhưng người ta ngăn chận. Mẹ biết, Chúa Giêsu phải đi qua đoạn đường chông gai này... Mẹ đứng đó, thinh lặng.

Nh́n thấy Chúa bị đánh đập, bị đá, bị mọi người chế nhạo, những người lính tiếp tục la hét, hành hung Chúa, Chúa ngă xuống đất. Mẹ âm thầm lặng lẽ bước theo Chúa, những bước chân của Chúa khập khểnh yếu ớt như không c̣n sức lực để bước nỗi, Chúa lại ngă xuống đất. Bây giờ đă lên đến đỉnh đồi theo Chúa. Những người lính xé áo Chúa, đặt Chúa nằm trên cây Thánh Gía và đóng đinh. Ḷng Mẹ tan nát lặng lẻ, âm thầm khóc. Ôi! Con yêu dấu của Mẹ đó sao, khi Thánh Giá được nâng cao lên, dưới chân Thánh Giá Mẹ đau đớn chứng kiến Chúa gục đầu và tắt thở. Mẹ biết Chúa Giêsu phải đi qua chặng đường chông gai này... Trong thinh lặng, Mẹ cầu nguyện và khóc trong niềm tin.

Từ khi được sứ thần truyền tin Mẹ đă thưa hai tiếng Xin Vâng, và suốt cuộc đời của Mẹ, Mẹ đă xin vâng cho đến khi Mẹ đứng dưới chân Thánh Giá. Mẹ đă cộng tác với Thiên Chúa trong chương tŕnh cứu rỗi nhân loại.

Sau mỗi lần suy niệm 14 chặng đường Thánh Giá tôi luôn được Đức Mẹ nhắc nhở: Con ơi, cuộc tử nạn của Chúa Giêsu vẫn tiếp diễn  khi con sống trong tội lỗi, trong khô khan nguội lạnh xa ĺa Chúa. Là thành niên của Ḍng Ba Phan Sinh, mẫu mực trên con đường tu đức, bằng đời sống cầu nguyện liên lĩ, có những lúc thấy ḿnh vững vàng tự tin, nhưng cũng có lúc tôi cảm thấy lo sợ, nhất là những lúc gặp nghịch cảnh.

Lạy Chúa Giêsu là đấng cứu chuộc con, xin cho con biết trông cậy và phó phác vào Chúa trong bất cứ  hoàn cảnh  nào. Xin cho con đủ hạnh phúc hay đau khổ, sung sướng hay đắng cay cũng biết đặt trọn niềm tin vào Chúa. Xin cho con trong cuộc đời. Càng gặp nhiều khó khăn thử thách, càng biết gắn bó mật thiết với Chúa và t́m thấy sức mạnh cũng như b́nh an từ chính Chúa.

Teresa L.T.T.

Lời Tâm Sự Thứ 6

 

Áo Nâu, Anh thân yêu,

Nhân ngày quốc tế phụ nữ, em xin có đôi điều tâm sự với Anh: Những ngày đầu đời em mang thai diễn ra trong thời “bao cấp”, đói nghèo và bất ổn cả tinh thần lẫn vật chất, nhưng ông bà cha mẹ em lại tỏ ra rất vui mừng: nào là mong cho có đứa cháu trai, mong cho mẹ tṛn con vuông, nào là… Rồi ngày đầu tiên em làm mẹ, em sinh một cháu trai. Mọi người chung quanh hớn hở, dành cho em và con em sự săn sóc yêu thương đặc biệt; trên khuôn mặt họ lộ hẳn niềm vui, có thể nói là họ hạnh phúc. Nhưng em th́ đầy ắp cảm giác lo âu sợ hăi lẫn lộn khó tả. Em có chút vui mừng nhưng không hẳn v́ có con trai đầu ḷng như ông bà mong ước; được làm mẹ, em có hạnh phúc, nhưng em lại lo rằng trong giai đoạn khó khăn vật chất cũng như ức chế về tinh thần, việc làm-mẹ của em có được tốt đẹp hay không, con em rồi có được nuôi dạy đàng hoàng hay không. Đầu óc em lúc ấy rối tung lên v́ xảy ra liên tục các cuộc tranh căi giữa vợ chồng, giữa những người thân, nhiều bất đồng trong cách cư xử, trong cách phát ngôn hay trong các cử chỉ; dù chỉ là một điều nhỏ nhặt nào đó cũng có thể gây căi vă. Hết 99 phần trăm là em chịu nhịn nhục, chịu thiệt tḥi. Em lại liên tưởng đến những câu vô t́nh hay hữu ư của họ: nào là “phúc đức từ mẫu”, nào là “con hư tại mẹ”, nào là “mẹ nào con nấy”, “mẹ làm sao, con bào hao làm vậy”…

Em nghĩ rằng trong nhiều gia đ́nh, những điều ấy nó đến như là việc đương nhiên phải đến. Thời gian con lớn lên, hễ con có lỡ làm điều ǵ lầm lỗi, th́ người chồng lại sẵn sàng đọc lên câu “thần chú” “con hư tại mẹ”, c̣n lúc con ngoan ngoăn, th́ lại nói rằng “con cha không học da cũng học lông, cháu ông không giống lông cũng giống cánh”. Phải chăng người phụ nữ chỉ là nô bộc, chỉ đóng vai tṛ người “nội trợ”, chỉ một mực phải ở cho có khuôn phép, phải vâng lời và tôn trọng, c̣n người chồng mới là ông chủ muốn làm ǵ th́ làm, muốn sống ra sao th́ sống ? Việc dạy dỗ con chỉ khoán trắng cho người mẹ thôi hay sao? Em thật không thể hiểu được đâu là ư nghiă của hôn nhân “hai mà một, một mà hai” (Tiêu đề cuốn Giảng Hôn Phối của linh mục Tương Giao). Nghĩ thế nhưng phần đông phụ nữ lại không đủ can đảm để phản kháng, chỉ v́ hạnh phúc gia đ́nh, chỉ v́ tương lai con cái.

Em thật là cả nghĩ, cũng may đó chỉ là “suy nghĩ”, nhưng không thể khác được Anh ạ, v́ tính em hay suy nghĩ vu vơ. Những khi b́nh tĩnh, em mới hiểu được rằng tất cả những điều cha ông nói về người mẹ đều trúng cả. V́ thế ít khi em giận dữ, nhất là lúc đối diện với con, với chồng. Em nghĩ đến Chúa đă ban cho người phụ nữ được làm mẹ làm vợ, thiên chức ấy cao cả biết bao; nó có ư nghĩa lớn lao biết mấy! Cho dù ngoài xă hội họ có được vinh thăng đến đâu, cũng không vượt được lên trên niềm vinh hạnh của người phụ-nữ-từ-mẫu, người phụ-nữ-vợ-hiền, dâu-thảo trong gia đ́nh. Cung ḷng của người phụ nữ là nơi h́nh thành, nơi tăng trưởng, nơi ngự trị cho một sinh vật mang h́nh ảnh của Thiên Chúa. “Ngôi nhà” ấy phải là kho yêu thương và cung điện thánh thiện nhất. V́ thế, em đă chịu đựng tất cả, để cho con em được lớn lên trong thương yêu che chở và chuẩn bị cho con vào đời với hành trang tốt đẹp nhất.

Một văn hào nào mà em nhớ không rơ, đă nói: “tất cả những ǵ tôi có đều do mẹ tôi ban cho” (có lẽ phải viết hoa chữ Mẹ); Thí dụ như khi mẹ hát ru, khi mẹ kể chuyện, mẹ vuốt đầu, sửa tai vuốt mũi cho con, khi mẹ đưa ngón tay mịn màng êm ái vào từng kẽ bàn chân, bàn tay, mọi nơi trên thân thể bé bỏng của con để kỳ cọ tắm rửa cho con, khi mẹ thoa lên ḿnh con một chút phấn thơm… Đó chính là lớp học đầu tiên mẹ dành cho con, trong đó mẹ h́nh thành cho con ư nghĩ về yêu thương và về một thế giới chung quanh. Dẫu chưa có trí khôn, trẻ sơ sinh vẫn ghi được những bài học ấy vào tiềm thức non dại của nó; Đối với chồng, cho dù có lúc anh say sưa chè chén, có khi lại bài bạc hút xách, nhưng dẫu sao ḿnh vẫn là xương bởi xương anh ấy, thịt bởi thịt anh ấy. (x. STK, 2,23).

Anh yêu ơi. Em học được nơi Anh tính Tại-Thế, học được đức khiêm nhường, ư hèn mọn, sự từ bỏ chính bản thân để làm tṛn nhiệm vụ của ḿnh khi làm vợ, làm mẹ cũng như khi làm em của Anh. Em rất sợ mất Anh, nên những lúc em không nhịn nổi, th́ em h́nh dung ra h́nh ảnh của Anh mà vâng lời Anh. Em h́nh dung Anh đang nh́n em với một ánh mắt yêu thương và trách móc, ánh mắt ấy động viên em trong mọi nơi mọi lúc. Em thật ḷng cảm ơn Anh. Thực ra từ đó, em học cách Làm Mẹ, em biết người mẹ ảnh hưởng lớn trong tâm hồn đứa trẻ như thế nào: t́nh cảm, ḷng quảng đại, độ lượng, bao dung là nguồn sống dạt dào, giúp cho trẻ lớn lên thành con người nhân ái, giàu vị tha. Ngược lại nếu người mẹ tai quái độc ác th́ dẫu có cho con ăn sơn hào hải vị, cung cấp cho con vật chất đầy đủ, th́ cũng chỉ là đem con vào chỗ hư đốn mà thôi.

Nghĩ về Anh, em t́m ra được 3 điều then chốt để bảo vệ danh nghĩa Em-Của-Anh:

- Chỉ có thể hạnh phúc khi sẵn sàng chịu trách nhiệm với chính cuộc đời ḿnh;

- Sống cho người là sống cho chính ḿnh;

- Cần có tư tưởng đẹp, nhưng hành động đẹp là điều tất nhiên phải có.

Em chào Anh và xin Anh chúc lành cho em.

Kim Gương

   Mỗi mùa Chay Thánh về, khi tham dự Thánh lễ, được hiệp nguyện trong lời kinh phụng vụ và những bài Thánh ca nhắc nhở chúng ta về thân phận ngắn ngủi mong manh của kiếp người th́ ḷng tôi chợt se sắt… và trong dạ lại cảm thấy nao nao… Tôi suy nghĩ miên man…Tôi nghĩ đến thân phận yếu đuối của tôi. Tôi nhớ đến cuộc đời thật ngắn ngủi của bao người thân yêu đă ra đi…

   Một buổi sáng cách đây hơn bốn mươi năm. Cha tôi tạm biệt mẹ để lên đường tác chiến. Trước khi ra đi, cha hẹn chiều sẽ quay về và dặn mẹ: “Chờ anh về ăn cơm.” Ngày ấy, Cha về sớm hơn lời hứa, nhưng cha không về một ḿnh; có rất nhiều người đưa cha về. Cha không về với một con người trọn vẹn, cha chỉ về với thân xác… Cha ra đi ở tuổi ba mươi bảy. Cha c̣n rất nhiều dự định cho gia đ́nh nhưng mọi dự định  của cha đều khép lại và khép lại vĩnh viễn. Bữa cơm chiều dang dở; một cuộc đời dang dở… Năm ấy, tôi chưa tṛn ba tuổi. Lúc được năm tuổi, một cơn dịch tă ập đến gia đ́nh. Anh chị em tôi đau oằn oại, cả xóm cùng đến giúp. Họ bồng bế tôi và các anh chị vào bệnh viện. Trước khi đi, dù mệt đừ, tôi vẫn cố mở mắt nh́n mẹ, tôi thấy mẹ đang ẳm thằng Ut gương mặt đầy hốt hoảng… Vài ngày sau được xuất viện mới biết, Thằng Út em tôi đă vĩnh viễn vắng bóng trong gia đ́nh… Năm ấy, Út được một tuổi.

Khi tôi lên mười, chiến cuộc diễn ra thật khốc liệt trên quê hương. Đất nước tan nát v́ chiến tranh. Người người đau khổ v́ ly biệt. Anh hai tôi từ giă gia đ́nh để vào quân ngũ. Ngày ra đi, anh lặng lẽ như chiếc bong, không một lời hứa hẹn. Vài tháng sau, anh trở về lặng lẽ như khi ra đi với chiếc quan tài lạnh lùng câm nín sau hơn mười ngày phơi xác nơi chiến trường miền Trung xa lắc… Người thân của anh, không thể nh́n được mặt anh lần cuối. Anh vĩnh biệt gia đ́nh và quê hương vào một mùa hè đỏ lửa. Năm ấy, anh hai mươi hai tuổi. Hai năm sau, anh ba tôi lại từ biệt mẹ và các em để làm người chiến sĩ bảo vệ quê hương. Hết thời kỳ tập huấn, chuẩn bị đi tác chiến, anh được về phép thăm gia đ́nh. Nhà tôi rộn rả tiếng cười vui như tết. Trước khi ra đi, anh hứa lần sau về sẽ mua nhiều quà cho mẹ và các em. Rồi cũng như những người thân yêu trước, anh lại trở về bằng chiếc quan tài với thân thể không toàn vẹn: Đầu không c̣n, tay chân th́ găy khúc. Người ta nhận ra được xác anh nhờ vào tấm thẻ bài, tên họ, số quân trên áo. Mẹ nhận ra xác con nhờ vết sẹo sâu hoắm nơi chân con… Lúc đó, anh ba tôi chưa tṛn tuổi hai mốt. Ngày tiễn anh về nơi an nghĩ cuối cùng tôi đă biết khóc và khóc nghẹn ngào… Có cơn mưa buồn lất phất nơi nghĩa trang cùng khóc với tôi… Từ ấy đến nay tôi đă chứng kiến rất nhiều cảnh chia tay không bao giờ c̣n gặp lại trên cơi trần. Và tôi cũng đă đưa tiễn rất nhiều người về nơi an nghĩ vĩnh viễn. Mỗi khi nh́n từng nắm đất nơi tay của người ở lại rơi xuống huyệt, tôi tự nói với ḿnh: “Cát bụi vùi chôn cát bụi! Cát bụi phải trở về cát bụi! Tạm biệt, hẹn ngày gặp lại nơi Nhà Cha”.

   Thời tuổi trẻ, tôi có nhiều ước vọng, tôi dự định, tính toán đủ thứ, tôi quyết tâm biến những ước mơ thành hiện thực để so đo với người và hơn thua với đời. Nhưng nhờ ḷng nhân hậu Chúa yêu thương soi dẫn. Cứ mỗi lần đưa tiễn một người ra đi là vài giây phút tôi trầm lặng cho Lời Chúa đánh động tâm hồn. Dần dần tôi nghiệm ra rằng: “Dù sống trong danh vọng con người cũ