Mọi thư từ liên lạc, xin gửi về PSTTVNUSA@YAHOO.COM. Copyright © 2002 WWW.PSTTVNUSA.NET. All rights reserved.
 

NỘI DUNG HÀNG THÁNG (02-2007)

 
 
Trong Số Này:
TÂM SỰ HẰNG THÁNG
  Ngày Hôm Qua…
HỌC HỎI LỜI CHÚA
 

Đức Giêsu Và Vị Tông Đồ Đầu Tiên

LINH ĐẠO PHAN SINH
  Linh Đạo Phan Sinh Tại Thế
LỜI KINH MỖI THÁNG
  Thời Gian Là Của Chúa
THIẾU NHI PHAN SINH
 
NỮ GIỚI PHAN SINH
  Người Phụ Nữ Công Giáo Sống Giữa Hai Nền Văn Hóa Việt-Mỹ
HÔN NHÂN GIA Đ̀NH
  Người Phụ Nữ Công Giáo Sống Giữa Hai Nền Văn Hóa Việt-Mỹ
NHỮNG BÀI ĐỌC THÊM
  Hân Hoan Mừng Tuổi Chúa...
CẦU NGUYỆN CHO NHAU
   
THÔNG BÁO TIN TỨC
   

 

 

Ngày Hôm Qua…

Thưa quí Anh Chị,

Khi nói về cuộc đời, người ta thường ví đời người giống như một giòng sông, chiếc thuyền, cánh chim, áng mây, hay như hoa, như cỏ… Còn tôi, tôi ví cuộc đời như quyển sổ ghi chép mà chính tôi là tác giả. Quyển sổ được mở ra vào đầu năm để bắt đầu mọi việc; và sẽ xếp lại vào ngày cuối năm, trước khi giao thừa điểm tiếng. Giờ đây, phút giao thừa đang cận kề, tôi muốn ôn lại quãng đường mình đã đi qua; muốn nhìn về quá khứ để đắp xây cho hiện tại…

Đưa tay lật lại trang thứ nhất. Lời Chúa trong thư của Thánh PhaoLô đập vào mắt tôi: "Anh em là người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương…" (Cl 3,12). Đây là câu tôi chọn để tâm niệm và sống suốt năm qua. Tôi đặt ở trang nhất như một lời nhắc nhở tôi rằng: Tôi đã được Thiên Chúa tuyển lựa giữa muôn người, được hiến thánh bằng chính mạng sống của Người Con Duy Nhất của Người. Và Người đã ban cho tôi quyền làm con của Người. Người chính là Cha tôi, là vị Vua Quyền Năng nhưng đầy lòng nhân hậu, và Người đã dùng quyền năng để biểu lộ lòng thương yêu đó cho tôi, cho hết nhân loại bằng sự quan phòng kỳ diệu của Người.

Cứ nhìn thời gian xoay chuyển, ngày lên, đêm xuống, nắng đến, mưa đi, gió thoảng, mây bay, thủy triều xuôi ngược, hoa tàn để kết quả; Xuân, Hạ, Thu, Đông thay nhau tiếp nối cùng những trật tự lạ lùng trong vũ trụ thì biết ngay tình Cha yêu con đến dường nào. Vì thế, tôi, anh, chị, và những ai được Người tuyển chọn đều là những Công Chúa, Hoàng Tử của Thiên Quốc, luôn được sống trong sự che chở của Người. Thật vinh dự và hạnh phúc biết bao cho những ai được làm con Cha. Tôi thầm thỉ tạ ơn Cha. Tôi đọc tiếp: "Vì thế, anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa, và nhẫn nại." (Cl 3,12) Đấy! Lòng nhân hậu của Cha lại được biểu lộ. Cha là Đấng Quyền Năng, nhưng lại dùng tình yêu mà chăn dắt muôn dân. Cha là Đấng Cao Sang nhưng lại không dạy con làm điều gì lớn lao, cao trọng để vang danh với đời mà lại nhắc nhở con cái của Người rằng: "Hãy có lòng thương cảm" Vâng! Phải có lòng thương cảm "vì trên hết mọi sự anh em phải có Đức yêu Thương" (CL 3,14) Vâng! Phải biết yêu thương! Nếu không biết yêu thương thì không thể là con Cha, vì Cha là Vua Tình Yêu, vương quốc của Cha là Vương Quốc Tình Yêu. Không có tình yêu không thể bước chân vào vương quốc của Người. Một thoáng bối rối vụt đến trong tâm trí làm lòng tôi nặng trĩu. Tôi ngồi trầm lặng theo thời gian mà nghe tiếng lòng thổn thức, vì suốt ba trăm sáu mươi lăm ngày qua tôi đã để những lời dạy bảo tha thiết chân tình của Cha bên lề cuộc đời. Dù biết mình là con Cha, biết chọn Lời Cha để làm tâm niệm sống, nhưng với niềm tin như hạt giống rơi vào đám gai trong tôi thì nói và làm, chọn và sống là hai chuyện khác nhau. Bước về quá khứ xa hơn một chút, những việc làm của ngày tháng cũ hiện ra trước mắt. Tôi nhìn thấy trái tim mình không mở ngõ nên không biết tơ vương cho tiếng yêu câm lặng, cho việc làm đầy sai sót. Tôi lặng lẽ cúi đầu trước những khiếm khuyết của mình…Tôi tự hỏi: Tại sao biết mình là Con Cha, biết mình đã được hiến thánh và yêu thương, mà không biết yêu thương? Không dám một phút quên mình để hy sinh cho anh em? Tại sao đã nhận thật nhiều cách nhưng không từ Cha mà không biết cho đi? Tại sao tự nguyện làm Sứ Giả Hòa Bình mà không thể là Khí Cụ Bình An? Ừ! Vì không yêu thương nên không biết cho đi. Không khiêm nhu nên không thể cúi mình để phục vụ. Không canh tân bản thân thì làm sao trở thành khí cụ? Không nhân hậu nên cứ mãi oán thù. Không nhẫn nại tôi luyện mình trong đức hiền hòa, nên ghen ghét dẫy đầy trên trang giấy cuộc đời… Và điều tệ hại nhất khiến tôi đánh mất sự hiếu thảo đối với Cha là thiếu cầu nguyện. Cầu nguyện chính là nền tảng đạo đức của người Kitô hữu, là sự liên kết thân thiết giữa Cha và con. Tôi buồn thiu nhìn lên Thánh giá. Chúa Ngôi Hai, Anh Cả của chúng ta, vị Vua Tình Yêu đang đau thương treo trên ấy từng ngày vì tôi không biết thương cảm, vì anh không sống nhân hậu, vì chị không sống khiêm nhu, vì em không thực hành đức hiền hòa và vì đức tính cao trọng nhất đã bị chúng ta cho vào quên lãng là đức Yêu Thương. Một chuỗi ngày tội lỗi ở phía sau lưng… Tôi xếp quyển sổ lại và cúi đầu tạ tội cùng Cha.

Năm Mới đến rồi! Giờ phút linh thiêng nhất trong năm của dân tộc Việt Nam đã điểm. Giao Thừa đang mĩm cười với tất cả chúng ta. Quyển sổ mới được mở ra. Tôi cầm bút, nắn nót viết chữ YÊU. Vâng! Tôi sẽ tập yêu và cố gắng biến đổi chữ yêu này thành hiện thực trong đời sống mình. Xin Cha giúp con thực hành được điều mình tâm niệm trong năm mới này: Yêu! Amen.

â BBT

 

Trở về mục lục >>

 

Đức Giêsu Và Vị Tông Đồ Đầu Tiên

(Luca 5,1-11 – CN V TN - C )

5:1 Một hôm, đám đông chen lấn nhau đến sát bên Người để nghe lời Thiên Chúa, mà Người thì đang đứng bên bờ hồ Ghen-nê-xa-rét. 5:2 Người thấy hai chiếc thuyền đậu dọc bờ hồ, còn những người đánh cá thì đã ra khỏi thuyền và đang giặt lưới. 5:3 Đức Giê-su xuống một chiếc thuyền, thuyền đó của ông Si-mon, và Người xin ông chèo thuyền ra xa bờ một chút. Rồi Người ngồi xuống, và từ trên thuyền Người giảng dạy đám đông. 5:4 Giảng xong, Người bảo ông Si-mon: Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá". 5:5 Ông Si-mon đáp: "Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả. Nhưng dựa vào lời Thầy, tôi sẽ thả lưới". 5:6 Họ đã làm như vậy, và bắt được rất nhiều cá, đến nỗi hầu như rách cả lưới. 5:7 Họ làm hiệu cho các bạn chài trên chiếc thuyền kia đến giúp. Những người này tới, và họ đã đổ lên được hai thuyền đầy cá, đến gần chìm. 5:8 Thấy vậy, ông Si-mon Phê-rô sấp mặt dưới chân Đức Giê-su và nói: "Lạy Chúa, Xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!". 5:9 Quả vậy, thấy mẻ cá vừa bắt được, ông Si-mon và tất cả những người có mặt ở đó với ông đều kinh ngạc. 5:10 Cả hai người con ông Dê-bê-đê, là Gia-cô-bê và Gio-an, bạn chài với ông Si-mon, cũng kinh ngạc như vậy. Bấy giờ Đức Giê-su bảo ông Si-mon: "Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người cứu sống người ta". 5:11 Thế là họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người.

1.- Ngữ cảnh

Kết quả Đức Giêsu thu hoạch được ở Nadarét thật đáng buồn. Là Đấng đến từ Thiên Chúa và mang Tin Mừng của Ngài, Người đã bị từ khước dứt khoát. Tuy nhiên, thất bại này không ngăn cản Người trung thành với sứ mạng loan báo về Nước Thiên Chúa tại Caphácnaum và các hội đường miền Giuđê (x. 4,31-44). Hôm nay chúng ta thấy Người giảng dạy tại bờ hồ Ghennêxarét, và số người đến nghe rất đông. Thành quả của lời Người giảng là làm phát sinh ơn gọi của một số môn đệ.

2.- Bố cục

Bản văn có thể chia thành bốn phần:

1) Giới thiệu khung cảnh và công việc của Đức Giêsu (5,1-3);

2) Đức Giêsu - Phản ứng của Simôn trước mẻ cá (5,4-7);

3) Phản ứng của Simôn sau mẻ cá - Đức Giêsu (5,8-10);

4) Kết luận: Đời môn đệ (5,11).

3.- Vài điểm chú giải

- Ghen-nê-xa-rét. (1): Đây là tên Hy-lạp của giải đất nhỏ thuộc phía tây “biển hồ”, có đất đai mầu mỡ và đông dân cư; giải đất này ở phía nam Caphácnaum.

- lời Thiên Chúa (1): Đây là lần đầu tiên Tin Mừng Lc dùng công thức này (Lc dùng 4 lần: 5,1; 8,11.21; 11,28; Cv dùng 14 lần: 4,31; 6,2.7; 8,14; 11,1; 12,24 (?); 13,5.7.44.46.48; 16,32; 17,13; 18,11). Trong khung cảnh sách Cv, công thức ấy có nghĩa là sứ điệp Ki-tô giáo do các tông đồ rao giảng; ở đây Lc lại cho thấy là Đức Giêsu rao giảng. Như thế, tác giả đặt việc rao giảng của cộng đoàn trên nền tảng là lời rao giảng của Đức Giêsu. Nhưng nền móng tối hậu là chính Thiên Chúa, bởi vì công thức nói rõ là "Lời Thiên Chúa" hoặc "Lời do Thiên Chúa ban" (thuộc-cách diễn tả chủ từ hoặc tác giả hợp lý hơn là "lời nói về Thiên Chúa": thuộc-cách diễn tả đối tượng).

- Người ngồi xuống (3): Đây là tư thế bình thường khi ở trên một chiếc thuyền nhỏ. Nhưng hẳn tác giả cũng muốn gợi ra tư thế của một vị thầy.

- Thưa Thầy (5): Lần đầu tiên Lc dùng từ epistata (hô-cách của epistatês) (x. 8,24.45; 9,33.49; 17,13). Các bản văn Nhất Lãm song song dùng từ didaskale, "thầy", hoặc rabbi, "rabbi". Trong văn chương Hy-lạp, từ ngữ epistatês thường có sắc thái rộng hơn, đó là "vị chỉ huy, vị điều hành, vị giám sát" (ví dụ trong việc huấn luyện giới trẻ). Trong các tác phẩm Lc, từ này luôn luôn được đặt trên môi miệng các môn đệ, còn từ didaskalos được người ngoài dùng. Epistatês diễn tả một đức tin sâu xa hơn vào uy quyền của Đức Giêsu.

- chúng tôi đã vất vả (5): Động từ kopiaô, "làm việc vất vả", là một động từ được Tân Ước dùng cho những dịp mô tả công việc tông đồ vất vả.

- Xin tránh xa con (8): Qua mẻ lưới lạ thường, Simôn nhận ra Thiên Chúa đang tỏ mình ra nơi Đức Giêsu, do đó ông đã gọi Người là "Chúa". Từ đó, ông cũng ư thức về tình trạng tội lỗi, bất xứng của mình; ông cảm thấy sợ hãi khi đứng trước Thiên Chúa là Đấng Thánh (x. Is 6,5). Simôn vừa bị thu hút về phía Đức Giêsu do lòng thán phục, vừa muốn tránh xa Người do ý thức về sự bất xứng của mình.

- Anh sẽ là kẻ đi bắt người ta (10): So với Mc 1,17, câu nói này không nhấn mạnh đến thân thế môn đệ, nhưng nhấn mạnh đến hoạt động truyền giáo. Zôgreô (do zôos, "sống động”; agreô, "bắt") có nghĩa là "bắt để làm cho sống". So với Mc 1,17, bản văn nhấn mạnh trên hoạt động truyền giáo hơn là trên thân phận người môn đệ.

4.- Ý nghĩa của bản văn

* Giới thiệu khung cảnh và công việc của Đức Giêsu (1-3)

Đức Giêsu vẫn có những người sẵn sàng lắng nghe, chính đám đông chen chúc bên bờ hồ Ghennêxarét đã chứng tỏ điều đó. Người mau chóng chỉ định những cộng sự viên. Truyện hôm nay cho thấy bản chất của tương quan giữa Người và các ông này. Ở đây mọi sự đều do sáng kiến của Người và được nhắm đưa tới kinh nghiệm như Simôn sẽ có. Tuy vậy, bản văn cho thấy Đức Giêsu chỉ tỏ ra năng động có hai lần thôi: lần đầu khi Người ra lệnh (c. 4) và lần thứ hai khi Người ban một lời hứa (c. 10); còn ở giữa là hành động và phản ứng của Simôn và các bạn. Simôn cũng có hai câu nói thưa với Đức Giêsu: một câu là khẳng định về kinh nghiệm đánh cá (c. 5), một câu là lời mời (c. 8).

* Đức Giêsu - Phản ứng của Simôn trước mẻ cá (4-7)

Khởi đầu, Đức Giêsu ban một lệnh (c. 4): "Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá". Simôn đã phản ứng, ông khẳng định theo kinh nghiệm của ông: người ta bắt cá ban đêm; thế mà suốt đêm các ông đã vất vả (kopiasantes) mà chẳng bắt được gì, phương chi bây giờ là ban ngày! Tuy nhiên, Đức Giêsu không hề nêu lý do hoặc thêm ý soi sáng; Người nói một lời và cho thấy mọi sự tùy thuộc lời này. Đối với Simôn, Đức Giêsu không phải là một người xa lạ. Ông đã thấy Người chữa lành nhạc mẫu của ông (4,38-39). Do đó, ông tín nhiệm vào lời Đức Giêsu cho dù lời này có yêu cầu những điều bề ngoài không mong đạt kết quả, hoặc những điều phi lư vì đi ngược lại mọi kinh nghiệm của loài người. "Dựa vào lời Thầy", epi de tô rêmati sou: Những từ ngữ này hết sức quan trọng, vì đây là công thức diễn tả thái độ của con người đối với Thiên Chúa (x. Tv 119, 25b.42.57.105).

Và để chứng minh là người ta có thể tin vào lời Đức Giêsu, các ông đã kéo được mẻ cá quá sức phong phú. Lưới gần bị rách. Cả hai thuyền đều đầy cá, nặng đến nỗi gần chìm.

* Phản ứng của Simôn sau mẻ cá - Đức Giêsu (8-10)

Tức khắc, Simôn có một kinh nghiệm về Đức Giêsu là ai và chính ông là ai. Ông thưa với Đức Giêsu như là "Chúa tể", là điều mà trước đây các mục đồng đã được loan báo: Đấng Cứu thế, Đức Kitô, Đức Chúa (2,11). Simôn đã trải nghiệm quyền năng thực thụ của vị Chúa tể này. Do đó, bây giờ không những ông biết ông không ở trên cùng một bình diện với Người, mà còn biết rằng đối diện với Người, ông là một kẻ tội lỗi. Đứng trước quyền năng và sự thánh thiện của Thiên Chúa, con người cảm thấy có nhiều điều trong đời mình không coi được. Kinh nghiệm về Đức Chúa cho thấy nơi Phêrô có nhiều chuyện sai lạc, đi ngược lại với Người và làm cho ông nên bất xứng và không trong sạch. Ông thấy giải pháp cho hoàn cảnh không thể chịu nổi này là Chúa xa ông đi: “Lạy Chúa, xin tránh xa con!”. Y như thể ông muốn nói rằng: để như thế con lại có thể chịu nổi con và lại có sự bình an bề ngoài của con. Nhưng chắc chắn cách xử sự của Đức Giêsu không phải là tránh xa những người tội lỗi và bỏ mặc họ trong tội lỗi và với số phận của họ (x. 5,32). Ý thức của Simôn hoàn toàn đúng, nhưng giải pháp ông đề ra không được Đức Giêsu chấp nhận: Người không tránh xa ông, Người cũng không đẩy ông xa Người, nhưng nhận lấy ông, đưa ông vào phục vụ chương trình của Người. Chính Simôn, người đã nói: "Lạy Chúa, xin tránh xa con!", lại sẽ đi theo Đức Giêsu cùng với các bạn (5,11).

Đức Giêsu tỏ ra rất tế nhị với Simôn. Người không nhận định gì về tình trạng tâm hồn của ông, Người không khuyến cáo; trái lại Người để cho ông làm một hành vi đức tin. Kết quả là Simôn nhận ra sự cao cả, sự tốt lành và quyền lực của Đức Giêsu, nên ông đã dễ dàng, như theo bản năng, từ bỏ các tội lỗi của ông. Khi đó, ông trở nên hoàn toàn tự do, ông có thể hiểu lời mời gọi của Người. Lời hứa của Đức Giêsu: "Từ nay, anh sẽ là người thu phục người ta như bắt cá" (NTT: "sẽ là kẻ chài lưới bắt người") được thêm vào kinh nghiệm mà Simôn đã có về tính vững chãi của lời Đức Giêsu nói. Simôn nhận biết Đức Giêsu như là Đấng muốn người ta đón tiếp Tin Mừng. Trong một cách thức chưa rõ mấy, Đức Giêsu cho ông hiểu rằng ông phải tham gia vào lối hành động này, nhưng luôn dựa vào quyền lực của Người.

* Kết luận: Đời môn đệ (11)

Simôn và các ông khác "đã bỏ hết mọi sự mà theo Người"; nay ta đã biết các ông khác là Giacôbê và Gioan. Từ nay, Simôn và tất cả các môn đệ phải nhận biết rằng việc phục vụ mà Đức Giêsu đưa các ông vào dựa trên không phải là các đức tính cá nhân, nhưng dựa trên Lời của Người.

+ Kết luận

Simôn đã hiểu thi hành một nhiệm vụ Đức Giêsu giao nghĩa là gì. Ông cũng trải nghiệm về bản thân ông là ai khi đứng trước Đức Giêsu. Như thế, ông cũng hiểu ra rằng, khi đứng trước một lời hứa của Đức Giêsu, tất cả các khả năng con người, dù có hạn hẹp, cũng như những cơ may thành công, dù có mong manh, cũng không còn đáng bận tâm nữa. Bài tường thuật phép lạ trước tiên là một biểu tượng về sự phong nhiêu của Lời Chúa.

Đây là một sự đảo lộn hoàn cảnh nguyên thủy. Lúc đầu, Simôn, có phần tự hào về bản thân, đã trở thành một người có khả năng nhảy một bước trong đức tin. Từ đó, ông cũng nhận ra được sự nghèo hèn của mình; do đó ông nên khiêm tốn để sống đức tin chan hòa. Chỉ nhờ kinh nghiệm về quyền năng của Thiên Chúa như thế, người môn đệ mới được đào tạo.

5.- Gợi ý suy niệm

1. Hoạt động tông đồ không thể dựa trên khả năng của các tông đồ hoặc trên thiện chí của những người mà các ngài được cử đến gặp, nhưng chỉ dựa trên trách nhiệm được giao và quyền năng của Chúa. Người ta chỉ có thể đảm nhận công việc ấy “theo lời Người”. Simôn có thể trải nghiệm quyền năng và giá trị của lời Đức Giêsu và phải trải nghiệm về sự giới hạn yếu đuối của bản thân ông. Đồng thời ông cũng trải nghiệm được sự hạ cố nhân ái của vị Chúa tể quyền năng, đã đưa ông vào phục vụ Người. Việc phục vụ này mãi mãi được liên kết với các kinh nghiệm cơ bản này.

2. Người ta không thể trách Simôn về sự kiện ông là kẻ tội lỗi. Chính ông đã biết rồi, và ông sẽ trải nghiệm về điều này cách cay đắng (22,33t.54-60). Nhưng Đức Giêsu đã đưa kẻ tội lỗi ấy vào phục vụ Người, đã cầu nguyện cho ông (22,31t), đã nhìn ông với ánh mắt nhân hậu (22.61t). Như thế, Simôn có thể chu toàn nhiệm vụ, mà không bao giờ cậy dựa vào các sức mạnh của mình, nhưng tín thác vào Lời Chúa.

3. Khi biết nhìn đến lòng thương xót của Thiên Chúa đối với chúng ta, quyền năng cũng như lòng tốt của Ngài, chúng ta mới nhận ra sự nghèo nàn và cần ơn cứu độ của chúng ta. Simôn đã nhân ra điều đó, ông không sợ hãi gì nữa; cho dù kẻ khác có nghĩ ông là một kẻ tội lỗi, điều này cũng quan hệ gì. Ông đã bước được một bước quyết liệt trong việc giải phóng bên trong. Đức Giêsu đã đào tạo môn đệ bằng phương tiện là những bước nhảy trong đức tin và bằng cách làm cho người ấy biết quyền lực thần linh của Ngài. Con thuyền của Phêrô chính là Họi Thánh. Đức Giêsu vẫn tiếp tục dạy chúng ta trên chiếc thuyền này, dọc theo dòng các cuộc cử hành Phụng vụ, và nhất là trong Bí Tích Thánh Thể.

4. Chính Thiên Chúa ban ơn gọi cho loài người. Mọi người phải bỏ mọi sự mà đáp trả quảng đại. Như thế là thực hiện một bước điên rồ, nhưng chính bước điên rồ này làm nên con người. Simôn đã thực hiện sự từ bỏ này khi thả lưới trái với kinh nghiệm thông thường, rồi sau đó, khi bỏ mọi sự mà bước theo Đức Giêsu. Nhờ dám "đánh liều cuộc đời”, Simôn trở thành người mà Thiên Chúa nhắm khi cho ông xuất hiện trong cuộc đời. Trong gia đình ki-tô hữu, giáo dục con cái biết sống quảng đại là cách thức tốt nhất để chuẩn bị cho con cái sống quảng đại, để nhờ đó, chúng thực hiện được chương trình của Thiên Chúa.

â Lm. F.X. Vũ Phan Long, ofm

 

Trở về mục lục >>

 

Linh Đạo Phan Sinh Tại Thế

Phần 3: Đời Sống Xã Hội (tiếp theo)

Điều 19. Là Sứ Giả Bình An

Cũng như mọi người con Chúa Kitô là Vua Bình An, anh chị em Phan Sinh Tại Thế hơn ai hết là những người được sai đi đem bình an đến cho tha nhân và cho mọi tạo vật trong vũ trụ, cũng là huynh đệ với con người. Trong một thế giới mà con người luôn có khuynh hướng chiếm hữu, thống trị và hưởng thụ, thì chiến đấu với mọi nguyên nhân nhất là với chính mình, mưu cầu bình an phải là cuộc chiến không ngừng. Để có hiệu quả cao nhất và êm đẹp nhất, cuộc chiến ấy phải dựa trên tình huynh đệ chân chính, bình đẳng và không thành kiến, vì thế, đối thoại là phương thế hay nhất và mau mắn nhất. Mục tiêu của sứ giả bình an là đem lại hiệp nhất và hòa bình huynh đệ, vì thế người Phan Sinh Tại Thế luôn coi trọng việc "Đem yêu thương vào nơi oán thù, ...đem an hòa vào nơi tranh chấp... khi thứ tha là khi được tha thứ, lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân..." (kinh Hòa Bình).

* Hiến chương điều 23 giải thích thêm:

- "hòa bình là hoa trái của công lý, là hoa trái của hòa giải và của tình bác ái huynh đệ”

- "...hãy nhìn nhận giá trị sự lựa chọn của những người vì lý do lương tâm từ chối mang vũ khí."

- ".. bảo vệ sự hòa thuận trong gia đình..."

* Người Phan Sinh Tại Thế có những lựa chọn nào trong việc thực thi điều 19? (Xin đọc Tổng Hiến Chương, điều 23.1):

- Quan tâm đề xuất và quảng bá những tư tưởng và những thái độ hiếu hòa.

- Triển khai những sáng kiến riêng, và trong tư cách cá nhân hoặc Huynh đệ đoàn hãy hợp tác với các sáng kiến của Đức Giáo Hoàng, của Hội Thánh địa phương và của gia đình Phan Sinh.

- Cộng tác với các phong trào và các tổ chức cổ vũ cho hòa bình trong sự tôn trọng các nền tảng chân chính của hòa bình.

* Tổng Hiến Chương điều 23.3 còn dạy bảo vệ sự hòa thuận trong gia đình; muốn được thế, “...hãy ấn định bằng chúc thư việc phân chia gia tài." (HC 23.3). Ta hãy tham khảo thêm Tài liệu thời kỳ Huấn Luyện Khởi đầu (Dòng Phan Sinh Tại Thế Việt Nam 2003, trang 93) đại ư như sau:

* Trong gia đình:

- Sống hòa thuận trong gia đình, nếu có điều gì mâu thuẫn thì anh chị em hãy cố gắng tìm cách dàn xếp cho ổn thỏa. Nếu gia đình của anh chị em có của chìm của nổi, thì hãy lo làm chúc thư phân chia tài sản, để tránh sự tranh chấp sau này có thể xảy ra, vì "sinh có hạn, tử bất kỳ"

* Trong huynh đệ đoàn:

- Tạo điều kiện để các lứa tuổi đối thoại với nhau để đả thông tư tưởng về cuộc sống hằng ngày (x.HC, 23)

- Trong các buổi họp, phải lo sao cho bầu khí sinh động phản ảnh niềm vui và hy vọng, đặt trọn niềm tin vào Đức Kitô Phục sinh

- Chấp nhận bệnh tật cũng như những khó khăn, tai họa; sẵn sàng đón nhận “Chị Chết”, vâng theo sư An bài của Chúa.

Thưa quí anh chị.

Qua một loạt bài đăng trong Nội Dung bản tin từ số tháng 4 năm 2006 đến nay, chúng ta đã tìm hiểu ý nghĩa của lời tuyên khấn trong Dòng Phan Sinh Tại Thế, đặc biệt là cách thức "tuân giữ luật Dòng"; từ số tháng 6-2006, chúng ta chia sẻ cho nhau việc tuân giữ Luật Dòng trong cách sống (chương II), từ điều 4 đến điều 19. Hôm nay chúng ta cùng nhau tìm hiểu phần tiếp theo về ý nghĩa của lời tuyên đọc trong khi khấn. Xin nhắc lại một phần của Lời Khấn: "... Tôi tuyên khấn sống Phúc Âm Đức Giêsu Kitô trong Dòng Phan Sinh Tại Thế... Ước gì.... cũng như sự hiệp thông với anh chị em..." Thực ra "giữ Luật Dòng" là tuân giữ toàn bộ Luật Dòng, trong đó có việc “Hiệp Thông”, và nhờ sự Hiệp thông này, khấn sinh được "trợ giúp để tiến tới Đức Ái trọn hảo.” bây giờ chúng ta tìm hiểu các khoản Luật mà mỗi người PSTT buộc phải "hiệp thông":

Chương III của Bản Luật năm 1978, từ điều 20 đến 26 qui định đời sống trong Huynh đệ đoàn, cụ thể là việc tổ chức và điều hành các Huynh đệ đoàn các cấp. Những điều ấy gồm:

Điều 20 – Sống thành Huynh đệ đoàn

Điều 21 – Hội Đồng linh hoạt Huynh đệ đoàn

Điều 22 – Huynh đệ đoàn địa phương sinh hoạt

Điều 23 – Các bước tiến tới việc tuyên khấn

Điều 24 – Tình Huynh đệ hiệp thông

Điều 25 – Chi phí cùng chia sẻ

Điều 26 – Dòng I giúp tinh thần.

Để chuẩn bị bước vào phần thứ hai này, chúng tôi xin mạn phép chép lại triệt 6 (triệt cuối cùng) đăng trong Bản tin tháng 3.2006 như sau: "Người Phan Sinh Tại Thế sống hiệp thông với anh chị em trong Huynh Đệ Đoàn, là nơi mà mọi người được đón nhận “như ân huệ của Chúa và như hình ảnh của Đức Kitô” (Luật, đ.13). Trong huynh đệ đoàn, mọi người coi nhau như anh em, sẵn lòng cầu nguyện cho nhau và giúp nhau tránh điều xấu, mỗi ngày sống tốt hơn. Vì thế Hiến Chương điều 53.3 qui định: "Tháp nhập vào Huynh Đệ Đoàn địa phương và tham gia vào đời sống huynh đệ là những yếu tố thiết yếu của việc thuộc về Dòng Phan Sinh Tại Thế".

Lần gặp gỡ sau, chúng ta sẽ tìm hiểu từng điều luật của chương III, hy vọng Quí vị và anh chị em sẽ có cơ hội nhìn về Dòng một cách tỉ mỉ hơn, và đầy thiện cảm hơn. (còn tiếp)

â Phêrô Nguyễn Đức Tiến; sfo

 

Trở về mục lục >>
 

Thời Gian Là Của Chúa

Lạy Chúa, một mùa xuân nữa lại về trên quê hương chúng con. Tuy viễn xứ nhưng chúng con vẫn không quên mình là người con Đất Việt. Quê hương luôn ở trong lòng chúng con. Dù xa xôi ngăn trở, dù biển bờ bao la, dù cách nhau nữa quả địa cầu, nhưng chúng con vẫn chung một tấm lòng, vẫn nối tròn một vòng tay, vẫn yêu thương nhau bằng lời cầu nguyện với trọn vẹn tâm tình.

Ngày đầu xuân, chúng con tha thiết khấn xin cho quê hương trong năm mới; thiên tai dừng bước, mưa thuận gió hòa, hoa quả đầy cành, lúa vàng trĩu hạt, mọi người no ấm, tình người triển nở, hận thù gục ngã, đau khổ tiêu tan, yêu thương lan tràn, để Danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, cho hết Con Dân Việt được nhận biết tình yêu bao la của Đấng Quan Phòng là đời đời nhân hậu. Amen.

â Maria

 

Trở về mục lục >>

Các cháu thân mến,

Xin lỗi các cháu, hai tháng qua, cô có việc, bận bịu quá, không thơ cho các cháu! Gia đình các cháu đều mạnh cả chứ? Tết đến rồi, ông bà, ba mẹ đã chuẩn bị gì chưa vậy các cháu? Nói đến Tết, cô có chuyện này kể lại các cháu, làm quà cuối năm:

Vào thời gian đó, cô còn rất nhỏ, hình như mười hai, mười ba tuổi gì đó. Ba mẹ cô cho cô vào nội trú các soeurs, rất xa nhà. Mỗi năm chỉ được về thăm nhà vào hai tháng hè và hai tuần mùa Tết. Cô nhớ những ngày nghỉ Tết năm đó, thời tiết miền cao nguyên lạnh lắm, lạnh từ trong xương lanh ra. Hình như sáng nào cũng vậy, trời vừa tờ mờ, mọi người đang quấn mền ngủ rất ngon đều phải giật mình thức giấc với tiếng rao lanh lảnh của anh bán bánh mì: "Bánh mì, bánh mì đây!”

Anh mặc chiếc áo ấm rất cũ, vá nhiều chỗ, vát lòng thòng bao vải bánh mì sau lưng, tay phải nắm chặc miễng bao quần ngang vai, giữ cho bánh mì không bị nguội. Hầu như từ đầu làng đến cuối làng, giống như lấy bánh mì của anh thành mối, mỗi lần anh đi ngang là các bà mẹ đều ra cửa chờ lấy. Anh vừa vui vẻ, vừa lễ phép, bánh mì lại luôn nóng hổi nên được các bác gái trong làng đều yêu mến. Hơn nữa, ở đây ai cũng biết, anh cần bán hết số bánh mì hàng ngày trước bảy giờ, vì còn phải trở về kịp giờ đến trường.

Người ta cứ nghï hai tuần này các trường đều đóng cửa, có lẽ anh không gấp gáp trở về như thường ngày. Nhưng lạ quá! Mấy hôm nay người ta lại nghe thấy tiếng anh rao bán sớm hơn thường ngày, trời còn rất tối đã thấy anh đi ngang qua nhà cô, mẹ cô bị anh đánh thức, càu nhàu:

-Sao cháu lại đi bán sớm quá vậy, hôm nay không đi học, thì ngủ thêm một chút.

-Dạ, mấy hôm nay được nghỉ, con đi bán sớm hơn, chút nữa con đi ra chợ bán thêm, con muốn kiếm thêm tiền giúp mẹ mua cho đứa em gái con chiếc áo mới mặc mấy ngày Tết.

Hôm đó, anh chị em cô bị mẹ cô dạy một bài học: "Các con thấy không, con người ta nghèo, nhưng rất ngoan, chịu khó, hiếu thảo lại rất lễ phép, có giúp anh ấy, cho thêm chút tiền, ảnh cũng đem về đưa hết cho mẹ. Các con thì tối ngày chỉ biết ham chơi, không biết nghĩ tới ai…"

Các cháu biết không, chỉ vài ngày sau, gia đình cô nghe tin anh đã bị một người xấu, tham lam, giựt mất số tiền anh bán bánh mì và đâm vào người anh mấy nhát dao, người đầy thương tích, rồi bỏ anh nằm giữa trời lạnh, anh đã qua đời. Cả làng cô đều khóc trong thương tiếc, nhất là mẹ cô, mấy ngày liền, mẹ nói trong nước mắt: "Nếu nó không đi bán sớm quá, không đến nỗi bị như vậy!”

Các cháu thân mến của cô,

Trong cuộc sống hiện tại của các cháu, nghe việc đi bán bánh mì ngoài đường như vậy, vô lư quá phải không các cháu. Chúng ta chỉ cần đến tiệm là có đủ mọi thứ, và tha hồ đòi mẹ chọn chiếc bánh vừa ý. Nhưng ở những nước còn nghèo, cuộc sống những người nghèo, như vậy là rất bình thường. Có những cảnh còn đáng thương hơn nhiều. Đi bán, có khi đi rảo cả ngày, mỏi quị chân, chiều về chưa chắc đã tìm đủ cơm ăn.

Nhân dịp Tết, cô chúc các cháu thân mến của cô, một năm mới tràn đầy tình thương của những người xung quanh: ông bà, cha mẹ, bạn bè và không quên san sớt cho những người bất hạnh hơn chúng ta.

â Cô Thể Xuân

 

Trở về mục lục >>
 

Người Phụ Nữ Công Giáo Sống Giữa Hai Nền Văn Hóa Việt-Mỹ

Nếu chỉ ngồi nhà lo cơm nước thôi thì việc hội nhập văn hóa không mấy cần thiết trong đời sống của tôi. Nhưng bên cạnh việc nội trợ, tôi đã phải đi làm; phải lo dưỡng dục con cái, nên lắm lúc việc hội nhập này trở thành vấn đề, nhất là khi mới bước chân đến mảnh đất tạm dung này!

Ở sở làm, khi giao tiếp với bạn đồng nghiêp, từ cách dùng từ, cách nói chuyện, thái độ, lúc phải bày tỏ quan điểm riêng của mình cho người chung quanh, trong đó có cả cách cư xử với súc vật, tôi phải làm sao cho họ không thấy mình "kỳ cục", kém văn minh, vì hai văn hóa có phần dị biệt khi mình còn đang mang nặng văn hóa Việt.

Tôi còn nhớ, khi mới qua Mỹ, có lần tôi nói với người hàng xóm rằng: "Tôi phải tìm cách khai tử con chó nào đó vì nó cứ đến sân nhà tôi làm bậy mỗi ngày, trong khi tôi sợ phân chó đến ám ảnh, nó làm cho tôi ăn mất ngon trong những bửa ăn của tôi, vì phải dọn phân và ngữi mùi phân mỗi ngày, dù tôi đã bao lần nói chuyện với họ là làm ơn đừng để chó họ “dừng chân” ở sân tôi. Từ đó tôi mất người bạn láng giềng mà trước đó bà rất quí tôi.

Ở nhà với con cái thì càng khó hơn nữa, tôi phải làm sao để cách nhìn, sự nhận xét, và tư tưởng của tôi và của cháu không qúa khác biệt, hoặc tôi phải tìm cách giải thích, giúp cháu để cuối cùng cháu chấp nhận theo văn hóa Việt trong tự do lựa chọn, hoặc chính mình phải chấp nhận đi vào văn hóa của người Mỹ. Phải suy xét xem bên nào hợp lý, và nếu cần, phải dung hòa để các con không thấy bối rối giữa hai nền văn hóa; hay cảm thấy lạc loài với những gì cháu được đào tạo nơi nhà trường và những ảnh hưởng từ bạn bè mà vẫn cảm thấy gần gủi với gia đình, không bất mãn gia đình như bao nhiêu trường hợp khác tôi đã từng nghe giới trẻ chia sẻ. Đó là một thử thách lớn cho tôi vì tôi mang nặng văn hóa Việt từ cái tốt lẫn cái không tốt. Có những thói quen nho nhỏ đôi khi quên sửa đổi, đã làm phiền lòng cháu, để rồi tôi phải đón nhận sự trách móc của con bằng lời nói hay cả thái độ.

Có lần nhà trường gởi giấy về cho hay cháu bị phạt vì nói chuyện nhiều trong lớp. Khi làm việc với cháu, tôi bảo: "Con làm vậy xấu hổ cho Mẹ quá sức". Cháu trả lời: "Thì ra Mẹ không bằng lòng điều con làm là vì Mẹ, chứ không phải Mẹ sợ không tốt cho con, vì con!"

Khi cháu đang ở tuổi vị thành niên là giao điểm khó nhất cho tôi, cháu luôn luôn muốn chứng minh mình làm được, nghĩ đúng, có thể tự lo, tự lập, trong khi tuổi đời Mẹ càng chồng chất, thì khoảng cách giữa hai thế hệ càng xa! Không phải lúc nào cháu cũng vâng lời Cha Mẹ như một em bé ngoan ngoãn vẫn thường vâng lời. Cháu bắt đầu có những suy tư riêng, lựa chọn theo ý riêng trong khi từ cái suy tư đến sự lựa chọn lại chưa được trưởng thành. Vì thế, nếu tôi không nhẫn nại thì tình Mẹ con đã sứt mẽ.

Tôi bắt đầu suy nghĩ, cái thói quen mà ông bà mình hay nói khi la con cháu là "Con làm vậy, Mẹ/Cha không biết ăn nói làm sao với họ, thật xấu hổ". Con tôi nói đúng, cái thói quen còn lại nơi con người, sau khi bỏ lại những người thân, vất bỏ mọi của cải ra đi, tôi đã mang theo những gì đã thấm nhập trong đời sống qua những người đi trước trong cùng xã hội. Trong việc này cháu trưởng thành hơn tôi, chính lúc giáo dục con là lúc tôi học từ con của mình. Từ đó tôi không bênh vực ý riêng của mình mà rất thận trọng khi mở lời, hành động và nhất là tập đổi cái nhìn lắm lúc đầy thành kiến của một người bảo thủ.

Cho đến nay, khi quyết tâm theo Chúa, được dẫn đi trong linh đạo Phan Sinh; với tôi, trong tất cả mọi việc, tôi không còn làm vì để họ không thấy mình kém văn minh, mà tôi cố gắng dung hòa giữa hai nền văn hóa, giữa cái hay của cả đôi bên và chú tâm vào nền văn hóa tình yêu, cái mà Đức Thánh Cha Gioan Phaolồ II cho là không có văn minh nào cao hơn "văn minh tình thương", tôi bắt đầu hiểu thấm thía, sâu xa ý nghĩa này. Riêng Chúa Giêsu cũng mời gọi tôi sống với Tám Mối Phúc Thật, nếu thật sự muốn theo Ngài.

Tôi đã chia sẻ những suy tư, trở ngại, những cố gắng cũng như những lần vấp phạm của mình cho con khi tuổi cháu vừa đủ khôn để hiểu được vấn đề, để rồi Mẹ con giúp nhau bước theo Chúa lúc những suy tư cả hai được lớn lên trong ân sủng, để giờ đây cháu và tôi như hai người bạn chí thân, chí ái được sống trong ơn nghĩa Chúa, tuy không tránh những vấp ngã do sự yếu đuối của mình trên đường lữ hành về nhà Cha chung.

â Anna Đặng Liên Hương
 

Trở về mục lục >>
 

 

Bài 4: Gia Đình Kitô Hữu, Giáo Hội Tại Gia

Kinh Thánh

(Lc 1,26-33): Truyền tin cho Đức Maria.

26Bà Êlizabét có thai được 6 tháng thì Thiên Chúa sai sứ thần Gabriel đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét, 27gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giuse, thuộc nhà Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Maria. 28Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: "Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng Bà" 29Nghe lời ấy, Bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì. 30Sứ thần liền nói : "Thưa Bà Maria, xin đừng sợ, vì Bà đẹp lòng Thiên Chúa. 31Và này đây Bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Giêsu. 32Người sẽ nên cao cả và được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít tổ tiên Người. 33Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận".

Suy Tư:

Đức Kitô đã chọn sinh ra và lớn lên trong thánh gia của Giuse và Maria. Hội Thánh không gì khác hơn là "Gia đình của Thiên Chúa". Ngay từ thuở sơ khai, hạt nhân của Hội Thánh thường gồm những người đã trở nên tín hữu "cùng với mọi người trong nhà" (x.Cv 18,8). Khi họ trở lại, họ muốn mọi người trong nhà cũng được cứu độ (x Cv 16,31 và 11,14). Các gia đình tín hữu đó là những hòn đảo của đời sống Kitô hữu trong một thế gian không tin.

Vào thời đại chúng ta, trong một thế giới thường xa lạ và ngay cả thù địch với đức tin, các gia đình Kitô hữu có tầm quan trọng hàng đầu như những trung tâm của đức tin sống động, chiếu sáng. Vì lý do đó, Công Đồng Vaticanô II, qua việc sử dụng lại một lối diễn tả cổ xưa. Gọi gia đình là Ecclesia domestica -Giáo Hội tại gia (LG,11; x FC,21) nghĩa là trong lòng gia đình mà cha mẹ qua lời nói và gương sáng... là những sứ giả đầu tiên của đức tin cho con cái. Họ phải khuyến khích chúng trong ơn gọi riêng của mỗi trẻ nhỏ, bằng cách đặc biệt ân cần cổ võ ơn gọi tu trì.

Chức tư tế của người chịu phép Thánh Tẩy và dạy giáo lý trong gia đình: Chính nơi đây mà người cha, người mẹ của gia đình, con cái và tất cả các thành viên của gia đình thi hành chức tư tế của người chịu phép Thánh Tẩy theo một cách thức riêng là lãnh nhận các Bí tích, cầu nguyện và tạ ơn, làm chứng về đời sống thánh thiện, từ bỏ chính mình và thể hiện tích cực lòng bác ái. Vì thế gia đình là ngôi trường đầu tiên của đời sống Kitô hữu, và ngôi trường nhằm làm cho con người nên tốt hơn. Nơi đây ta học được sự kiên trì và niềm vui trong công việc, tình yêu huynh đệ, sự tha thứ quảng đại – dầu phải lặp đi lặp lại- và trên hết, sự thờ phượng Thiên Chúa qua việc cầu nguyện và dâng hiến cuộc sống mình.

Việc dạy giáo lý trong gia đình càng khẩn thiết hơn một vài hoàn cảnh mà Hội Thánh đang trải qua cách đáng tiếc ở một vài nơi. Trong những nơi mà nền pháp lý chống tôn giáo nỗ lực ngăn cản việc giáo dục đức tin, và trong những nơi mà sự không tin lan rộng hoặc chủ nghĩa trần tục hóa xâm lấn, làm cho sự tăng trưởng tôn giáo đích thực không thể có được. “Giáo Hội tại gia” vẫn là nơi mà con cái và người trẻ có thể thực sự học giáo lý.

Cởi mở với những người đang ở xa: Gia đình là Giáo Hội tại gia có nghĩa là cũng được mời gọi trở nên dấu chỉ sáng ngời cho sự hiện diện của Đức Kitô và tình yêu của Người đối với những ai đang “ở xa”, đối với các gia đình không còn tín hữu nữa, và đối với các gia đình Kitô hữu không còn sống phù hợp với đức tin mà họ đã lãnh nhận. Gia đình Kitô hữu được mời gọi chiếu sáng nhờ gương mẫu và chứng tá của mình... cho những ai tìm kiếm sự thật, giống như Aquila và Priscilla (x Cv 18; Rm 16,3-4) vào buổi hừng đông Kitô giáo, ngày hôm nay nữa. Hội Thánh chiếu tỏa sự mới mẻ ngàn đời và khả năng sinh nhiều hoa trái bằng sự hiện diện của các đôi vợ chồng Kitô hữu và các gia đình dành ít là một phần cuộc sống mình để làm việc trong những miền truyền giáo, khi loan báo Tin Mừng và phục vụ đồng loại trong tình yêu của Đức Giêsu Kitô.

Nhiều người sống cô độc không có một gia đình nhân loại, thường là do hoàn cảnh nghèo đói. Một vài người sống theo tinh thần các mối phúc, phục vụ Thiên Chúa và người lân cận cách gương mẫu. Cánh cửa của các ngôi nhà, "các giáo hội tại gia" và của đại gia đình là Hội Thánh phải mở rộng cho mọi người ấy. Không ai là không có một gia đình trong thế gian này : Hội Thánh là một ngôi nhà và gia đình cho mọi người, nhất là cho những ai "lao nhọc và mang gánh nặng nề" (Mt 11,28)

Trao đổi:

- Trong cuộc sống mỗi ngày, trở nên "Giáo Hội tại gia" hoặc "gia đình là Giáo Hội" nghĩa là gì ?

- Gia đình chúng ta có mở rộng cửa hướng về những người ở xa hoặc sống cô độc không? Gợi lên vài cách thức cụ thể để giúp đỡ người khác.

(Trích tài liệu của Hội Đồng Giáo Hoàng về Gia Đình - còn tiếp)

â Lm. Irênê Nguyễn Thanh Minh, ofm

 

 

Trở về mục lục >>

 

VẦN THƠ TÂM T̀NH

Hân Hoan Mừng Tuổi Chúa

Tuyệt vời thay Thiên Chúa của chúng con

Cho xuân về theo quỹ đạo xoay tṛn

Đinh Hợi đuổi lui chờ năm Bính Tuất

Vạn vật chuyển ḿnh cây nhú chồi non

            Xuân đang tới sắc xuân đầy rực rỡ

            Ong bướm rập rờn tô điểm Trời hồng

Đàn én vờn bay ríu rít trên không

Nhắc mọi người mau quay về tổ ấm

Hoa đào tươi vươn ḿnh khoe sắc thắm

Cành mai vàng ngạo nghễ đón xuân sang

Trong mỗi nhà đều có cánh mai vàng

Không thể thiếu, dù sang hèn đều có

Nào bánh mứt, nào hạt dưa đo đỏ

Câu chúc mừng luôn dành sẵn trên môi

Bánh chưng xanh hay bánh tét trên nồi

Bên bếp lửa tiếng cười vang khắp xóm

Đàn trẻ con, chạy tung tăng nghịch ngợm

Đuổi bắt nhau khoe áo mới mẹ cho

Trên bàn thờ cặp dưa hấu thật to

Câu đối đỏ, gọi mùa xuân mau tới

Trời đất mới, cũng là thêm tuổi mới

Giống Chúa Giêsu càng măi khôn ngoan

Phục vụ Ngài, thời gian quư hơn vàng

Con hạnh phúc, chắp tay mừng tuổi Chúa.

 â Hồ Nguyễn; Cần Thơ

Xuân Khát Khao

Nắng xuân vàng, ngàn hoa khoe sắc thắm

Gió xuân nồng, một nỗi nhớ bâng khuâng

Xuân vẫn là xuân; ngan ngát đất trời

T́nh vẫn u hoài; một thời vụng dại

Xuân đến xuân đi tuổi vàng lay lắt

Một thủa hồng hoang in dấu phiêu bồng

Ḷng bỗng ngậm ngùi nghe bước xuân sang

Nghe những vàng phai rụng rơi rơi rụng

Con vẫn qú đây, miên man mông quạnh

Bên cội mai già, sần sủi thời gian

Con vẫn mơ xuân, ray rứt ngập ngừng

Tóc đả úa phai, tim c̣n rạo rực

Xuân ở nơi đâu, về đâu Xuân hỡi?

Mùa Xuân vỉnh cửu, hoa nở triền miên

Convẫn quỳ đây, mơi ṃnngóng đợi

Đợi Chúa Xuân về, d́u bước con đi...

â 13.01.07 MIC. Thanh Quư; HĐĐ Thánh Tâm, BG

Xuân Về Ôn Chuyện Cũ

Lạy Mẹ hiền âu yếm của đời con

Xin lắng nghe những lời con nỉ non

Chắp hai tay con kính mừng tuổi mẹ

Đinh Hợi về cho hy vọng vuông tṛn

Suốt năm qua quê con đầy tang tóc

Trời xám đen che phủ cả địa cầu

Người xa người v́ cuộc thế bể dâu

Băo điên cuồng làm nhà tan cửa nát

Nh́n xa hơn những mảnh đời đen bạc

Khắp năm châu tiếng nức nở dâng đầy

Sóng thần, động đất, khổ bởi thiên tai

C̣n đổ máu v́ bất đồng chính kiến

Sang năm mới cúi xin Mẹ hiện diện

Có khắp mọi nơi trên quả địa cầu

Đem an b́nh xóa sạch nỗi thương đau

Đem công lư hoà hợp vào chân lư

Phúc cho ai biết kiên gan bền chí

Trong gian lao thử thách càng tin yêu

Cơi tạm này, chỉ ẩn náu sớm chiều

Nước Thiên Đàng mới là nơi Hằng Sống

â Hồ Nguyễn; Cần Thơ

Xuân Hy Vọng

HỒ NGUYỄN mạo muội có đôi lời

CHÚC Ban Biên Tập suốt năm tươi

XUÂN đến mang theo tài lộc đến

QUƯ nhân ủng hộ khắp mọi nơi

ĐỘC thân sẽ có duyên lành sẵn

GIĂ biệt cô đơn bởi ư trời

THẾ gian đẹp đạo nhờ tờ báo

GIỚI luật Phan sinh sống tốt đời

â Hồ Nguyễn; Cần Thơ

Sớ Táo Quân 2006

Lốc cốc lốc cốc/ Tŕnh tấu Ngọc Hoàng/ Ở trên Thiên đàng/ Chắc Ngài đợi Táo... Thần vừa đi dạo/ Trụ sở Phan Sinh/ Nghe nói giật ḿnh/ Anh Hoàng đang bệnh/ Thần bèn truyền lệnh: "Ta ghét ốm đau/ Đứng dậy đi mau/ Bệnh ǵ cũng khỏi"... Thần đi một đổi/ Gặp “Toà Soạn" liền/ Ai nấy liên miên/ Chạy đôn chạy đáo/ Lo cho tờ báo/ Sắp sửa phát hành... Thần xin đọc nhanh/ Anh Hoàng sốt sắng/ Đưa bản thảo ngắn/ Thần liếc sơ qua/ Đủ mặt một nhà/ Linh mục tu sĩ/ Văn chương hoàn mỹ/ Hay quá là hay/ Thần vỗ hai tay/ Tuyệt vời xuất sắc... Thần c̣n tâm đắc/ Tác giả Kim Gương/ Mai Khôi dễ thương/ Văn ôn vơ luyện/ Thần xem từng chuyện/ Càng đọc càng say/ Hèn ǵ báo này/ Chu du thế giới... Sợ Ngài chờ đợi/ Cho kịp giờ linh/ Thần đọc vài kinh/ O.K xin kiếu/ Thần c̣n lo liệu/ Bay xuống dưới trần/ Theo dơi con dân/ Tất niên tổ chức/ Tu nhân tích đức/ Chẳng dám rượu chè/ Mọi người vui vẻ/ Cùng bảo nhau nghe/ Tân niên thoải mái... Kính bái... kính bái...

â MK.CT

Thư Cho Áo Nâu

Lời Tâm Sự Thứ 5: Hiệu Ứng Của T́nh yêu

Áo Nâu, Anh thân yêu,

Hôm nay, ngày cuối của năm Âm lịch. Cái Tết Nguyên Đán đang chờ đợi con người, nhưng ḷng em sao cứ vấn vương măi những ưu tư cố hữu, những lập luận có vẻ như bảo thủ (!). Em xin tâm sự với Anh:

Sau khi tập "Viết Trong Đêm" của em ra đời, em nhận được rất nhiều quà từ những người gần xa, cả những người chưa hề quen biết. Quà biếu nào là sách, nào là CD, nào là tượng thánh, có người sẵn ḷng giúp phát hành. Em sung sướng vô cùng. Một cảm giác khôn tả trào dâng trong trái tim, v́ chưa bao giờ em nhận nhiều quà cùng một lúc như thế. Đặc biệt, em nhận được cuốn: “Cây Đàn của Thánh Phanxicô" của Cha Duy Ân Mai. Không rơ người biếu sách cho em có dụng ư ǵ hay không, nhưng em thật sự đă lọt vào "mê hồn trận". Em đọc ngấu nghiến cả cuốn sách, không chỉ một lần, mà nhiều lần. Và em hiểu ra rằng người biếu cho em cũng có dụng ư chia sẻ cho em một phần đam mê của họ. Sau khi đọc xong, em thụ hưởng được một t́nh cảm trẻ trung, và tuyệt nhiên không cảm thấy ḿnh già. Cha Thánh Phanxicô đă dẫn em vào hạnh phúc tuyệt vời, v́ em t́m được sắc màu của riêng ḿnh.

Hôm nay, em viết thư cho Anh khi tâm hồn vấn vương trên mây trên gió, không biết ḿnh phải gom thế nào cho có chủ đề, cho có ư nghĩa đây! Chẳng qua chỉ muốn chia sẻ với Anh những cảm xúc của em khi chiều đang đến. Buổi chiều vàng cuối năm tŕnh chiếu trên không trung chính câu chuyện T́nh Yêu của Thiên Chúa. Những sợi yêu thương ấy làm cho em cảm thấy ḿnh phải quyết tâm hơn; em muốn ḿnh là nụ hoa mai, nụ hoa mai nở trúng vào giờ Giao thừa, chưng diện trong ngôi nhà nghèo nàn nhất của một xóm dân nghèo nàn nhất, để củng cố cho ḷng tin theo văn hóa Á Đông. Em muốn ḥa nhập vào các cuộc hội ngộ chúc xuân, chúc tuổi. Em muốn ḿnh được “trờ” khuôn mặt vui tươi hay cười hay đùa nghịch vào những đám trẻ đang nô đùa trong ngày Tết. Em muốn là ly rượu nồng, để mọi người sưởi ấm tâm hồn, cấy gieo vào ḷng họ niềm vui và hạnh phúc. Em muốn ḿnh là gió, làm mát dịu không khí oi nồng trong bất cứ môi trường nào - trong thảo luận, tọa đàm, trong biện luận phân tích, trong tranh căi và giành dật, trong đối nghịch và thành kiến, cả trong tư duy lẫn hành động… Em muốn làm một chất keo hàn gắn những đổ vỡ rạn nứt trong các gia đ́nh, các tổ chức, các quốc gia, cả xă hôi. Gớm! Em nhiều tham vọng quá phải không Anh? Nhưng thật đó, em muốn! Em muốn và em muốn. Có làm được hay không th́ phải nhờ Anh giúp, Anh ạ. Em c̣n muốn là chai nước suối tinh ṛng trong sạch, làm dịu cơn khát của bao người. Em muốn ḿnh là một cây đàn, diễn tả nỗi ḷng của nhạc sĩ và nhạc công: vui buồn, hạnh phúc và bất hạnh, sầu muộn hay hưng phấn, nhưng phải là cây đàn luôn vô tư, khách quan, tươi cười, cởi mở với mọi người. Lúc nầy em hạ quyết tâm nhịn nhục đối với bất kỳ sự xúc phạm nào, bất kỳ do ai gây nên. V́ em biết rằng chính khi xúc phạm đến anh chị em ḿnh là xúc phạm đến chính ḿnh, chính Chúa của ḿnh. Em hiểu rằng T́nh Yêu không phải lúc nào cũng mang đến hạnh phúc; T́nh Yêu c̣n có đau khổ và nhục nhằn nữa. Có đau khổ th́ t́nh yêu mới trọn vẹn. Nhưng có một điều chắc chắn là hạnh phúc không chờ ta trên Thiên đàng, mà hạnh phúc đang ở ngay bên cạnh ta, vấn đề là ta có đón nhận nó hay không. Hạnh phúc chính là hiệu ứng của T́nh Yêu, có sai không Anh?

Nhưng Anh ạ, ngoài trời, những tia nắng cuối cùng tắt lịm từ lúc nào. Đêm nay, đêm 30, trời rất tối, nhưng "ngày mai trời lại sáng". Tâm hồn em chắc chắn cũng có lúc vẩn đục hoặc -tệ hơn- trở nên đen tối. Những lúc ấy, em cầu xin Anh sửa dạy, soi sáng, d́u dắt và hỗ trợ em. Em tin Ngày Mai của em sẽ sáng. Em sẽ ngoan ngoăn nghe lời Anh măi măi.

â Kim Gương

Viết Cho Em

Những ngày cuối năm, đường phố lúc nào cũng rộn rịp bởi gịng người luôn tấp nập đi ngắm cảnh, mua sắm, ai ai cũng muốn nhà ḿnh được đầy đủ trong ba ngày tết. Tôi không bận tâm đến điều này. Tôi chỉ quan tâm đến những việc c̣n dang dở của riêng ḿnh. Rúc vào pḥng, ngồi trầm ngâm bên mớ bài vở chưa hoàn chỉnh, tôi chợt thèm ngủ v́ cả ngày nay tôi không được nghỉ ngơi chút nào. Chuông điện thoại reo vang. Lười nói, cộng thêm một chút mệt mơi nên tôi không nhấc máy. Xếp lại mớ sách ngỗn ngang, tôi nh́n đồng hồ, hai mươi mốt giờ kém… Ngủ thôi! Tôi tự nhủ và đi nằm. Tin nhắn trong điện thoại lại “gọi”. Tôi uể oải mở máy: “Em cần gặp cô, em đang chờ cô trước cửa nhà". Chúa ơi! Không thể lười được nữa rồi! Tôi lẫm bẫm, thay đồ và xuống thang gác mà chưa biết là "em" nào đang đợi tôi.

Em đến t́m tôi với gói quà to kềnh trên tay. Gặp em, mừng quá, tôi tỉnh ngủ. Gặp tôi em reo lên như bé thơ thấy mẹ đi chợ về. Em líu lo như chim sáo, em hỏi tôi đủ thứ làm tôi không kịp trả lời mà chỉ cười trừ. Chờ cho giây phút vui mừng lắng dịu, tôi thăm hỏi đời sống hôn nhân của em. Bỗng dưng em im lặng, gương mặt trầm tư, tôi đoán, hôn nhân của em có vấn đề.

Em là ca viên của tôi từ thuở lên tám. Tôi và em cùng chung tay phục vụ Giáo Hội mười ba năm. Tôi hiểu em trong từng cách nh́n, từng ư nghĩ. C̣n em xem tôi như mẹ. Em theo chồng định cư nước ngoài ở tuổi hai mốt. Chúng tôi xa nhau đă năm năm. Đây là lần đầu em về thăm quê hương. Em nói với tôi: "em muốn ly dị". Tôi thoáng chút ngỡ ngàng về chuyện hôn nhân của em, nhưng rồi cái ngỡ ngàng ấy biến mất bởi v́ tôi hiểu thế hệ trẻ hôm nay họ nh́n đời sống hôn nhân với cái nh́n rất b́nh thường. Hôn nhân đối với họ là cái ǵ đó vui th́ ở, buồn th́ đi. Bí tích hôn phối không thể ràng buộc họ, dù họ đă thề trước Chúa là yêu thương và tôn trọng nhau suốt đời. Dù lời thề của họ vẫn c̣n vẫn c̣n âm vang trong ḷng Giáo Hội, dù lời thề của em vẫn c̣n rất tinh tế trong ḷng tôi. Tôi muốn thăm hỏi em thật nhiều nhưng hai tiếng ly dị của em làm tôi cụt hứng. Tôi chẳng buồn hỏi nguyên do. Một thoáng im lặng trôi qua. Em lên tiếng. "Thưa cô, ngày trước, khi lập gia đ́nh, em c̣n nhỏ quá nên thiếu suy nghĩ cứ tưởng có chồng là hạnh phúc, xứ người là thiên đường. Khi về bên ấy, mọi sự đều trái ngược với ư nghĩ của ḿnh làm em hụt hẫng. Bên chồng cứ buộc em phải sinh con v́ chồng em là con trai một, cha mẹ chồng lại cao tuổi. Em muốn đi làm để kiếm tiền hơn là ở nhà bị lệ thuộc vào người khác. Em thích được tự do hơn là ở nhà bị con cái g̣ bó; vă lại, có con th́ khó chia tay lắm! Bên chồng không ai chấp nhận ư muốn của em. Em vẫn giữ vững lập trường của ḿnh. Thế là sinh ra căi vă măi. Lần này về Việt Nam em không muốn trở về bên ấy nữa. Xin cô cho em một lời khuyên". Nghe em nói, tự dưng đầu óc tôi trống rỗng. Tôi giống như người từ cung trăng rơi xuống. Tôi biết khuyên em thế nào đây? Đầu óc của em đă "Tây" hóa mất rồi. Đạo lư của người Việt Nam và đạo đức của người Kitô hữu mấy mươi năm trong con người em h́nh như cũng đă không c̣n lại một chút ǵ… Vă lại tôi và em, mỗi người đều có ư nghĩ, cái nh́n, cách sống khác nhau! Nhưng em đă xin tôi một lời khuyên th́ tôi không thể im lặng. Em đă xin tôi lời khuyên, tôi có quyền hy vọng…

Trước khi trả lời, tôi kể cho em nghe một câu chuyện. Có hai người kia yêu nhau. Người nam th́ b́nh thường. Người con gái bị khuyết tật nặng phải ngồi xe lăn để làm phương tiện di chuyển. Khi họ yêu nhau, hai bên gia đ́nh đều không đồng ư. Một bên chê người khuyết tật. Một bên mặc cảm và tự ái nên không chịu gă. Họ vẫn quyết định lấy nhau. Và giờ đây, người con gái khuyết tật ấy đang hạnh phúc v́ được làm mẹ. Người con trai th́ lúc nào gương mặt cũng rạng rỡ v́ được làm cha dù nồi cơm của họ thường bị thiếu hơn là đủ. Khi đến thăm họ, tôi chưa bao giờ nghe họ than thở điều ǵ về cái nghèo của họ mà ngược lại họ vui cười suốt. Tuổi đời của họ cũng ngang ngữa bằng em. Tuổi hai mốt không thể nói là tuổi quá nhỏ để quyết định việc hôn nhân. Cũng không thể vịn vào tuổi tác mà đổ lỗi cho sự việc. Ngày em đứng trước Chúa, trước mặt Đấng đại diện Giáo Hội và cả cộng đoàn Dân Chúa để nhận lănh Bí tích Hôn Phối th́ t́nh yêu của em đă được Chúa chúc phúc. Em đă hứa với Chúa là sẵn sàng đón nhận con cái mà Chúa ân ban, sẽ yêu thương và tôn trọng người phối ngẫu suốt đời dù thịnh vượng cũng như lúc gian nan. Chiếc nhẫn cưới là bằng chứng t́nh yêu và ḷng trung thành của nhau. Lời hứa, và hứa trước Chúa chứ không phải là lời nói suông. Hăy ư thức lời hứa của ḿnh. Dù sống ở phương trời nào trên trái đất này, dù em có được muôn người ca ngợi và tôn vương, em vẫn phải nhớ rằng: Ḿnh là người Việt Nam! Người phụ nữ Việt Nam xếp lại những riêng tư khi cất bước theo chồng. Người phụ nữ Việt Nam đặt hạnh phúc gia đ́nh lên trên hết mọi niềm vui khác. Hạnh phúc không thể tự nhiên mà có! Chính em phải tạo ra nó và cố gắng giữ ǵn. Thiên Đường hay hỏa ngục là ở nơi em. Em không biết hy sinh cho người ḿnh yêu thương, em sẽ không t́m thấy niềm vui. Em không biết quên ḿnh, th́ hạnh phúc măi măi là xa vời. Luật buộc phải sống một vợ, một chồng chính là nét son của Giáo Hội Công Giáo chúng ta. Em hăy hảnh diện về nét son của gia đ́nh Giáo Hội và hăy trung thành tuân giữ. Vợ-Chồng-Con là món quà vô giá, là niềm vui mà Chúa đă ân ban cho tất cả những ai sống đời sống hôn nhân. Hăy nh́n vào người con gái khuyết tật mà tôi vừa kể cho em nghe để thấy việc nuôi con là Thiên Chức Chúa tặng ban cho người phụ nữ. Nó vừa cao cả, vừa hạnh phúc vừa là niềm vui cho gia đ́nh và Giáo Hội. Tiền bạc không thể là trên hết trong đời sống gia đ́nh. Cũng không thể nói ở nhà nuôi con là bị lệ thuộc vào người khác. Vợ chồng là một chứ không phải là hai. Con là của cả hai chứ không phải của riêng ai. Vợ chồng th́ không có khoảng cách nào ngăn trở cả. Chúng ta có Cha là Vua Trời Đất, có Mẹ là Nữ Vương Đất Trời, có Mái Ấm là Giáo Hội th́ tại sao em lại lo sợ và coi việc sinh dưỡng con cái là gánh nặng? C̣n gương thánh Gia ở trước mặt em nữa. Tôi khuyên em, hăy tạ ơn Chúa trong mọi lúc. Hăy nh́n vào Thánh Gia, hăy cầu nguyện và hăy sống như những lời em đă thề hứa ngày em lănh nhận Bí Tích Hôn phối."

Em im lặng… Bất chợt, em nắm lấy tay tôi và siết chặt…

â MK CầnThơ

Bảo Vệ Môi Trường

            Noel năm nay Montréal không có tuyết rơi. Đêm Noel trời lạnh -50C, đi lễ nửa đêm kém phần thơ mộng. Tết Tây 01-01-2007 cũng vẫn không có tuyết rơi, mọi người đều chưng hửng v́ từ xưa tới nay, Noel và Tết Tây bao giờ cũng có tuyết. Tết nhất, họp mặt gia đ́nh, ăn Réveillon, uống rượu sâm banh ngồi bên ḷ sưởi mà nh́n ra ngoài trời không có những cụm tuyết bay bay th́ nó thiếu thi vị, thiếu hứng thú cách ǵ!

Nghe nói xa tít trên đầu ḿnh, tầng khí Ozon bị lủng một lỗ to tướng do các khí hóa chất trong sinh hoạt, trong kỹ nghệ thải ra làm lủng tầng khí quyển bảo vệ Trái đất. Trái