Trong Số Này:
|
TÂM SỰ HẰNG THÁNG |
| |
Bài Ca "Ngợi Khen" Magnificat
|
|
KITÔ HỘC |
| |
LỜI CHÚA: Các Nhà Chiêm Tinh
Đến Bái Lạy Hài Nhi Giêsu
SUY NIỆM: Lời Chúa và Tâm Tình Tạ Ơn
GIÁO LÝ #62: Lời Chuyển Cầu Của Ông Môsê
LỜI NGUYỆN: Cảm Tạ Chúa
|
|
PHAN
SINH HỌC |
| |
THAM KHẢO: Các Phiên Họp
HUẤN LUYỆN: Các Giai Đoạn Huấn Luyện
HUẤN LUYỆN: Ba Lời Khấn
|
|
NHÂN BẢN
HỌC |
| |
GIÁO HUẤN 17: Hướng Đi Lên
|
|
NHỮNG BÀI ĐỌC THÊM |
| |
THƯ ÁO NÂU: Thanh Long Và Khát Vọng
Lịch Đọc Kinh Phụng Vụ Năm 2009
Nghĩ Về Mẹ
Chút Tản Mạn Cuối Năm
Viết Cho Anh
Quê Tôi |
|
CÙNG CẦU NGUYỆN |
| |
Tâm Tình Tạ Ơn
Xin Ơn Chữa Lành Thể Xác
Xin Ơn Chữa Lành Tâm Hồn
Xin Cầu Nguyện Cho Các Linh Hồn
|
|
TIN NỘI BỘ |
| |
Tin Báo Của Miền Thánh Phanxicô
Tin Của Hđđ Antôn, San Diego
Tin Của Hđđ Agnes, Westminster
Ghi Danh Nhận Bản Tin Gởi Qua Bưu Điện
Chủ Đề Của Tháng 02-2009
Ngày Lễ Trong Tháng 01-2009 |
|
|
|
Bài Ca "Ngợi Khen" Magnificat
Thưa quí anh chị,
Có lẽ đoạn Kinh Thánh hay nhất nói về Đức Trinh Nữ Maria là đoạn ghi lại những tâm tình Tin-Cậy-Mến của Mẹ qua bài Magnificat; Hôm nay chúng ta hãy bắt chước Mẹ và cùng với Mẹ dâng lên Thiên Chúa những tâm tình cảm tạ, chúc tụng, và tạ ơn của mình.
Thưa quí anh chị, những hàng chữ dưới đây tuy là ‘dành riêng’ cho Đức Mẹ, nhưng vì chúng ta là con cái của Mẹ, thì những tâm tình này cũng là của mỗi người chúng ta. Ước mong quí anh chị hãy "mượn" những tâm tình của Mẹ để dâng lên Thiên Chúa Chí Thánh nhân dịp đầu năm mới này…
Trước hết là tâm tình chúc tụng ngợi khen mà
"46Bấy giờ bà Maria nói: "Linh hồn tôi ngợi khen
Đức Chúa,
47thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi”; là những âm thanh thảnh thót cách tuyệt hảo diễn tả tâm trạng của Mẹ đang hạnh phúc khi cảm nghiệm tình thương mến và ơn cứu độ của Thiên Chúa ‘dành riêng’ cho Mẹ. Thật vậy,
"48 Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới; từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc.” nói lên sự nhận thức mình là phận nữ tỳ hèn mọn những đã được đoái thương; và sự đoái thương này làm cho Mẹ được mọi người, mọi đời, mọi nơi phải ngợi khen là người diễm phúc nhất đất-trời cho đến muôn đời. Thật vậy,
"49 Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn! Mẹ đã được Đấng Toàn Năng, và là Đấng thật Chí Thánh Chí Tôn làm cho Mẹ biết bao điều cao cả, Ngài đã thánh hóa Mẹ trong trinh thai, Ngài nuôi dưỡng Mẹ trong Chân Thiện Mỹ, Ngài chuẩn bị cho Mẹ cưu mang Con Của Ngài, và dành cho Mẹ quyền Làm Mẹ của Thiên Chúa… Tuy chúng ta không thể làm mẹ của Thiên Chúa nhưng chúng ta là ‘con cái của Mẹ’ và là ‘em’ của Anh Cả Giêsu, thì chúng ta cũng có thể ‘sinh hạ tinh thần Giêsu’ cho những người khác cách kỳ diệu, vì vậy, hãy cùng với Mẹ Maria cất tiếng ngợi ca nhé.
Từ
50Đời nọ tới đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người" cho chúng ta thấy là Mẹ đã ‘kính sợ’ Thiên Chúa không như một kẻ nô lệ hay là một tội nhân; nhưng Mẹ ‘kính sợ’ Thiên Chúa với tâm tình của một người con thảo kính và yêu cha của mình. Thật vậy,
"51Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng.”
52Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường." là lời khuyên dạy cho chúng ta hiểu và sống sao cho giống như Mẹ và đẹp lòng Cha như gương sống của ‘Con Mẹ’ là Đấng hiền lành và khiêm nhượng trong lòng, và:
"53 Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư, người giàu có, lại đuổi về tay trắng” nhắc cho chúng ta tình thần tin cậy và phó thác vào Chúa Quan Phòng như Lời Ngài đã hứa: "54 Chúa độ trì Ít-ra-en, tôi tớ của Người, 55 như đã hứa cùng cha ông chúng ta, vì Người nhớ lại lòng thương xót dành cho tổ phụ Ápraham và cho con cháu đến muôn đời."
Thưa quí anh chị, một năm mới nữa đã bắt đầu, tuy có nhiều bận bịu của đời sống hằng ngày, nhưng hãy bình tâm an dưỡng trong thần khí của Thiên Chúa như Mẹ Maria để nhờ đó, chúng ta sẽ là người hạnh phúc trong ý thức rằng:
"Chúa đã làm cho tôi những điều cao trọng”. Amen.
BBT
|

Trở về mục lục >>
|
|
|
|
LỜI CHÚA: Các Nhà Chiêm Tinh Đến Bái Lạy Hài Nhi Giêsu
(Mátthêu 2:1-12 – Hiển Linh )
Khi
Ðức Giêsu ra đời tại
Bêlem, miền Giuđê, thời vua
Hêrôđê trị vì, có
mấy nhà chiêm tinh từ phương Ðông đến Giêrusalem, và hỏi: "Ðức Vua dân Do-thái mới sinh, hiện ở đâu?
Chúng tôi đã thấy vì sao
của Người
xuất hiện bên phương Ðông, nên
chúng tôi đến bái lạy
Người." Nghe tin ấy, vua Hêrôđê bối rối, và
cả thành Giêrusalem cũng xôn xao. Nhà vua liền triệu tập tất cả các thượng tế, các kinh sư trong dân lại, và hỏi cho biết Ðấng Kitô phải sinh ra ở đâu. Họ trả lời: "Tại Bêlem, miền Giuđê, vì trong sách ngôn sứ, có chép rằng:
Phần ngươi, hỡi Bê-lem, miền đất Giu-đa,
ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giu-đa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ít-ra-en dân Ta sẽ ra đời". Bấy giờ vua Hêrôđê bí mật vời các nhà chiêm tinh đến, hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện. Rồi vua phái các vị ấy đi Bêlem và dặn rằng: "Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người." Nghe nhà vua nói thế, họ ra đi. Bấy giờ ngôi sao họ đã thấy ở phương Ðông, lại dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở, mới dừng lại. Trông thấy ngôi sao, họ
mừng rỡ vô cùng.
Họ vào nhà, thấy
Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền sấp mình bái lạy Người, rồi mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến. Sau đó, họ được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hêrôđê nữa, nên đã đi lối khác mà về xứ mình.
1.- Ngữ cảnh
Về việc các nhà chiêm tinh đến Bêlem, chúng ta có thể đặt ra nhiều câu hỏi không dễ trả lời: Các ngài từ đâu đến? Các ngài đã thấy xuất hiện ngôi sao gì? Làm thế nào mà các ngài nhận ra đó là ngôi sao của Đấng Mêsia? Tại sao vua Hêrôđê không xử sự theo cách hợp lý hơn?
Cũng như trong nhiều đoạn khác của
Tin Mừng, thay vì đặt ra những câu hỏi về những chuyện không được nói tới, chúng ta nên để ư đến những gì đã được nói ra. Sau khi bảng gia phả đã cho thấy Đức Giêsu cắm rễ trong lịch sử dân Israel, và bản văn về nguồn gốc đích thực của Người đã chỉ nói đến những người có liên can trực tiếp, ở đây tác giả giúp chúng ta nhìn xem cách tiếp đón Đức Giêsu của những người mà vì họ Đức Giêsu đã đến. Tác giả không nêu ra một hành động nào của Hài Nhi, Đức Maria và Giuse. Những nhân vật hành động là Thiên Chúa và người ta, và đều nhắm tới Hài Nhi. Trong quan hệ với Hài Nhi, ta phân biệt ra ba nhóm người: các nhà chiêm tinh, các kinh sư và vua Hêrôđê. Hoạt động công khai của Đức Giêsu và lời loan báo hậu Phục Sinh về Đấng chịu đóng đinh và phục sinh cũng được vây quanh bởi những hạng người như thế. Nhận biết trong niềm vui, lãnh đạm không quan tâm và bách hại liên tục, ba yếu tố này đi theo mọi giai đoạn của cuộc đời Đức Giêsu.
2.- Bố cục
Bản văn này có thể được chia ra làm hai phần, với một câu Mở và một câu Kết:
Mở (c. 1): Giới thiệu các nhân vật và hoàn cảnh.
Phần 1 (cc. 2-8): Tại đền vua Hêrôđê. Cốt lõi là sấm ngôn về Đấng Mêsia.
Phần 2 (cc. 9-11): Tại nhà của Hài Nhi. Cốt lõi là hành vi tôn thờ Đấng Mêsia.
Kết (c. 12): Các nhà chiêm tinh trở lại quê hương.
3.- Vài điểm chú giải
-
Bêlem (Bêthlehem)
(1), có nghĩa là "nhà bánh mì", hoặc cũng có thể là "nhà của thần Lah (a) mu" (thần của dân Akkad). Thành này cách Giêrusalem 7 cây số về phía nam, là quê hương của Bôát, của Isai (Giêsê), và nhất là của vua Đavít (x. 1 Sm 16; 20,6). Xem Lc 2,4.11; Ga 7,42.
- Vua Hêrôđê (Cả):
Vua này cai trị miền Giuđê (năm 37-4 tr CG). Bởi vì ông xuất thân từ miền Iđumê, ở về phía nam xứ Giuđê, và ủng hộ nền văn hóa hy-lạp, nên ông bị người Do-thái ghét bỏ, cho dù ông đã cho sửa lại Đền Thờ thật huy hoàng. Đến cuối đời, ông thường rơi vào trạng thái kinh hoàng, nên chỉ một chút nghi ngờ, là có thể hạ lệnh tàn sát, dù là tàn sát cả gia đình ông. Khi ông qua đời, nhiều tai ương đổ xuống trên xứ, đặc biệt là một cuộc suy sụp về kinh tế. Do đó, đất nước đầy những nhóm người bất mãn và nổi loạn.
- Đức Giêsu ra đời: Cộng đoàn tín hữu tiên khởi lúc đầu không có thứ lịch như ngày nay đang được sử dụng hầu như khắp nơi: chia thành hai phần trước và sau cuộc chào đời của Đức Giêsu. Thời ấy, người ta tính năm dựa theo các Đại hội thế vận Hy-lạp (Đại hội đầu tiên được tổ chức năm 776 tr CG), hoặc dựa theo năm thành lập thành Rôma (ngày 21-4-753 tr CG), hoặc dựa theo những hoàng đế cai trị ở Rôma. Sau một thời gian, các ki-tô hữu có thói quen tính thời gian khởi đi từ hoàng đế Điôclêtianô (284-305 sau CG), ông này đã bách hại họ tàn khốc, và họ gọi thời này là kỷ nguyên các thánh tử đạo. Kiểu lịch chúng ta đang sử dụng hiện nay là do văn sĩ Denys le Petit xác định, ông này sống tại Rôma vào tiền bán thế kỷ VI (mất trước năm 555). Để cho những năm cứu độ không phải gọi bằng tên của bạo chúa bách hại, Denys thay thế kỷ nguyên các thánh tử đạo bằng kỷ nguyên Đức Kitô. Ông là người đầu tiên cho kỷ nguyên Kitô giáo khởi đầu với cuộc chào đời của Đức Kitô, mà theo các tính toán của ông, ngày ấy là ngày 25 tháng 12 năm 753 sau khi Rôma được thành lập. Theo TM Mt, "Đức Giêsu ra đời tại Bêlem, miền Giuđê, thời vua Hêrôđê trị vì" (2,1), mà chúng ta biết rằng vua Hêrôđê qua đời vào năm 750 của thành Rôma. Như vậy, cuộc chào đời của Đức Giêsu phải được đẩy lùi lại 6 hoặc 7 năm: hẳn là Đức Giêsu đã ra đời vào thời gian giữa năm 8 và 6 tr CG.
- mấy nhà chiêm tinh
(hl magos ): Đây là những vị hiền giả Đông phương, thông thạo chiêm tinh. Rất có thể họ là những nhà chiêm tinh Babylon, đã được tiếp xúc với trào lưu chờ đợi Đấng Mêsia nơi dân Do-thái. Có thể họ sống bên kia bờ sông Giođan, nên có cơ hội tiếp xúc thường xuyên với thế giới Do-thái. Dưới ảnh hưởng của Tv 72,10; Is 49,7; 60,10, truyền thống sau này đã nghĩ rằng họ là những vị vua. Bởi vì có ba loại lễ vật, người ta cho rằng họ là ba vị (tk v), và còn gán cho các vị ấy tên Gaspar, Balthasar và Melchior (tk 8). Sang tk xiv, ông Gaspar được coi là một người da đen...
- chúng tôi đã thấy vì sao
(2): Vào thời thượng cổ, người ta thường cho rằng cuộc chào đời của các nhân vật quan trọng được loan báo bởi các ngôi sao mới. Các nhà chiêm tinh cho rằng họ có thể đoán được vận mệnh của người ta nhờ quan sát chuyển động của các tinh tú. Do-thái giáo cũng nối kết niềm hy vọng thiên sai vào ngôi sao được nói tới ở sách
Dân số
(24,17). Có thể nói, vào thời Đức Giêsu và các Tin Mừng, ngôi sao là hình ảnh ưu tiên để tượng trưng Đấng Mêsia, đặc biệt Đấng Mêsia vương giả, xuất thân từ nhà Đavít.
- xuất hiện
(2): Người ta đã tìm cách xác định ngôi sao ấy là một hiện tượng thiên văn hay là một ngôi sao chổi. Thật ra nỗ lực này cũng không đưa đến đâu, bởi vì hoặc tác giả Mt muốn kể lại một hiện tượng lạ lùng duy nhất trong lịch sử, hoặc chi tiết này chỉ là một đặc điểm văn chương, được gợi hứng bởi
Kinh Thánh, nhưng không có hiện tượng tương ứng thế giới vật lý, nên cố gắng tìm ra một giải thích tự nhiên đều là chuyện vô ích.
-
chúng tôi đến bái lạy
(hl proskyneô): Mt dùng động từ này 13 lần (toàn Tân Ước: 57 lần). Đây là thái độ con người tùng phục Thiên Chúa.
-
Cả thành Giêrusalem
(3): Đây là một kiểu nói phóng đại, như để báo trước việc toàn dân Do-thái loại trừ Đức Giêsu (x. 21,10). Một sự tương phản đáng kinh ngạc: những người ngoại giáo, được hướng dẫn bởi những kiến thức hời hợt, pha trộn mê tín dị đoan, đã đáp trả tiếng gọi của Thiên Chúa, thực hiện một hành trình và điều tra kỹ lưỡng, để có thể bái kiến vị tân vương; ngược lại, các nhà lãnh đạo Do-thái có ánh sáng
Kinh Thánh, lại chỉ phản ứng bằng sự sợ hãi và vô tâm (cc. 4-6).
- Phần ngươi, ngươi đâu phải
(6): Câu trích này là một tổng hợp Mk 5,1-3 với 2 Sm 5,2 theo cách rất độc đáo, không tương ứng với bản văn Cựu Ước Híp-ri lẫn Hy-lạp. Tác giả đã đưa những thay đổi đó vào với mục tiêu huấn giáo. Đặc biệt, với trạng từ
oudamôs (Pháp: pas du tout; Anh: by no means) thêm vào bản văn Mikha, ngài cho thấy ngài chú tâm đọc Cựu Ước dưới ánh sáng của đức tin Kitô giáo của ngài: sau khi Đức Giêsu đã chào đời, Bêlem không còn có thể là một thành không đáng kể nữa. Nghịch lư lạ lùng: các kinh sư loan báo nơi Đấng Mêsia chào đời cho những người ngoại giáo (dù sao, họ cũng vẫn là những cái máng chính thức truyền đạt mạc khải mà!), thế mà họ lại không thể nhận ra được Người!
- mừng rỡ vô cùng (10): Niềm vui của các nhà chiêm tinh được nhấn mạnh (so với Lc 2,10). Trong
TM Mt, đây là niềm vui của những quốc gia ngoại giáo đã khám phá ra nơi Đức Giêsu ơn cứu độ họ vẫn trông chờ cách mơ hồ. Đối lại với niềm vui này là sự bối rối hoang mang của vua Hêrôđê và thành Giêrusalem, cũng như sau đó là cơn giận dữ điên cuồng của nhà vua (c. 16). Cũng có thể so sánh niềm vui lớn lao của các phụ nữ vào sáng ngày Phục Sinh (28,8) với cơn kinh hoàng của đám lính canh khiến họ ra như chết (28,4).
- Họ vào nhà
(11): Tác giả nối kết chặt chẽ niềm vui của những người ngoại giáo và việc họ đi vào "nhà", là hình ảnh báo trước Giáo Hội, nơi người ta gặp được Đức Kitô và bái thờ Người.
- hài nhi và thân mẫu: Công thức này được nhắc lại ở các câu 13, 14, 20 và 21, là do tác giả cố tình chọn để nhắc lại cuộc sinh hạ do mẹ đồng trinh (1,18-25).
- lấy vàng, nhũ hương, mộc dược mà dâng tiến: Sau khi bái lạy một vị vua, thường có việc dâng lễ vật (x. St 43,26; 1 Sm 10,27; 1 V 10,2; Tv 72,10). Ba thứ lễ vật này đều xứng đáng với một vị vua: x. Tv 72,15 (vàng); Is 60,6 (vàng và nhũ hương); Tv 45,8 (xức mộc dược cho vua); Dc 3,6 (nhũ hương và mộc dược). Truyền thống các Giáo Phụ coi các lễ vật này là những biểu tượng về vương quyền (vàng), thần tính (nhũ hương) và việc mai táng (mộc dược) của Đức Giêsu.
4.- Ý nghĩa của bản văn
Tại đền vua Hêrôđê (1-8)
Có thể nói chương 2 của Tin Mừng Mt mở ra một cuộc "tìm kiếm" xuất xứ của Đấng Mêsia. Câu hỏi của các nhà chiêm tinh: "Đức Vua dân Do-Thái mới sinh ra, hiện ở đâu?” (c. 2) chính là đề tài của toàn thể bản văn. Điều đang lưu ư là cuộc tìm kiếm này lại được thực hiện bởi những người ngoại quốc, còn xa ơn cứu độ, nhưng chẳng bao lâu họ sẽ thế chỗ cho Dân Thiên Chúa tuyển chọn. Sự kiện họ có mặt ngay từ câu đầu tiên đã tiên báo sự đảo lộn xảy ra vào cuối bản văn (c. 11).
Các nhân vật chính: trước tiên, đó là "Đức Giêsu" (x. 1,21.23), "vua dân Do-Thái", cho dù còn đang được bọc tã. Ở 1,18, tác giả đả kể lại việc Người chào đời, nay chỉ nhắc lại là Người "đã ra đời”. Người xuất hiện một mình, nhưng sau này tác giả nói rằng bên cạnh Hài Nhi có bà Maria là thân mẫu Người. Trước mặt Người, nhưng ngự tại Giêrusalem, là Hêrôđê Đại Đế, gương mặt gian ác nhất mà tác giả có thể nhắc lại từ lịch sử Do-Thái thời ngài. Giữa hai dung mạo này, có những dung mạo phụ: bên Đức Giêsu, đó là các nhà chiêm tinh; phía Hêrôđê, đó là các thượng tế và kinh sư.
Các nhà chiêm tinh được loan báo nhưng không được giới thiệu. Các vị cũng sẽ không xuất hiện nữa trong Tin Mừng. Rất có thể đây là những vật nổi tiếng trong thời Thượng Cổ: là các nhà chiêm tinh hoặc các nhà thông thái đến từ phương Đông. Các nhà chú giải đã tìm các xác định căn cước của các vị này, nhưng rất có thể là vô ích. Các vị ấy chỉ là những hình ảnh biểu tượng của thế giới ngoại giáo. Các vị này đã được thúc đẩy (và "dẫn đường”: c. 9) bởi một ngôi sao lạ, được giải thích như là dấu chỉ loan báo "vua người Do-Thái" chào đời, mà danh xưng này là danh xưng của Đấng Mêsia. Một "ngôi sao" xuất hiện với cuộc chào đời và hành trình vào đời của mỗi con người, nhất là của những nhân vật quan trọng nhất của lịch sử, thì không thể thiếu được trong cuộc đời của Đấng Mêsia. Rất có thể tác giả đã lấy hình ảnh ngôi sao từ Ds 24,17 nhưng cũng có thể ngài nghĩ đến đám mây sáng dẫn đường cho dân Do-Thái đi trong sa mạc (x. Xh 13,21; 33,9). Lời tuyên xưng của các nhà chiêm tinh, "chúng tôi đến bái lạy Người”, rõ ràng có một tầm mức châm biếm và biện giáo chứ không chỉ là mục vụ. Sự "khôn ngoan" ngoại giáo mà người Do-Thái vẫn khinh bỉ và loại trừ cũng có khả năng dẫn đưa người ta đến với Đức Kitô. Tác giả không mô tả tâm trạng của các nhà chiêm tinh, mà chỉ nêu bật sự mau mắn và can đảm của các vị ấy ngược lại với sự lãnh đạm của dân Do-Thái; tuy nhiên ngài lại phác vẽ cho thấy phản ứng của vua Hêrôđê và của dân thành Giêrusalem ("bối rối", "xôn xao": c. 3). Ghi chú này khiến có thể nghĩ rằng tác giả đang gợi lại các hoàn cảnh thuộc quá khứ trong lịch sử cứu độ và hơn nữa đang nghĩ đến các biến cố tương lai trong truyện Đức Kitô (Thương Khó). Hêrôđê mang những đường nét của các kẻ bách hại dân Thiên Chúa, nhưng chính ông cũng không thực hiện được các kế hoạch của ông. Thật ra, ghi nhận này là để nâng đỡ tinh thần cho các Kitô hữu đang sống trong hoàn cảnh bị áp bức. Riêng sự khôn ngoan Đông phương đã tìm được sự trợ giúp trong lời “ngôn sứ” Do-Thái để đi đến tận nơi Đức Kitô đang ở (cc. 4.9). Quang cảnh ở đền vua Hêrôđê như báo trước cảnh ở dinh tổng trấn Philatô (x.Mt 27,11-14). Nhưng ngay ở đó, họ cũng không yên tâm về các biện pháp họ lấy.
Khi tra cứu Kinh Thánh, giới lãnh đạo Do-Thái giáo đã khám phá ra rằng Đấng Mêsia có xuất xứ là Bêlem. Thật ra tác giả đã ép bản văn Mk 5,1 để đi đến chỗ đồng hóa “Bêlem miền Giuđa” với “miền Giuđê" (c. 1) và bổ túc bằng một lời trích lấy từ 2 Sm 5,2 nói về vị thủ lãnh "sẽ chăn dắt Israel dân Ta”. Đây là kiểu chú giải quen thuộc thời ấy. Kinh Thánh không nói rằng Đấng Mêsia xuất thân từ Bêlem, nhưng nếu Người là "con cháu Đavít” (Mt 1,1.20), thí cũng có thể kết luận rằng, giống nhu vị vua oai phong ấy, Người cũng là một người Bêlem. Việc chào đời trong một ngôi làng của miền Giuđê không chỉ là một sự kiện lịch sử, vì thật ra chỉ là phụ thuộc, mà là một dữ kiện thần học. Xuất xứ này xác nhận rằng Đức Giêsu là con cháu vua Đavít và là Đấng Mêsia. Tính cách biện giáo của bản văn thật rõ: những người ngoại giáo đã biết lên đường đi tìm Đức Kitô và một ông vua gian ác và ngoại quốc (Iđumê) biết làm trung gian cho tin vui, trong khi dân Giêrusalem chẳng những đã không đến với Người, mà còn chống lại Người.
Không bao giờ là một liên minh của Đấng Mêsia, vua Hêrôđê đã lên kế hoạch để loại trừ Người. Kế hoạch của ông đi ngược lại với chương trình của Thiên Chúa. Ông là "vua" trần thế, ông sợ các đối thủ. Sự quan tâm ông bày tỏ với các nhà chiêm tinh chỉ là mánh lới, mưu mô (cc. 7-8).
Tại nhà của Hài Nhi (9-11)
Chuyến đi của các nhà chiêm tinh đã phải dừng lại, bây giờ lại được tiếp tục (c. 9). Các vị không phải là khách du lịch, nhưng là những khách hành hương được hướng dẫn bởi lời và ánh sáng của Thiên Chúa. Đến đây tác giả mới cho thấy tâm trạng của các vị này ("mừng rỡ vô cùng": c. 10). Một cách gián tiếp, tác giả cho hiểu rằng trước đây, các vị tiến đi trong sự khắc khoải âu lo. Hành trình đức tin không bao giờ thoải mái. Chuyến đi hành hương cuối cùng đã đưa những người ngoại đến tận nơi ở của Đấng Mêsia (c. 11).
Các nhà chiêm tinh được tiếp đón “vào nhà", chứ không phải là vào đến vua. Và các vị thấy một hài nhi với bà mẹ. Các vị không tỏ ra chán nản thất vọng. Dân Do-Thái không chấp nhận Đức Kitô do Người sinh ra trong hoàn cảnh thấp hèn (Mt 13,55-58); là những người khôn ngoan và giàu kinh nghiệm, các nhà chiêm tinh đã phủ phục trước Hài Nhi, một trẻ sơ sinh nhỏ bé yếu ớt. Đây là cách người Đông phương nhìn nhận Đấng có quyền trên mình, mình lệ thuộc phần nào hay hoàn toàn vào đấng ấy. Các lễ vật cho thấy các lời sấm của các ngôn sứ đã nên hiện thực và cho thấy Đấng Mêsia được nhận biết; đây là một dấu chỉ khác chứng tỏ các vị nhìn nhận Hài Nhi là Chúa tể.
Các nhà chiêm tinh trở lại quê hương (12)
Đã chân thành lên đường theo tiếng gọi của sự khôn ngoan của mình, các hiền sĩ đã chân thành lên đường tiếp tục hành trình theo lời chỉ vẽ của Lời Chúa và của ngôi sao. Chính sự chân thành tìm kiếm chân lý này đã giúp các ngài gặp được chân lư và được chân lư gìn giữ bình an. Các ngài đã được báo mộng nên "đã đi lối khác mà về xứ mình". Câu này còn có nghĩa là khi gặp được Đấng Mêsia rồi, các vị phải xác định đường lối mới phải theo trong đời mình.
+ Kết luận
Chúng ta được mời gọi chiêm ngắm Hài Nhi Giêsu trong hoàn cảnh chính trị xã hội. Người không đến để tranh dành quyền lực với bất cứ lực lượng nào, vì Người là nguồn ban mọi quyền lực cho loài người. Nhưng sự hiện diện của Người vẫn đặt lại vấn đề về tính hợp pháp và về cách hành xử các quyền lực trong thế giới hôm nay.
Đọc bài Tin Mừng này, chúng ta nhận ra có sự đối đầu của hai vương quyền, vương quyền của Thiên Chúa và vương quyền của loài người. Bản văn cũng nêu bật hai nỗi lo lắng: nỗi lo của những con người đói khát ơn cứu độ, đang ra sức đi tìm; nỗi lo của con người sợ cuộc sống mình bị đặt thành vấn đề. Hai bên đều tiến đi, để rồi đến cuối con đường, một bên được hưởng niềm vui cứu độ, một bên co quắp lại trong thái độ thù nghịch. Chỉ khi vương quyền của con người biết nhìn nhận mình phát xuất từ vương quyền của Thiên Chúa, khi đó mới có sự “bình an dưới thế cho loài người Chúa thương".
5.- Gợi ý suy niệm
1. Các hiền sĩ và giới lãnh đạo Israel: Cuộc tiến bước trong hân hoan của các nhà chiêm tinh tiến về máng cỏ không ngăn cản tác giả nhận ra rằng có một cuộc tiến bước theo chiều ngược lại của quốc gia Israel, tượng trưng bằng các thủ lãnh đạo đời, khi nghe loan báo về cuộc chào đời của Đấng Cứu thế. Các nhà chiêm tinh hết sức mừng rỡ, dân thành Giêrusalem lại xôn xao lo sợ. Người Do-Thái có thể nghiên cứu Sách Thánh để khám phá ra nơi vị ngôn sứ đã báo trước rằng vị thủ lãnh Thiên Sai sẽ chào đời, nhưng họ không bước một bước nào để đến gặp Người, ít ra để bước theo các người thờ lạy ngoại quốc kia. Cuộc quy tụ của họ với vua Hêrôđê trong đền vua dường như là một nội các chiến tranh hơn là một cuộc hội họp bình thản để tìm kiếm ý muốn của Thiên Chúa.
2. Hình ảnh của Hội Thánh: Sự sa sút của dân Do-Thái tưởng chừng có thể làm hỏng tương lai của ơn cứu độ, nhưng hiện tượng dân ngoại tuốn đến lại làm bừng lên các niềm hy vọng vào Hội Thánh phôi thai. Các nhà chiêm tinh vây quanh Đức Maria và Đức Giêsu là một bản phác thảo lý tưởng về Hội Thánh gồm những người ngoại nay làm thành các cộng đoàn Kitô hữu. Sự hiện diện của Đức Giêsu vẫn mang một dáng vẻ giới hạn và nghèo nàn, dù Người đúng là Đấng Phục Sinh, là Chúa Tể muôn loài muôn vật. Mẹ Người cũng hiện diện ở đó để làm chứng về điều này. Tuy nhiên, chấp nhận được Người là Đấng Mêsia, là Đấng Phục Sinh, là một vấn đề của lòng tin chứ không phải là chuyện chứng minh bằng toán học hay bằng lý luận theo kiểu tam đoạn luận. Ở trong Hội Thánh, mỗi người, mỗi nhóm, tùy nghi dùng những gì cao quý nhất mình có (của cải và sự khôn ngoan) để bày tỏ lòng tin và sự tùng phục của mình.
3. Những người ở gần và những người ở xa: Truyện này cho thấy rằng những người ở xa thì lại đến gần được với ơn cứu độ, với Thiên Chúa, còn những người ở gần thì lại đi xa dần, để rồi cuối cùng chuồi vào bóng tối. Vấn đề không phải là khoảng cách về không gian hay về thời gian, bởi vì tình yêu toàn năng của Thiên Chúa vượt thắng tất cả mọi trở ngại về không gian cũng như về thời gian. Vấn đề là lòng tin của con người. Con người cần phải thấy rằng mình không đủ cho chính mình, mình không phải là nguồn mạch của chính mình, để tìm mọi cách đi ra khỏi mình như là trung tâm, nhận lấy trung tâm mới là Đấng Cứu thế, là Thiên Chúa, để có thể thoát khỏi mọi căng thẳng, xung đột, mâu thuẫn do thân phận thụ tạo giới hạn, và hiểu được hướng phải theo mà tìm ra ý nghĩa cho đời mình.
Lm. F.X. Vũ Phan Long, ofm
SUY NIỆM: Lời Chúa và Tâm Tình Tạ Ơn
Hỡi anh em là những kẻ được Chúa yêu mến, chúng tôi phải luôn luôn tạ ơn Thiên Chúa về anh em, vì Thiên Chúa đã chọn anh em ngay từ lúc khởi đầu, để cứu độ anh em nhờ Thần Khí thánh hoá và nhờ lòng tin vào chân lý. (2 Thêxalônica 2:13)
Anh em hãy siêng năng cầu nguyện; hãy tỉnh thức mà cầu nguyện và tạ ơn. (Côlôxê 4:2)
Đừng nói lời thô tục, nhảm nhí, cợt nhả: Đó là những điều không nên; trái lại, phải tạ ơn Thiên Chúa thì hơn. (Êphêsô 5:4)
Trước hết, tôi khuyên ai nấy dâng lời cầu xin, khẩn nguyện, nài van, tạ ơn cho tất cả mọi người. (1 Timôthê 2:1)
Anh em đừng lo lắng gì cả, nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà giãi bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện. (Philípphê 4:6)
Quả thế, nếu bạn chỉ chúc tụng với tấm lòng thôi, thì làm sao hạng người ngoài cuộc có thể thưa "A-men" lúc bạn dâng lời tạ ơn, vì người đó không biết bạn nói gì? (1 Côrintô 14: 16)
Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh. Anh em hãy làm như vậy, đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Ki-tô Giê-su. (1 Thêxalônica 5:18)
Tạ ơn Thiên Chúa, Đấng hằng cho chúng tôi tham dự cuộc khải hoàn trong Đức Ki-tô, tạ ơn Người là Đấng đã dùng chúng tôi mà làm cho sự nhận biết Đức Ki-tô, như hương thơm, lan toả khắp nơi. (2 Côrintô 2:14)
Chúng tôi biết nói gì để tạ ơn Thiên Chúa về anh em, vì tất cả niềm vui mà nhờ anh em, tôi có được trước nhan Thiên Chúa chúng ta? (1 Thêxalônica 3:9)
Tôi tạ ơn Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta, Đấng đã ban sức mạnh cho tôi, vì Người đã tín nhiệm mà gọi tôi đến phục vụ Người. (1 Timôthê 1:12)
Tôi tạ ơn Thiên Chúa, Đấng tôi phụng thờ với lương tâm trong sạch, theo gót tổ tiên; tôi tạ ơn Người khi tôi không ngừng nhắc nhở đến anh, trong các lời cầu nguyện của tôi, đêm cũng như ngày. (2 Timôthê 1:3)
GIÁO LÝ #62: Lời Chuyển Cầu Của Ông Môsê
(Xh 32:11-14)
Sau khi dân It-ra-en đã phạm tội thờ lạy con bê vàng, ông Mô-sê lại lên núi gặp Gia-vê để chuyển cầu cho Dân. Người ta thường nói tới “sự đền tội” của ông Mô-sê: sự đền tội ấy không phải ở chỗ ông chịu một hình phạt nào, nhưng ở chỗ ông đã tha thiết cầu nguyện để cho dân It-ra-en được ơn tha thứ.
Lời cầu nguyện ấy xoay quanh một lời xin cơ bản: "Xin Ngài nguôi cơn thịnh nộ và xin Ngài thương đừng hại Dân Ngài" (Xh 32,14b). Ông Mô-sê không biện minh cho tội tày đình của dân It-ra-en, nhưng xin Thiên Chúa hãy xét lại điều Người sắp làm. Ông đưa ra ba lư do để xin Thiên Chúa đừng trừng phạt Dân: trước hết vì những việc lớn lao và đầy yêu thương mà Thiên Chúa đã thực hiện trong cuộc giải phóng dân It-ra-en khỏi ách nô lệ Ai-cập (32,11); sau đó vì danh tiếng lớn lao mà Thiên Chúa đã đạt được trước mặt các dân tộc khác, nhất là dân Ai-cập: nếu Thiên Chúa huỷ diệt dân It-ra-en, các dân tộc ấy sẽ nghĩ rằng Thiên Chúa của người It-ra-en bất lực, không thể đưa họ đi đến nơi đã định, hoặc còn có thể nghĩ rằng vị Thiên Chúa ấy đã có ác ý khi dẫn đưa họ vào sa mạc (32,12; Ds 14,13-16); sau hết vì Thiên Chúa đã lấy Danh mình mà thề hứa với các tổ phụ là sẽ ban cho họ một dòng dõi đông đảo và sẽ ban cho dòng dõi ấy một vùng đất (32,13).
Lời cầu nguyện của ông Mô-sê biểu lộ một sự táo bạo lạ lùng. Ông dám hỏi Thiên Chúa: tại sao Ngài bừng bừng nổi giận, tại sao dân Ai-cập có thể rêu rao, xin Ngài hãy nhớ lại… Đó là sự táo bạo của con người đã được trở thành bạn hữu nghĩa thiết của Thiên Chúa. Sau này thánh Phao-lô sẽ nói tới "sự mạnh dạn" của các con cái Thiên Chúa (Rm 8,15; Ep 3,12).
Nhờ lời chuyển cầu của ông Mô-sê, "Thiên Chúa đã thương, không giáng phạt Dân Người như Người đã đe” (32,14). Phúc cứu độ của con người nằm ở chỗ Thiên Chúa đã quyết định ban ơn tha thứ. Và sở dĩ Thiên Chúa đã làm như thế, là vì Người là Đấng giàu tình thương, luôn luôn trung tín với Giao-ước, với những lời Người đã hứa với cha-ông, mặc dầu con người chẳng có công trạng gì. (còn tiếp)
Lm. Norbert Nguyễn Văn Khanh, ofm
LỜI NGUYỆN: Cảm Tạ Chúa
Lạy Mẹ Maria kính yêu của chúng con;
Màu tím dịu hiền của hoa đào và màu vàng rực rỡ của hoa mai đang nở rộ báo cho chúng con biết một năm nữa sắp đi qua.
Chúng con biết mỗi giây phút đi qua trong cuộc đời của chúng con là mỗi hồng ân Chúa ban, và dù cuộc sống có nhiều biến đổi thăng trầm, có muôn vàn lo toan, khốn khó; nhưng hồng ân Chúa bao giờ cũng chan hòa trên chúng con.
Chúng con tin rằng những hồng ân chan hòa ấy là do Mẹ cầu xin cho chúng con, và Mẹ cũng là Đấng thay Chúa trao tặng ân thiên cho chúng con.
Lạy Mẹ, chúng con biết nói gì với Mẹ trong giây phút xúc động này, biết dâng gì cho Chúa để đền đáp tình Người? Có chăng chỉ là chút tình con thảo kính yêu Mẹ.
Xin Mẹ cho chúng con được nép mình bên Mẹ, quỳ bên gối Mẹ để được cùng với Mẹ thân thưa với Thiên Chúa từ nhân lời cảm tạ chân tình trào dâng niềm kính ái của chúng con. Amen.
Maria
|
|

Trở về mục lục >>
|
|
|
|
THAM KHẢO:
Các Phiên Họp
A. Họp Hội Đồng như thế nào?
Một buổi họp Hội Đồng cần được AC Phục Vụ triệu tập nghiêm túc, để có đông đủ thành viên hiện diện. Nên soạn trước chương trình (theo qui định của Nôi qui Quốc gia), họp đàng hoàng, có trường hợp lại cần có "thuyết trình viên" (nếu là họp để xét duyệt xin nhập gia, xin tuyên khấn: thì PTHL trình bày danh sách, và đưa ra các thông tin về đối tượng, để Hội đồng bỏ phiếu kín. Còn nếu để thông qua một đề án, thì chính người lập đề án là "thuyết trình viên"....)
Các biên bản phải được viết vào một cuốn sổ gọi là "Sổ Biên bản". Trước lúc bế mạc buổi họp cần dành thời gian đọc lại biên bản và chỉnh sửa nếu có điều gì đó không rõ ràng, và phải được AC Phục Vụ (chủ Tọa) kư trước mặt Hội Đồng, không thể nói rằng để về nhà viết lại rồi mới ký.
Biên bản cần được lưu giữ kỹ càng vào văn khố của HĐĐ, thời gian dài ngày hay ngắn hạn tùy mức độ quan trọng của buổi họp (ít nhất cho đến khi bàn giao cho Hội Đồng nhiệm kỳ sau).
Quyết nghị của Hội Đồng có giá trị thế nào?
Biên bản buổi họp của Hội Đồng có giá trị như một loại văn kiện “pháp qui” để từ đó, A/C Phục vụ “lo sao cho nó được thi hành" (xem THC điều 51). Những việc đã do Hội Đồng duyệt rồi, thì cứ thi hành như là thường vụ. Và AC Phục vụ cứ phân công tùy theo trách vụ và khả năng, hầu cho công tác tiến triển tốt đẹp.
Chương trình buổi họp như thế nào?
Nội qui QG, cũng như các tài liệu có sẵn không thấy qui định chương trình một buổi họp Hội Đồng, nhưng Nội Qui QG ấn định trình tự một buổi họp HĐĐ/ĐP (Điều 24.) cũng qui định thời gian tối thiểu là 90 phút.
B. Chương trình một buổi họp của HĐĐ Địa phương:
- Khai mạc (theo sách nghi thức)
- Đọc Bút tích Cha Thánh
- Kiểm diện
- Đọc biên bản buổi họp lần trước
- Phần thường huấn, học tập
- Tin tức
- Sinh hoạt nội bộ
- Lời nhắn nhủ của Cha trợ úy
- Bế mạc (theo sách Nghi thức)
Vậy thì chúng ta có thể áp dụng như thế nào? Vấn đề đặt ra là nhu cầu thời gian bàn bạc. Thiết tưởng, trước hết chúng ta nên sắp xếp để mọi việc diễn tiến suôn sẻ: Nếu thời gian cho phép, chúng ta nên theo đúng qui định của NQQG, ứng dụng vào buổi họp Hội Đồng. Như vậy sẽ tốt nhất, vì trong chương trình họp có đủ mọi điều cần thiết. Nếu việc “bàn bạc" đòi hỏi quá nhiều thời gian, thì chúng ta có thể bỏ qua phần thường huấn, học tập. Riêng việc "kiểm diện" (mục 3) thì không bao giờ được bỏ qua. (Còn tiếp)
Pet. Nguyễn Đức Tiến
HUẤN LUYỆN:
Các Giai Đoạn Huấn Luyện
Của các thành viên tìm hiểu ơn gọi trong Dòng Phan Sinh Tại Thế:
1. Giai đoạn Tìm Hiểu (Orientation stage)
- Thường kéo dài từ 3-6 tháng
- Các ứng viên được gọi là các Dự Viên (nhà dòng gọi là dự tu)
- Các ứng viên được chuyển sang giai đoạn kế tiếp qua
Nghi Thức Giới Thiệu (Ceremony of Introduction-welcoming)
2. Giai đoạn Tiền Tập (Inquiry stage)
- Thường kéo dài khoảng 6-9 tháng
- Các ứng viên được gọi là các Thỉnh Viên (nhà dòng gọi là nhà thử)
- Các ứng viên được chuyển sang giai đoạn kế tiếp qua
Nghi Thức Nhập Gia (Rite of Admission)
3. Giai đoạn Tu Tập (Candidacy stage)
- Thường kéo dài từ 24-36 tháng
- Các ứng viên được gọi là các Tập Viên (nhà dòng gọi là nhà tập)
- Các ứng viên được chuyển sang giai đoạn kế tiếp qua
Nghi Thức Tuyên Khấn (Rite of Profession: Temporary or permanent commitment)
4. Giai đoạn Khấn Hứa (Profession)
- Kéo dài đến trọn đời
- Các ứng viên được gọi là các Khấn viên (nhà dòng gọi là tu sĩ).
Ant. Le
HUẤN LUYỆN:
Ba Lời Khấn
Như đã biết, ngoài trừ một số dòng có những lời khấn đặc biệt như Dòng Tên, hầu hết các linh mục tu sĩ thường có 3 lời khấn giống nhau là Vâng Phục, Khó Nghèo, và Khiết Tịnh. Ba lời khấn này đòi buộc các ứng viên phải triệt để trung thành cách tích cực theo nghĩa bóng lẫn nghĩa đen. Riêng lời khấn Khiết Tịnh phải hiểu theo nghĩa là phải giữ mình đồng trinh, phải sống độc thân chứ không được kết hôn với một người khác.
Còn người Phan Sinh Tại Thế chúng ta KHÔNG khấn như các tu sĩ; Nói đúng hơn là chúng ta chỉ khấn giữ theo tinh thần của 3 lời khấn ấy mà thôi.
Để dễ dàng cảm nghiệm những lời khấn ấy, chúng ta có thể thay thế những từ ấy như sau:
Vâng Phục được thay thế bằng chữ Khiêm Hạ
Khó Nghèo được thay thế bằng chữ Đơn Giản
Khiết Tịnh được thay thế bằng chữ Trong Sạch
Ý muốn nói, chúng ta không phải Vâng Phục các ‘bề trên’ cách triệt để như trong một cộng đoàn tu sĩ, nhưng chúng ta chỉ sống Khiêm Hạ với các ‘bề trên’, với anh em, và với mọi người mà mình gặp gỡ ở mọi nơi, mọi lúc…
Chúng ta không thể sống Khó Nghèo và không có ‘của riêng’ cách triệt để như các tu sĩ vì các tu sĩ sống trong cộng đoàn đã có những tu sĩ quản lý chăm lo mọi sinh hoạt chung và riêng từng người… trái lại, chúng ta sống giữa đời, mỗi người có gia đình riêng nên cần phải có ‘của riêng’. Nhưng, Luật Dòng khuyên chúng ta hãy sống Đơn Giản: chỉ mua sắm, chỉ giữ lại, chỉ sử dụng những gì thật sự cần thiết và tránh sa hoa, se sua, khoe khoan hay màu mè diêm dúa…
Còn lời khấn Khiết Tịnh chỉ dành cho các cha, các thầy, các sơ mà thôi… (Cùng mĩm cười một chút nhé) chúng ta là những người phải "sinh sôi cho đầy khắp mặt đất” mà… Ở đây, có lẽ chữ Khiết Tịnh còn nói nhiều điều hơn là chuyện vợ chồng, do đó người Phan Sinh Tại Thế (dẫu ở đấng bậc nào đi nữa) chúng ta cũng phải giữ mình Trong Sạch. Thế thì, độc thân hay có gia đình đều cần phải Trong Sạch phải không quí anh chị?
Tóm lại, người Phan Sinh Tại Thế chúng ta Chọn Tin Mừng Làm Chuẩn, chúng ta luôn luôn "Đi từ Phúc Âm đến đời sống và từ cuộc sống trở về với Phúc Âm" qua tinh thần của Ba Lời Khấn: Khiêm Hạ, Đơn Giản và Trong Sạch.
Với vài chia sẻ đơn sơ để làm ‘dịu cơn sợ hãi’ của những anh chị chưa muốn trở thành ‘người không có của riêng’ hay ‘người độc thân bất đắc dĩ” nhé…
Ant. Le
|
|

Trở về mục lục >>
 |
|
GIÁO HUẤN 17: Hướng
Đi Lên
Là nền tảng của xã hội, gia đình cần được bảo vệ và trợ giúp. Sự trợ giúp này phải được thể hiện cả hai phương diện vật chất và tinh thần. Nhưng gia đình cũng như con người không tự giới hạn mình trong phạm vi trần thế, mà nó còn phải hướng lên theo chiều kích tinh thần mà Thiên Chúa đã phú định, Công Đồng Vaticanô II đã diễn tả các yêu cầu như sau: "Phải cho con người được tất cả những gì thiết yếu, như của ăn, áo mặc, chỗ ở, quyền tự do chọn lựa bậc sống và quyền lập gia đình, quyền được giáo dục, quyền làm việc, quyền làm việc theo lương tâm mình... và quyền tự do chính đáng trong phạm vi tôn giáo” (MV 26).
Theo lời giáo huấn trên, thì con người cũng như gia đình có 3 loại nhu cầu cần được thoả mãn cách bình đẳng và đầy đủ:
1. Những nhu cầu vật chất như thức ăn, quần áo, nhà cửa, tư liệu sinh hoạt, học tập và văn hoá, gọi chung là những nhu cầu vật chất.
2. Loại nhu yếu phẩm thứ hai thuộc phạm vi tinh thần. Đó là những quyền lợi cơ bản và khách quan. Những quyền lợi này thường được gọi là nhân quyền, vì nó dính liền với "tính người của con người". Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều cam kết và tôn trọng những quyền tự do này.
3. Sau hết, gia đình còn là một chiều kích hướng lên. Đó là điều mà Công Đồng gọi là quyền tự do trong phạm vi tôn giáo. Nói cách khác, song hành với những yêu cầu trần thế, con người vẫn có một ước vọng, một cơn khát mà chính Thánh Augustinô đã diễn tả dưới hình thức một kinh nghiệm như sau: "Lạy Chúa đã tạo dựng chúng con, để chúng con đến với Chúa, vì tâm hồn chúng con còn thao thức cho đến khi được an nghỉ trong Chúa (Conf. 1.1 CSEL 33.1). Gia đình chúng ta cần thăng tiến và hướng lên.
ĐGM Nicolas Huỳnh Văn Nghi
|

Trở về mục lục >>
 |
|
|
THƯ ÁO NÂU:
Thanh Long Và Khát Vọng
Áo Nâu Anh thân yêu
Thanh long có hoa nở rất đẹp, trái rất ngon, và đang là sản phẩm xuất khẩu thời thượng đấy Anh ạ. Nó có rất nhiều bà con thuộc họ nhà xương rồng; Có những loài xương rồng cả đời không có hoa, cũng có những cây xương rồng cả đời chỉ nở hoa một lần. Anh có biết cây Quỳnh không? Quỳnh có hoa thường nở vào ban đêm; các cụ ngày xưa cùng nhau thức đêm, cắn hạt cải để chờ thưởng thức giây phút hoa quỳnh nở. Có loài hoa quỳnh rất thơm, và chỉ thơm khi mới nở, nhưng phần nhiều hoa quỳnh không thơm, không có mùi vị gì cả.
Em ước mơ làm một đóa hoa quỳnh vì nó rất đẹp, là niềm vui cho nhiều người, là sự trông đợi của các cụ già thích thưởng thức hoa nở, là niềm suy tưởng cho những ai thích sống về đêm.
Em ước mơ mình là một bông hoa xương rồng, hoa xương rồng mọc trên cây dị dạng, hoặc là có gai đầy mình, hoặc là có các tàn lá xơ cứng đúng như con người của Em: cằn cỗi, xấu xa, lắm tật xấu… nếu Em nở được một bông hoa xương rồng, chứng tỏ thâm thân Em đã sẵn sàng thuộc về người khác, và đang vươn đến chân thiện mỹ hơn.
Nhưng Anh ơi! Em khao khát và hy vọng là mình sẽ được là hoa Thanh Long hơn, hoa Thanh Long cũng nở về đêm, cũng chóng tàn, nhưng rất đẹp, nhất là khi hoa nở hàng loạt trong một cánh đồng thanh long. Sau khi phô trương nét đẹp của mình, hoa thanh long đã kết trái và trái Thanh Long cũng rất đẹp, đem lại mát mẻ êm dịu cho người thưởng thức; Trong lòng trái thanh long, khi cắt ra, Em thấy một sự tương phản rất hài hoà. Nếu có thể ví những "hạt mè đen” là những đau khổ trong cái “trong trắng” của ruột Thanh Long, thì chính cái vỏ đỏ đậm bên ngoài lại tô đẹp cho màu sắc mâu thuẫn bên trong, thành ra nó lại là sự hài hoà vô song. Em khát vọng được biến những đau khổ màu đen của cuộc đời thành những hạt mè đen của thanh long, để đem lại ư vị cho người ăn quả Thanh Long.
Cũng do sự khác biệt nhưng lại kết nối hài hoà của trái thanh long, Em liên tưởng đến điều khác Anh ạ: Có những người họ rất giàu vật chất nhưng tâm hồn họ nghèo, số đếm thì họ đếm rất nhanh, những lời cao cả thì họ không thích, âm thanh đẹp thì họ không hiểu, lại thường xuyên xúc phạm kẻ khác. Có những lúc Em thật bất bình, tính loài người xúi dục em trả đũa! Danh ngôn nhắc nhở Em rằng “Báo thù một sự xúc phạm là tự đặt mình ngang bằng với kẻ thù; tha thứ là tự nâng mình lên cao hơn", Em không mấy thích kiểu ví von ngật ngưỡng này (nhất là những từ ngữ đại loại như kẻ thù, chiến tranh,…) thực ra báo thù luôn đè bẹp nhân cách của mình xuống, còn tha thứ luôn tôi luyện tinh thần và nâng cao nhân phẩm của mình.
Rồi Em cũng cố tiếp nhận và quên đi những buồn đau do bị xúc phạm, vì qui luật đầu tiên của tình yêu là vun đắp nó, còn nếu bị xao lãng, thì qui luật tiếp theo là độ lượng. Kế đến là tâm tình khát mong cho những người có tính hay công kích người khác được có những phản hồi trong tư tưởng, để họ biết đâu là "hạt mè đen”, và hạt mè đen phải gắn vào đâu để có được cái “trong trắng” vô tư của tâm hồn, và rồi sẽ phát xuất ra bên ngoài tính tình hoà đồng đẹp đẽ như màu đỏ của vỏ trái Thanh Long.
Nghĩ về bản thân mình, cũng có lúc em cảm thấy một sự ngăn cách vô hình rất lớn giữa Anh và Em dù ngăn cách ấy không bởi thời gian và không gian, nhưng vẫn có sự ngăn cách nhân tính và dục tính. Thật đấy Anh ạ. Sóng gió đấy! Thử thách đấy! Đôi khi Em cũng cảm thấy mệt mỏi nhưng phúc đức thay, Anh đã dạy em biết cân bằng mọi thứ rồi.
Anh ạ, trong khát vọng, Em luôn biết chờ đợi vì mọi thứ ở đời luôn có thời của nó, nghĩa là em phải cày xới gieo hạt, vun tưới, để có ngày gặt hái trong vui tươi.
Đây là những dòng nhật ký viết ra từ trái tim cho một trái tim. Em chào Anh và hy vọng Anh luôn sống trong em.
â
Agnès Kim Gương
Lịch
Đọc Kinh Phụng Vụ Năm 2009
(Các ngày Chúa nhựt và Lễ Trọng)
THÁNG 1
Ngày 01 Lễ THÁNH MARIA, ĐỨC MẸ CHÚA TRỜI (Lễ Trọng/buộc) (Ngày trong tuần, đọc Phần Chung I - Mùa Giáng Sinh - Tuần I)
CN 04 Chúa nhựt LỄ CHÚA HIỂN LINH (Ngày trong tuần, đọc Phần Chung II - Mùa Giáng Sinh - Tuần II)
CN 11 Chúa nhựt LỄ CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA (Ngày 12 bắt đầu Mùa Thường Niên – Năm B – Ca vịnh Tuần I )
CN 18 Chúa nhựt 2 Mùa Thường Niên – Năm B – Ca vịnh Tuần II
CN 25 Chúa nhựt 3 Mùa Thường Niên – Năm B – Ca vịnh Tuần III
THÁNG 2
CN 01 Chúa nhựt 4 Mùa Thường Niên – Năm B – Ca vịnh Tuần IV
CN 08 Chúa nhựt 5 Mùa Thường Niên – Năm B – Ca vịnh Tuần I
CN 15 Chúa nhựt 6 Mùa Thường Niên – Năm B – Ca vịnh Tuần II
CN 22 Chúa nhựt 7 Mùa Thường Niên – Năm B – Ca vịnh Tuần III
Ngày 25 THỨ TƯ LỄ TRO (Ca vịnh Tuần IV)
THÁNG 3
CN 01 Chúa nhựt I MÙA CHAY – Năm B – Ca vịnh Tuần I
CN 08 Chúa nhựt II MÙA CHAY – Năm B – Ca vịnh Tuần II
CN 15 Chúa nhựt III MÙA CHAY – Năm B – Ca vịnh Tuần III
Ngày 19 Kính THÁNH GIUSE, Bạn Trăm Năm Đức MARIA
CN 22 Chúa nhựt IV MÙA CHAY – Năm B – Ca vịnh Tuần IV
CN 29 Chúa nhựt V MÙA CHAY – Năm B – Ca vịnh Tuần I
THÁNG 4
CN 05 CHÚA NHỰT THƯƠNG KHÓ (LỄ LÁ) – Ca vịnh Tuần II) (Đọc Phần Chung II MÙA CHAY dành riêng cho Tuần Thánh).
Ngày 10 THỨ SÁU TUẦN THÁNH
CN 12 Chúa nhựt LỄ PHỤC SINH – Năm B – Ca vịnh Tuần I
CN 19 Chúa nhựt II PHỤC SINH – Kính Lòng Thương Xót Chúa –(Cv. Tuần II)
CN 26 Chúa nhựt III PHỤC SINH – Năm B – Ca vịnh Tuần III
THÁNG 5
CN 03 Chúa nhựt IV PHỤC SINH – Năm B – Ca vịnh Tuần IV
CN 10 Chúa nhựt V PHỤC SINH – Năm B – Ca vịnh Tuần I
CN 17 Chúa nhựt VI PHỤC SINH – Năm B – Ca vịnh Tuần II
Ngày 21 Lễ THĂNG THIÊN (có nơi dời vào Chúa nhựt kế: Lễ Trọng). Ngày thường đọc Ca vịnh Tuần II – Phần Chung II Mùa Phục Sinh
CN 24 Chúa nhựt VII PHỤC SINH / Lễ THĂNG THIÊN. (Ngày trong tuần, đọc Ca vịnh Tuần III – Phần Chung II Mùa Phục Sinh)
CN 31 CN LỄ CHÚA THÁNH THẦN HIỆN XUỐNG (Lễ Trọng). (Ngày thường: – trong tuần 9 Thường Niên - Ca vịnh Tuần I)
THÁNG 6
CN 07 Chúa nhựt (10) Lễ CHÚA BA NGÔI (Ngày thường: – trong tuần 10 Thường Niên – Ca vịnh Tuần II)
CN 14 Chúa nhựt Lễ MÌNH VÀ MÁU THÁNH CHÚA KITÔ (Chúa nhựt 11 Mùa Thường Niên – Năm B – Ca vịnh Tuần III)
Ngày 19 Lễ THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU (Lễ Trọng) CN 21 Chúa nhựt 12 Mùa Thường Niên – Năm B – Ca vịnh Tuần IV
Ngày 24 SINH NHỰT THÁNH GIOAN TẨY GIẢ
CN 28 Chúa nhựt 13 Mùa Thường Niên – Năm B – Ca vịnh Tuần I
Ngày 29 Lễ THÁNH PHÊRÔ - PHAOLÔ TÔNG ĐỒ (Lễ Trọng)
THÁNG 7
CN 05 Chúa nhựt 14 Mùa Thường Niên – Năm B – Ca vịnh Tuần II
CN 12 Chúa nhựt 15 Mùa Thường Niên – Năm B – Ca vịnh Tuần III
CN 19 Chúa nhựt 16 Mùa Thường Niên – Năm B – Ca vịnh Tuần IV
CN 26 Chúa nhựt 17 Mùa Thường Niên – Năm B – Ca vịnh Tuần I
THÁNG 8
CN 02 Chúa nhựt 18 Mùa Thường Niên – Năm B – Ca vịnh Tuần II
Ngày 6 Lễ CHÚA GIÊSU HIỂN DUNG (Lễ Trọng)
CN 09 Chúa nhựt 19 Mùa Thường Niên – Năm B – Ca vịnh Tuần III
Ngày 11 Lễ Thánh Clara Assisi (Lễ Nhớ)
Ngày 15 Lễ ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI (Lễ Trọng)
CN 16 Chúa nhựt 20 Mùa Thường Niên – Năm B – Ca vịnh Tuần IV
CN 23 Chúa nhựt 21 Mùa Thường Niên – Năm B – Ca vịnh Tuần I
CN 30 Chúa nhựt 22 Mùa Thường Niên – Năm B – Ca vịnh Tuần II
THÁNG 9
CN 06 Chúa nhựt 23 Mùa Thường Niên – Năm B – Ca vịnh Tuần III
Ngày 08 Lễ SINH NHỰT ĐỨC TRINH NỮ MARIA (Lễ Trọng)
CN 13 Chúa nhựt 24 Mùa Thường Niên – Năm B – Ca vịnh Tuần IV
Ngày 14 Suy tôn Thánh Giá
CN 20 Chúa nhựt 25 Mùa Thường Niên – Năm B – Ca vịnh Tuần I
CN 27 Chúa nhựt 26 Mùa Thường Niên – Năm B – Ca vịnh Tuần II
THÁNG 10
CN 04 Chúa nhựt 27 Mùa Thường Niên – Năm B – Ca vịnh Tuần III Lễ Thánh Phanxicô Assisi (Lễ Nhớ)
CN 11 Chúa nhựt 28 Mùa Thường Niên – Năm B – Ca vịnh Tuần IV
CN 18 Chúa nhựt 29 Mùa Thường Niên – Năm B – Ca vịnh Tuần I
CN 25 Chúa nhựt 30 Mùa Thường Niên – Năm B – Ca vịnh Tuần II
THÁNG 11
CN 01 Lễ CÁC THÁNH NAM NỮ (Chúa nhựt 31 Thường Niên – Ca vịnh Tuần III) Ngày 02 Lễ Các Linh Hồn
CN 08 Chúa nhựt 32 Mùa Thường Niên – Năm B – Ca vịnh Tuần IV
Ngày 09 Lễ Cung hiến Vương cung Thánh đường Latêranô (Rôma)
CN 15 Chúa nhựt 33 Mùa Thường Niên – Năm B – Ca vịnh Tuần I
CN 22 Chúa nhựt (34) LỄ CHÚA KITÔ VUA VŨ TRỤ (Ngày trong tuần, đọc Ca vịnh Tuần II)
Ngày 24 Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam (Lễ Nhớ)
CN 29 Chúa nhựt I MÙA VỌNG – Năm C (Ca vịnh Tuần I)
THÁNG 12
CN 06 Chúa nhựt II MÙA VỌNG – Năm C (Ca vịnh Tuần II)
Ngày 08 Lễ ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI (Lễ Trọng)
CN 13 Chúa nhựt III MÙA VỌNG – Năm C – Ca vịnh Tuần III (Từ 17 đến 24/12, tuần áp Lễ Giáng Sinh, Phần Chung II Mùa Vọng)
CN 20 Chúa nhựt IV MÙA VỌNG – Năm C (Ca vịnh Tuần IV)
Ngày 25 Lễ CHÚA GIÁNG SINH (Lễ Trọng) (Trong tuần Bát Nhựt lễ Giáng Sinh)
CN 27 Chúa nhựt Lễ THÁNH GIA THẤT (Lễ Kính).
Nghĩ Về Mẹ
Vì yêu thương mà Thiên Chúa đã chọn và tặng ban Mẹ Maria cho loài người, bởi thế, Mẹ là người mẹ tuyệt mỹ, cao trọng, tốt lành hơn hết mọi loài thụ tạo, là mẫu gương hoàn hảo cho nhân loại bắt chước khi sống tâm tình tạ ơn Thiên Chúa.
Mẹ nhân hậu và khoan dung hơn hết mọi người mẹ, Mẹ cao trọng nhưng tuyệt đối khiêm nhường, thanh khiết, tuyệt mỹ và rất yêu những đứa con dại khờ, tội lỗi.
Mẹ yêu chúng ta ở đời này và còn yêu cả đời sau nữa, tình Mẹ yêu con cái vượt cả không gian và thời gian, không như những người Mẹ trần gian thì yêu con cái có giới hạn, Mẹ Maria yêu chúng ta vô hạn. Mẹ trần gian chăm lo cho con đến ngày Mẹ nhắm mắt, nhưng Mẹ Maria săn sóc chúng ta đời đời, khi ta sống ở đời này Mẹ đã luôn đồng hành dắt dìu, nâng đỡ, khi chúng ta nhắm mắt giã từ cõi tạm, Mẹ lại cầu bầu cho chúng ta trước tòa Chúa, Mẹ bênh vực, che chở chúng ta khỏi tay ma quỷ, Mẹ cứu chúng ta thoát khỏi lửa hỏa hình, Mẹ dắt chúng ta vào Thiên Quốc cho ta được hưởng hạnh phúc vinh quang bên Chúa muôn đời. Chúng ta tin và cảm nhận được tình yêu của Mẹ dành cho chúng ta bằng chính đời sống của Mẹ, qua những ơn lành hằng ngày Chúa tuôn đổ trên chúng ta.
Ngày Mẹ quỳ cúi trước Sứ Thần Gabriel để nói lên tiếng "Xin Vâng", thì ngọn lửa sốt mến của Chúa Thánh Thần đã cháy bùng thiêu đốt tâm trí Mẹ. Tình yêu thôi thúc, giục giã khiến Mẹ không nghĩ ngơi nhưng vội vả ra đi đem Chúa đến cho chúng ta.
Khi sinh con, Mẹ thức suốt đêm để quỳ bái, thờ lạy, chiêm ngắm, bồng bế, nâng niu, ấp ủ Chúa Con.
Để bảo vệ con, Mẹ vội vả ra đi trong đêm tối khi trốn qua Ai-cập, không màng đến tấm thân, bất chấp thời tiết, bất chấp mọi gian nan trên đường, bất chấp những khó khăn nơi xứ lạ quê người.
Khi lạc mất Chúa ba ngày, Mẹ bối rối, hoang mang lo lắng kiếm tìm đến đổi Mẹ phải cất tiếng than: "Con thấy không, cha và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con." (Lc 2:48) Dõi theo chân Chúa Giêsu từng bước một trên đường truyền giáo, lần theo vết máu của con suốt đoạn đường khổ hình, nghe hết mọi lời người ta phỉ báng, thấy hết những cực hình Con mình phải gánh chịu, can đảm đứng lặng lẽ dưới chân thánh giá nhìn Con Yêu hấp hối và chết thảm thương, đau đớn ngồi ôm xác con giữa trời hoang tím lạnh…
Ngày nay, dù ở nơi Thiên Cung vinh hiển nhưng chắc chắn rằng Mẹ chẳng bao giờ quên chúng ta, Mẹ luôn dõi theo từng bước đời ta. Mẹ biết và thấy hết mọi đau khổ, vất vả, vui buồn, Mẹ cảm nhận được hết những lo toan, gánh nặng, oan khiên, tủi hổ của từng đứa con, Mẹ chung vui, chia buồn với con trong từng giây phút, Mẹ vẫn vội vả đem Chúa đến cho chúng ta từng ngày, Mẹ là trung gian, là chiếc cầu nối cho ta bước đến cùng Thiên Chúa, là trạng sư cho chúng ta trước tòa Chúa, Là Đấng dẫn dắt chúng ta vào biển bao la tình yêu của Thiên Chúa, cho ta được tắm mát trong sự khoan dung của Người. Hãy biết ơn Mẹ và hãy ngợi khen Thiên Chúa, Đấng nhân hậu đã tặng ban Mẹ Maria cho toàn thể nhân loại.
Năm cũ đã qua, năm mới đang về, người thì rộn ràng lo đón chào năm mới, người đang vui cười bên mái ấm gia đình, người thì vẫn phải tất bật để lo cơm áo, người thanh thản ngắm hoa chờ đợi, người lang thang trên phố, người buồn hiu lặng lẽ dìm mình trong cô đơn, người nằm hấp hối, kẻ mòn mỏi đau khổ trong chốn lao tù đếm thời gian trôi… Nhưng dù chúng ta là ai, sống ở môi trường nào, đang làm gì thì vẫn phải nhớ đây là những giờ phút quan trọng, thiêng liêng, giờ phút mà tất cả con dân Việt Nam đều xếp lại những riêng tư, mọi tất bật, lo toan để về với Mẹ, quỳ bên gối Mẹ, để cùng với Mẹ dâng lời tạ ơn Chúa.
Tạ ơn Chúa vì một năm đã qua chúng ta đón nhận biết bao ơn lành Chúa ban, tạ ơn thay cho gia đình, thân nhân, ân nhân, xóm làng, quê hương của chúng ta. Tạ ơn thay cho những ai chưa bao giờ và cũng không bao giờ biết dâng lời tạ ơn Chúa, đồng thời, cùng dâng gia đình, dâng bao lắng lo, vui buồn, ước nguyện, tâm nguyện của chúng ta trong năm mới này cho Mẹ, xin Mẹ dâng thay và cầu thay cho chúng ta trước tôn nhan Chúa và tha thiết xin Mẹ dắt ta đi trên đường ư Chúa, để trong mọi hoàn cảnh, chúng ta luôn biết noi gương Mẹ nói tiếng Xin Vâng.
Trong đôi mắt Mẹ, chúng ta mãi mãi là bé thơ, trong trái tim Mẹ, chúng ta rất đáng yêu, trọn cuộc đời chúng ta luôn cần có Mẹ, vì Mẹ là suối nguồn yêu thương không bao giờ cạn, là nguồn cậy trông cho chúng ta chạy đến, là bến bình an cho chúng ta tìm về. Bởi thế, hãy thân thưa rằng: "Lạy Nữ vương, Mẹ nhân lành làm cho chúng con được sống, được vui, được cậy, thân lạy Mẹ… Amen.
T.MK
Chút Tản Mạn Cuối N ăm
Những ngày cuối năm, đường phố rộn rịp hẳn lên, hình như ai cũng tất bật, vội vàng đi mua sắm, ai cũng muốn gia đình mình được ăn một cái tết thật vui, thật đầy đủ vật chất, thật nồng ấm tình thương mến của gia đình.
Về khuya thời tiết càng lạnh hơn, dòng người bắt đầu thưa dần, sự tất bật của của thành phố bắt đầu lắng dịu, tôi chậm rãi đi xuống phố, tôi thích thong thả một mình trong đêm để nhìn sự yên tỉnh của thành phố, để lắng nghe những âm thanh còn sót lại của những mảnh đời… mỗi mảnh đời có mỗi âm thanh khác nhau, mà chỉ có những tâm hồn nhậy cảm và biết chia sẻ mới có thể lắng nghe và cảm nhận được những âm thanh độc đáo ấy.
Những đứa bé còm cỏi lang thang, những cụ già lọm khọm nặng nhọc cất bước, những người tàn tật đang lê lết trên đường… họ đi mà không biết mình đi đâu, họ muốn về mà không có chỗ để về, họ nhìn bóng đêm đầy sợ hãi. Anh công nhân lầm lũi quét đường, chị đẩy xe ba gác nhặt nhạnh những đồ phế thải từ đống rác để kiếm tiền cho con được tới trường, cho gia đình có được miếng cơm no lòng ngày tết đến. Tất cả đều lầm lũi đi, tất cả đều lặng lẻ làm, tất cả đều im lặng nhưng sao tôi nghe tiếng lòng họ như đang nức nở, van vỉ, gào thét: Tiếng lòng của bé gào thét gọi cha, đòi mẹ và van xin ‘đời’ hãy cho bé một mái ấm gia đình. Các cụ già nức nở gọi con, gọi cháu để cầu xin những thế hệ đi sau hãy trao cho các cụ một vòng tay nồng ấm, người tật nguyền gọi tình người thức dậy, mong tình người lên ngôi, bờ vai người công nhân ướt đẫm sương đêm. Mầu áo công nhân chìm hẵn trong đêm, mất hút giữa sự vô tâm của anh em, nhưng chiếc áo công nhân như tha thiết nói với mọi người hãy quan tâm đến nhau một chút để người nghèo vơi bớt nhọc nhằn vởi vì, không ai thấy những giọt mồ hôi thấm lạnh trên lưng của những ‘người nghèo’ trong đêm đông! Người ta cứ tha hồ, thoải mái vất rác bừa bãi xuống đường và chị thì hòa mình trong đám rác rưởi, mặc kệ cái nhìn khinh dễ của người đời, chị quá quen với những mùi hôi hám ấy, chị cần có những mùi hôi hám ấy để ‘được’ sống, mùi hôi hám ấy giúp cho gia đình chị qua cơn đói lòng, mùi hôi hám ấy không còn đáng sợ đối với những người nghèo…
Cứ sự thường, khi mặt trời chói chang thì người ta mới nhìn thấy mọi cảnh vật chung quanh, nhưng đôi khi có những nơi, những lúc mặt trời tắt lịm người ta mới nhìn thấy rõ rệt, mới thấu hiểu những việc, những người ở chung quanh mình.
Khi ngự trên đỉnh cao của sự giàu sang và quyền lực, người ta khó cảm nhận được những thiếu thốn, vất vả, gánh gồng, lo toan từng miếng ăn của người nghèo; Khi rực rỡ giữa ánh sáng của hạnh phúc, người ta không thể nào hiểu được đâu là bóng tối của sự bất hạnh. Càng không thể cảm nhận được sự cô đơn, đói khổ, cùng cực, tuyệt vọng của người nghèo. Khi vật chất đầy đủ, khi bạc tiền dư dật, ít có ai nghĩ đó là do Chúa ban tặng.
Thay vì dâng lời tạ ơn Chúa thì người ta lại huênh hoang tự đắc, ngạo nghễ ngẩn cao đầu hống hách với đời, và tự phụ là do mình tài giỏi tạo thành; thay vì dành chút ít thời gian cho Chúa, người ta lại đi tìm vui cho bản thân suốt ngày, ngồi hằng giờ để hơn thua nhau từng lời nói. Thay vì dùng tiền của để mua nước Thiên Đàng thì người ta lại say sưa chè chén bên những bàn tiệc vô bổ, thay vì nên chia sẻ thì người ta lại ung dung hưởng thụ, quên mất rằng bên cạnh mình có quá nhiều người cần chút cơm thừa, gạo rơi…
Đã là người thì ai cũng cần có một mái ấm để làm nơi cần đến và một gia đình để tìm về, cần vòng tay trìu mến, cần một ánh mắt thân thương, cần những nụ cười hiền hòa, cần một lời nói cảm thong, và nhất là đêm nay, đêm cuối năm, đêm sum họp gia đình để chào đón Giao Thừa vui năm mới. Chào đón giờ phút linh thiêng nhất trong năm thì họ lại một mình bước đi lặng lẽ giữa cuộc đời, lang thang giữa lòng người…
Hãy mở lòng để lắng nghe tiếng than của đời nhau! Hãy mở trái tim để biết yêu thương nhau! Hãy mở tâm hồn để chứa đựng những buồn vui của nhau! Hãy cầu nguyện cho nhau luôn biết yêu thương để cuộc đời vơi bớt thương đau… Cho những ai đau khổ, cho những người cô đơn, cho những bước chân vô định sớm tìm được một bến bờ yêu thương…
Con Sâu
Đất. Mùa Đông 2008
Viết Cho Anh
Anh thân mến!
Trong cuộc sống thường có những dấu chấm hỏi vây quanh cuộc đời làm cho ta bận tâm, thắc mắc phải đi tìm câu giải đáp; nhưng cũng có những dấu chẩm hỏi không cần phải trả lời!
Tôi và Anh là hai người hoàn toàn xa lạ, Anh ở tít chân trời Âu, Tôi ở tận chân trời Á, chúng ta chưa một lần hội ngộ, chưa một lần được bắt tay nhau để nói với nhau lời chào thân ái, chưa một lần được nhìn nhau để cho nhau nụ cười, chưa một lần được ngồi bên nhau để trao tặng nhau chút chân tình thương mến, chưa một lần song bước để nói cho nhau nghe những vui buồn, sướng khổ của cuộc sống… Thế nhưng Tôi và Anh đã cùng chung tay phục vụ cho người, cho đời nhiều lần, nhiều tháng, nhiều năm, thử hỏi chuyện như vậy có lạ không?
Không! Không có gì gọi là lạ bởi vì chúng ta là những người cùng mang Thánh Ấn của Thiên Chúa, được Chúa ban nén bạc giống như nhau, cùng ý thức trách nhiệm giống như nhau, và có một lý tưởng giống như nhau, nên trái tim luôn vang tiếng yêu thương giống như nhau. Mỗi nhịp đập của trái tim như một lời nhắc nhở thôi thúc chúng ta phục vụ, và Chúa đã cho chúng ta được ‘gặp’ nhau, được cùng đồng hành trên con đường phục vụ. Lạ hay quen, xa hay gần không còn là dấu chấm hỏi nữa, điều quan trọng là chúng ta có vui lòng gánh vác trách nhiệm cho nhau và với nhau hay không? Có sẵn sàng chung tay để mưu ích cho anh em mình mãi không?
Chúa ban cho chúng ta tình yêu mà tình yêu thì không có ranh giới, không luận lạ hay quen, sang hay hèn, cao hay thấp, tình yêu thôi thúc chúng ta phục vụ, tình yêu nối kết mọi khoảng cách, tình yêu giúp chúng ta vui hy sinh, chấp nhận mọi thiệt thòi để cho đời chút sắc màu hạnh phúc. Chấp nhận làm người bé nhỏ cho anh em mình được lớn lên thì đâu có gì để thắc mắc hay ngạc nhiên khi chúng ta mỗi người một nơi nhưng vẫn cùng cộng tác để phục vụ phải không anh?
Phục vụ là trách nhiệm, là món ăn tinh thần của những người được ghi Dấu Ấn của Thiên Chúa và muốn bước theo Thầy Giêsu chí thánh. Thầy Giêsu chí thánh đòi hỏi những ai là môn đệ của Người phải có tinh thần phục vụ và bước đi với anh em bằng trọn vẹn yêu thương vì Thầy là Thiên Chúa mà Thầy đã hạ mình để phục vụ cho con người suốt cuộc đời của Thầy thì chúng ta cũng phải phục vụ anh em như Thầy đã phục vụ trong hy sinh vì sự phục vụ chỉ có ý nghĩa khi chúng ta biết hy sinh trong vui cười.
Trong cuộc sống có nhiều điều cứ ngỡ như tình cờ nhưng không hẳn như thế: Thiên Chúa cho ‘người’ và ‘người’ gặp nhau, nhưng những ‘người ấy’ có vui lòng đến với nhau, vì nhau, cho nhau hay không là do quyền quyết định của họ, và ngày nay, có nhiều người vẫn đồng hành trong im lặng bên cạnh nhau để phục vụ người khác.
TCT
Quê Tôi
Một buổi sáng mùa Đông, quê tôi dày đặc sương mù, dầy đặc đến đổi ở bên đây không thể nhìn thấy nhà bên kia. Nhìn xuống giòng sông cũng chẳng thấy sông trôi dù những nếp nhà và giòng sông chỉ cách nhau dăm mét. Cũng chẳng ai có thể ra khỏi nhà và càng không thể đi ruộng sớm, phải chờ ông mặt trời lên cao, cho sương dần tan, cho cái lạnh buốt da lui dần thì mọi người mới bắt đầu vào ngày mới.
Thuở ấy tôi chỉ ở tuổi mười hai, cái tuổi siêng ít lười nhiều, tham ăn thích ngủ hơn là thích làm việc thì những ngày có nhiều sương, tôi thầm mong cho sương mù cứ giăng hoài để được ngủ nhiều hơn, ra ruộng trễ hơn và khỏi phải bị những con bù mắc chuyên cắn người buổi sớm vây kín.
Và rồi mặt trời cũng lên cao, sương dần tan, nhưng cái lạnh vẫn còn lẩn quẩn khi một ngày mới lại bắt đầu, các tạo vật thức giấc, gió bắt đầu lay nhẹ trên cành cây, ngọn cỏ. Chim tung cánh từng đàn trên không, giòng sông trở mình mở mắt, tiếng mái dầm, mái chèo khua nhẹ trên sông. Trên bờ người gọi nhau ra ruộng, tiếng lao xao cười nói của xóm làng vang vang. Cạnh bên nhà tiếng đứa bé khóc thét đòi mẹ, xa xa tiếng rao bán hàng rong vọng lại nghe như một bài hợp xướng của muôn loại thọ sinh chào mừng ngày mới và ca ngợi Đấng Hóa Công. Tôi cũng hòa với đất trời, với mọi người để vào ngày mới, lon ton theo chân người lớn, ra ruộng làm những việc vặt vảnh.
Rồi xuân về, cho mặt trời thêm thắm, cho nắng xuân thêm vàng, cho sương mù trốn biệt, cho ánh xuân rực rỡ hơn, cho gió xuân reo vui, cho tuổi thơ thêm hồng, cho giòng sông thêm bạc, cây lá xanh tươi, lúa chín vàng dưới ruộng, cho người thêm tuổi, cho tôi khôn lớn…
Có những năm lúa hòa quyện niềm vui với người nông dân, lúa rủ nhau chín vàng vào ngày đầu năm, sáng sớm, không kịp nói với nhau lời mừng, thay vì tặng nhau lời chúc tốt lành thì mọi người đã gọi nhau ra ruộng cắt lúa vì lúa chín lúc nào thì phải cắt lúc đó, trể một ngày thì lúa sẽ bị rụng, trể hai ngày lúa sẽ rục, rơi, rụng nhiều hơn, càng trễ thì người nông dân càng bị mất lúa. Dù vậy, chắng ai phàn nàn trời hay ca thán đất, chỉ một mực cần cù, lao động cho gia đình áo ấm, cơm no; Thu hoạch lúa xong, người nông dân lại bắt tay vào trồng khoai, bắp, đậu, mía…
Và rồi mùa Hè lại đến, cho tuổi thơ được rong chơi, tắm mát, được thả diều, bắt bướm, cho mưa rào tuôn rơi, cho đất vở ra, mềm xốp sau những ngày dài hạn hán khô cằn, cho người nông dân thu hoạch khoai, bắp và rộn rịp vào mùa.
Thu sang, nuôi từng con nước, cho nước lớn, nuôi gió từng cơn cho gió mưa hòa quyện, cho nước dâng cao, cho lúa thêm lớn, thêm xanh, cho nước thêm bạc, cho thủy tộc tung tăng, tha hồ vùng vảy, cho người nông dân nghĩ ngơi sau những ngày dài vất vả.
Thời gian cứ thế vần xoay, ngày vẫn lên, đêm vẫn xuống, nắng đến mưa đi, đông qua xuân về, bốn mùa thay nhau tiếp nối cho người người thêm tuổi, cho cuộc đời thêm ý nghĩa, cho tình yêu Đấng Hóa Công luôn chan hòa trên nhân loại…
Hôm nay, ngồi nhẫm lại tuổi đời, đã mấy mươi mùa xuân đi qua trong cuộc đời, nhẫm được tuổi đời nhưng không nhẫm được hồng ân của Chúa ban, không nhẫm hết những khiếm khuyết, sai sót của mình được; Nhớ cánh đồng sương trắng giăng đầy, nhớ màu xanh đầy nhựa sống của lá, nhớ màu vàng lấp lánh của hạt lúa vàng. Nhưng không thể nhớ được có bao nhiêu giọt nắng, hạt mưa của Chúa tặng ban rơi đầy trên cánh đông, trên cuộc đời…
Nếu Chúa cho con người nhớ được tất cả những gì Chúa ân ban, nếu gom góp lại được hết những quà tặng của Thiên Chúa. Thì con người sẽ chết vì choáng ngộp, bởi đất trời này không bao giờ dung chứa được hồng ân của Chúa.
Mỗi giây phút trôi qua là mỗi hồng ân của Chúa tặng ban, hãy quý trọng thời gian, hãy tận dụng thời gian một cách ý thức, hãy sống một cuộc sống cho có ý nghĩa, hãy sống trọn vẹn những giờ phút hiện tại, những giờ phút mà chúng ta còn làm được, ăn được, nói được.
Tôn trọng thời gian là lời tạ ơn Chúa, cần cù lao động là lời tạ ơn Chúa, chăm lo gia đình cũng là lời tạ ơn Chúa, sống vui trọn vẹn giây phút hiện tại cũng là lời tạ ơn Chúa… Hãy luôn nói lời tạ ơn Chúa bằng việc dâng lên Chúa những việc làm bé nhỏ thường ngày trong cuộc đời của mình với lòng yêu mến dào dạt…
CT
|
|

Trở về mục lục >>
|
|
|
|
Lời Mời Gọi
Khi cầu nguyện cho người khác cũng là cầu nguyện cho chính mình, và khi cùng cầu nguyện với nhau thì hiệu quả của lời cầu nguyện càng hữu hiệu hơn.
Nếu quí vị có những ý chỉ muốn cùng cầu nguyện với chúng tôi, xin hãy liên lạc với chúng tôi qua điện thoại 714-720-4465, hay qua email psttvnusa@yahoo.com hoàn toàn miễn phí. Chúng tôi không thể tự ý phổ biến công khai những ý chỉ cầu nguyện nếu không có ý kiến của quí vị.
Xin những ai quan tâm đến những ư chỉ dưới đây, cùng hiệp ý cầu nguyện với chúng tôi vào lúc 9 giờ tối mỗi đêm (theo giờ California, Hoa Kỳ). Tuy nhiên, xin quí vị cứ tiếp tục cầu nguyện vào những lúc thuận tiện với hoàn cảnh của mình.
Tâm Tình Tạ Ơn
- Một người xin tạ ơn Chúa đã an bài mọi sự trong cuộc đời diễn ra cách tuần tự hợp tình, hợp lý và hợp lúc…
- Tạ ơn Chúa, các thánh trong dòng Phan Sinh về Tổng Tu Nghị Bầu Cử của Dòng Phan Sinh Tại Thế cấp quốc tế ở Hung Gia Lợi trong tháng 11 vừa qua.
Xin Ơn Chữa Lành Thể Xác
- Xin cầu nguyện cách đặc biệt cho anh Nguyễn Văn Thắng, sfo của thuộc huynh đệ đoàn Clara, quận Cam, bang Cali mới bị bệnh nặng.
- Và cầu cho các bệnh nhân: Martha Guillarn, Trần Việt Cường, Đỗ Đình Phú, Nguyễn Thanh Thủy, Đào Đình Ngọc, Lý Bùi, Nguyễn Thanh Hằng, Natalie Pitlik, Daniel Pitlik, Nguyễn K. Phượng, Trần C. Kevin, Trần T. Cúc. Trần T. Huệ, , Nguyễn Kim Ngọc, Quyên Trần, Dương Diệu Lydia, Oanh Huỳnh, Minh Thu, Nguyễn Tùng, Babi P.Khanh Lê, Phạm Linh, Kinh Lê, H. Lê, Lê Đoàn, C.Nguyễn, Hoàng Hậu, Trân Trần, Vũ Ngọc Jennifer, Ray Hardwick, LM William Brand, ĐGM Nicolas Huỳnh Văn Nghi.
Xin Ơn Chữa Lành Tâm Hồn
- Một gia đình xin cầu nguyện cho một nữ tu đang giao động ơn gọi vì bị ảnh hưởng của sức khỏe.
Xin Cầu Nguyện Cho Các Linh Hồn
- Mới qua đời là:
Antôn Nguyễn Văn Vượng,
-
Và các linh hồn
Angela: Ngọc.
Anna: Sáu, Chiểu,
Điểm, Phượng, Ri.
Antôn: Đại.
Cecilia Kỷ. Giacôbê: Dũng.
Gioan Baotixita: Ngọc, Vinh Chính, Hoả, Khoát.
Gioankim: Thống.
Gioan-Phaolô: Bất.
Giuse: Luận, Tý, Bình, Đoài, Hân, Hiền, Hồng, Kiên, Long, Mỹ, Thanh, Tính, Từ
Giuse-Maria:
Diệm, Phán.
Katarina: Kính.
Luca Khoa. Lucia: Phụng.
Madalêna: Hà, Kim Cúc.
Maria: Tín, Thứ, Vân, Bình, Đường, Khiếu, Như, Oanh, Phúc, Tính, Trang, Tranh.
Maria Juliette:
Độ.
Maria Rosa: Quang.
Matta: Tốt.
Phanxicô Saviê: Xân.
Phaolô: Lộc, Nghị, Qui, Thông.
Phêrô:
Tụng,
Cư, Hữu, Lý, Lộc, Thạnh, Thế, Tự.
Têrêsa: Chi, Bích Mai, Thu.
Tađêô:
Dương.
Tôma:
Toàn.
Vêrônica: Úy. Các linh mục: Giuse Biên, Phêrô Bá, Gabriel Phong
Các linh hồn thân quen: Diệp Hoa, Diệp Thọ, Mai Anh, Dorren Harvey. Và
các linh hồn không ai nhớ đến.
|
|

Trở về mục lục >>
|
Tin Báo Của Miền Thánh Phanxicô
Ngày 18 tháng 12, năm 2008
Sau khi suy tư, cầu nguyện và bàn thảo với quí vị Bề Trên cấp Miền của cả ba Dòng Anh Em Hèn Mọn, Anh Em Hèn Mọn nhánh Viện Tu và Anh Em Hèn Mọn nhánh Lúp Dài trong suốt năm 2008, Hội Đồng Phục Vụ Miền Thánh Phanxicô xin thông báo là cả ba nhánh Dòng Anh Em Hèn Mọn đã chỉ định ba thành viên của Dòng Phan Sinh Tại Thế đảm nhận vai trò Giáo Dân Trợ Úy của Miền Thánh Phanxicô. Các Giáo Dân Trợ Úy ấy là Rock DeSpain SFO, Armando Lomeli SFO và Anthony Lê V ăn Hoàng SFO.
Ba Giáo Dân Trợ Úy này đã bắt tay vào việc nhưng nghi thức Bổ Nhiệm Chính Thức sẽ diễn ra trong thánh lễ ngày 17 tháng Giêng năm 2009 nhân dịp Tu Nghị các Trưởng Phục Vụ Hằng Năm của Miền tại đồi Marywood. Với việc bổ nhiệm này, tu sĩ linh mục Steve Gross OFM Conv. sẽ là người trực tiếp hướng dẫn (mentor) cho ba Giáo Dân Trợ Úy này. Thông báo này được kư bởi Judith Mussatto và Carolyn Paxton (Thư ký Miền).
- Đại hội Thường Niên của các Trưởng Phục Vụ năm nay sẽ diễn ra từ 16-18/01/2009 tại 2811 E. Village Real, Orange, CA. Được biết, các Trưởng Phục Vụ đã nhận thư mời và đơn ghi danh. Do đó, nếu quí trưởng phục vụ không thể tham dự, xin chính thức ủy quyền người đại diện với Quyền Bầu Cử vì năm nay, chúng ta sẽ bầu Hội Đồng Phục Vụ Miền cho nhiệm kỳ mới.
Tin Của H đđ Antôn, San Diego
- Để tạo điều kiện thuận tiện cho anh Trợ Úy, từ tháng Giêng 2009, phiên họp Hội Đồng Phục Vụ của hđđ Antôn San Diego sẽ diễn ra vào thứ Bảy tuần thứ Ba của mỗi tháng.
Tin Của H đđ Agnes, Westminster
- Tháng 01/09, trong phiên họp Đoàn, sẽ sinh hoạt chung với hđđ Clara tại Trung Tâm Công Giáo để mừng Xuân, có Cha Nguyễn Trân OFM ghé thăm, và có Nghi Thức Nhập Gia cho 4 chị. Xin quí dự viên liên lạc với chị Phó Phục Vụ để chuẩn bị phần nghi lễ.
Ghi Danh Nhận Bản Tin Gởi Qua Bưu Điện
Ban Biên Tập mới nhận phiếu ghi danh nhận Bản Tin gởi đến nhà qua đường bưu diện của quí anh chị: Nguyễn Kỳ Sơn, Bằng Văn Tốt, Trần Thị Hòe, Nguyễn Ánh Hồng, Huỳnh Thị Oanh, Đỗ Mary Quế, Nguyễn Nga; mỗi anh chị đã ủng hộ $20.00/ người. Và chị Phạm Thanh Thủy ủng hộ $10.00. BBT xin chân thành cám ơn quí anh chị đã yêu thương đón nhận và ủng hộ vật chất lẫn tinh thần cho tờ Bản Tin này có cơ hội đến với những ai yêu mến thánh Phanxicô và linh đạo của Người. Xin cám ơn.
Chủ
Đề Của Tháng 02-2009
Tháng Hai, xin quí anh chị viết về "Sám hối, hoán cải hay canh tân
đời sống". Nếu có thể, xin vui lòng gởi bài trước ngày 20 mỗi tháng. Vì những mục định kỳ không thể cắt xén, và số trang bị giới hạn, do đó mục
Những Bài Đọc Thêm xin quí anh chị vui lòng thu ngắn bài viết cho tiện việc in ấn. Hơn nữa, những bài viết đã gởi và đăng nơi những Bản Tin hay Báo Chí khác, xin đừng gởi cho psttvnusa.net vì đây là sự tế nhị. Nhất là khi phải sửa đổi đôi chút vì lý do kỹ thuật hay ý tưởng cho phù hợp với Bản Tin của psttvnusa.net. Kính mong quí vị thông cảm.
Ngày Lễ Trong Tháng 01-2009
|
TNăm |
01 Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa, Tết Dương Lịch (Lễ Trọng) |
|
TBảy |
03 Lễ Kính Thánh Danh Chúa Giêsu |
|
CNhật |
04 Lễ Ba Vua - Hiển Linh (Lễ Trọng) |
|
TTư |
07 Á Thánh Angela of Foligno, Dòng 3 |
|
CNhật |
11 Chúa Giêsu chịu Phép Rửa |
|
THai |
12 Thánh Bernard of Corleone, Dòng 1 |
|
TTư |
14 Á Thánh Odoric of Pordenone, Lm. D1 |
|
TSáu |
16 Thánh Berard, Lm tử đạo Dòng 1 |
|
TBảy |
24 Thánh Francis de Sales, Gmục, Tsĩ, |
|
TBa |
27 Thánh Angela Merici, đồng trinh Dòng3 |
|
TSáu |
30 Thánh Hyacinth Mariscotti, đồng trinh D3 |
|
TBảy |
31 Thánh John Bosco, linh mục, Dòng 3 |
|
|
|
 |
|
Trở về mục lục >>
|