Mọi thư từ liên lạc, xin gửi về PSTTVNUSA@YAHOO.COM. Copyright © 2002 WWW.PSTTVNUSA.NET. All rights reserved.
 

NỘI DUNG HÀNG THÁNG (01-2008)

NGUYỆN CẦU CHO GIÁO HỘI

VÀ QUÊ HƯƠNG VIỆT NAM

 
Trong Số Này:
TÂM SỰ HẰNG THÁNG
 

Người Mà Thiên Chúa Mong Muốn

HỌC HỎI LỜI CHÚA
 

Các Nhà Chiêm Tinh Đến Bái Lạy Hài Nhi Giêsu

LINH ĐẠO PHAN SINH
  Chi Phí Cùng Chia Sẻ
GIÁO LƯ TÓM LƯỢC
  Bài 49: Tương Quan Giao Ước
LỜI KINH MỖI THÁNG
  Quê Hương Của Con
HÔN NHÂN GIA Đ̀NH
  Giáo Huấn 1: Gia Đình Lành Mạnh
THIẾU NHI PHAN SINH
  Hãy Nhớ: Mình Là Người Việt Nam
NHỮNG BÀI ĐỌC THÊM
   
CẦU NGUYỆN CHO NHAU
   
THÔNG BÁO TIN TỨC
   

 
 

Người Mà Thiên Chúa Mong Muốn

Thưa quí anh chị,

Là người, ai cũng có một quê hương để chào đời, để lớn, để sống, để yêu, để nhớ, để hoài niệm khi viễn xứ... Và khi giã từ kiếp người, ai cũng mong được an nghỉ trên mảnh đất của chính quê hương mình.

Ngay giây phút đầu tiên khi hoài thai trong lòng mẹ, Chúa đã ban cho chúng ta một màu da, một tiếng nói, một giống nòi thật đáng hãnh diện và tự hào: Việt Nam! Vâng, quê hương của chúng ta là Việt Nam. Một quê hương xinh đẹp, một đất nước hiền hoà, một dân tộc có truyền thống yêu nước, yêu quê, yêu đồng loại.

Khi còn trong bụng mẹ, chúng ta đã được nghe tiếng nói của quê hương từ chính trái tim của người mẹ, qua tâm tình yêu thương, ấp ủ, chờ đợi của người cha.

Ngày mở mắt chào đời, cả quê hương nghiên mình chào đón. Quê hương đã nuôi ta khôn lớn qua bờ vai gầy bởi một đời gánh nặng gió sương của cha, ngàn giọt mồ hôi giữa nương đồng của mẹ, đôi tay chai sạm của anh, vầng trán sớm hằn nếp nhăn bởi lo toan của người chị.

Quê hương là con đường đưa bước chân em ngày ngày đến trường đến lớp, và đi vào đời. Là áng mây trắng, là lũy tre xanh cho em bóng mát, là cánh bướm nhởn nhơ bên nụ hồng khi mùa xuân đến. Là ánh nắng cho em có những ngày hè đỏ thắm sắc phượng, là giọt mưa đêm hiu hắt cho thu vàng lá rụng đầy trên phố, là những cái lạnh buốt của đêm đông cho trăng thanh dịu dàng toả sáng. Là tiếng gà gáy đêm khuya cho cú kêu não nề ai oán. Là bình minh cho ngư phủ ra khơi, cho những ngày mới để vạn vật reo vui dưới ánh mặt trời. Là tiếng ru hời của mẹ khi em thơ không tròn giấc ngủ. Là cánh đồng xanh quây quần với giòng nước bạc, cho cánh cò rập rờn bay lượn. Là buồng cau, liếp trầu cho duyên tình se kết. Là những cái bắt tay thân tình khi cứ ngỡ đời cô độc. Là đáy mắt nhìn nhau chan chứa tin yêu cho con tim luôn tơ vương hát bài yêu thương. Là sự tương thân tương ái, là những hình ảnh thân thương vui buồn hàng ngày diễn ra với những niềm vui lẫn nước mắt...

Nhìn lại đất nước của chúng ta vẫn chậm tiến, dân tộc của chúng ta còn nghèo nàn, lạc hậu. Nhưng trong cái nghèo nàn ấy vẫn có những điều đáng quý đáng yêu, đáng trân trọng mà ở xứ người rất khó tìm. Nghèo nhưng trong sạch, nghèo mà không tham lam, nghèo nhưng vẫn biết chia sẻ. Và bao ngàn năm đã qua, nhưng nét son tuyệt đẹp mà Chúa đã ân ban cho dân tộc Việt mãi mãi vẫn còn đây đó là sự tương thân tương ái. Và sự tương thân, tương ái này đã trở thành đạo lý trong mỗi người dân Việt: Người trên thì thảo kính, kẻ dưới thì nhường nhịn, anh em thì thuận thảo, lối xóm thì sẵn sàng giúp đỡ. Luôn biết thuận theo ý Trời, hòa hợp với người, hòa hợp với đời trong sự hợp nhất khiêm tốn trong ý niệm về Tam Hợp: Thiên-Địa-Nhân.

Còn chúng ta, bên cạnh sự nhận thức về ý nghĩa của quê hương, chúng ta phải biết vận dụng tinh thần Phan Sinh, để qua đó, chúng ta sẽ làm cho xã hội hoàn hảo (Luật #14) loại bỏ, giới hạn, hay bất cộng tác với các tệ nạn xã hội. Tìm mọi cách để công lý được nêu cao (Luật #15), tìm lại công bằng xã hội và tự do tôn giáo cho những người có tín ngưỡng. Quí trọng mọi tạo vật (Luật #18) để bảo vệ môi sinh, để bảo vệ những người yếu đuối, nghèo khó. Và điều quan trong là hãy tự biến mình thành sứ giả bình an (Luật # 19)... bằng cách: Sống đúng theo tinh thần Kinh Hòa Bình của Thánh Phụ Phanxicô và cầu nguyện liên lỉ cho giáo hội, cho quê hương, cho những người chưa biết sống như là Người Mà Thiên Chúa Mong Muốn...

 BBT

 

Trở về mục lục >>

 

Các Nhà Chiêm Tinh Đến Bái Lạy Hài Nhi Giêsu

(Mátthêu 2, 1-12 – Hiển Linh)

2:1Khi Đức Giê-su ra đời tại Bê-lem, miền Giu-đê, thời vua Hê-rô-đê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giê-ru-sa-lem, 2:2và hỏi: "Đức Vua dân Do-thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người." 2:3Nghe tin ấy, vua Hê-rô-đê bối rối, và Cả thành Giêrusalem cũng xôn xao. 2:4Nhà vua liền triệu tập tất cả các thượng tế, các kinh sư trong dân lại, và hỏi cho biết Đấng Ki-tô phải sinh ra ở đâu. 2:5Họ trả lời: "Tại Bê-lem, miền Giu-đê, vì trong sách ngôn sứ, có chép rằng: 2:6 Phần ngươi, hỡi Bê-lem, miền đất Giu-đa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giu-đa,vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ít-ra-en dân Ta sẽ ra đời". 2:7Bấy giờ vua Hê-rô-đê bí mật vời các nhà chiêm tinh đến, hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện. 2:8Rồi vua phái các vị ấy đi Bê-lem và dặn rằng: "Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người." 2:9Nghe nhà vua nói thế, họ ra đi. Bấy giờ ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông, lại dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở, mới dừng lại. 2:10Trông thấy ngôi sao, họ mừng rỡ vô cùng. 2:11Họ vào nhà, thấy Hài Nhi và thân mẫu là bà Ma-ri-a, liền sấp mình bái lạy Người, rồi mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến. 2:12Sau đó, họ được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hê-rô-đê nữa, nên đã đi lối khác mà về xứ mình.

1.- Ngữ cảnh

Về việc các nhà chiêm tinh đến Bêlem, chúng ta có thể đặt ra nhiều câu hỏi không dễ trả lời: Các ngài từ đâu đến? Các ngài đã thấy xuất hiện ngôi sao gì? Làm thế nào mà các ngài nhận ra đó là ngôi sao của Đấng Mêsia? Tại sao vua Hêrôđê không xử sự theo cách hợp lý hơn?

Cũng như trong nhiều đoạn khác của Tin Mừng, thay vì đặt ra những câu hỏi về những chuyện không được nói tới, chúng ta nên để ư đến những gì đã được nói ra. Sau khi bảng gia phả đã cho thấy Đức Giêsu cắm rễ trong lịch sử dân Israel, và bản văn về nguồn gốc đích thực của Người đã chỉ nói đến những người có liên can trực tiếp, ở đây tác giả giúp chúng ta nhìn xem cách tiếp đón Đức Giêsu của những người mà vì họ Đức Giêsu đã đến. Tác giả không nêu ra một hành động nào của Hài Nhi, Đức Maria và Giuse. Những nhân vật hành động là Thiên Chúa và người ta, và đều nhắm tới Hài Nhi. Trong quan hệ với Hài Nhi, ta phân biệt ra ba nhóm người: các nhà chiêm tinh, các kinh sư và vua Hêrôđê. Hoạt động công khai của Đức Giêsu và lời loan báo hậu Phục Sinh về Đấng chịu đóng đinh và phục sinh cũng được vây quanh bởi những hạng người như thế. Nhận biết trong niềm vui, lãnh đạm không quan tâm và bách hại liên tục, ba yếu tố này đi theo mọi giai đoạn của cuộc đời Đức Giêsu.

2.- Bố cục

Bản văn này có thể được chia ra làm hai phần, với một câu Mở và một câu Kết:

Mở (c. 1): Giới thiệu các nhân vật và hoàn cảnh.

Phần 1 (cc. 2-8): Tại đền vua Hêrôđê. Cốt lõi là sấm ngôn về Đấng Mêsia.

Phần 2 (cc. 9-11): Tại nhà của Hài Nhi. Cốt lõi là hành vi tôn thờ Đấng Mêsia.

Kết (c. 12): Các nhà chiêm tinh trở lại quê hương.

3.- Vài điểm chú giải

- Bêlem (Bêthlehem) (1), có nghĩa là "nhà bánh mì", hoặc cũng có thể là "nhà của thần Lah(a)mu" (thần của dân Akkad). Thành này cách Giêrusalem 7 cây số về phía nam, là quê hương của Bôát, của Isai (Giêsê), và nhất là của vua Đavít (x. 1 Sm 16; 20,6). Xem Lc 2,4.11; Ga 7,42.

- Vua Hêrôđê (Cả): Vua này cai trị miền Giuđê (năm 37-4 tr CG). Bởi vì ông xuất thân từ miền Iđumê, ở về phía nam xứ Giuđê, và ủng hộ nền văn hóa hy-lạp, nên ông bị người Do-thái ghét bỏ, cho dù ông đã cho sửa lại Đền Thờ thật huy hoàng. Đến cuối đời, ông thường rơi vào trạng thái kinh hoàng, nên chỉ một chút nghi ngờ, là có thể hạ lệnh tàn sát, dù là tàn sát cả gia đình ông. Khi ông qua đời, nhiều tai ương đổ xuống trên xứ, đặc biệt là một cuộc suy sụp về kinh tế. Do đó, đất nước đầy những nhóm người bất mãn và nổi loạn.

- Đức Giêsu ra đời: Cộng đoàn tín hữu tiên khởi lúc đầu không có thứ lịch như ngày nay đang được sử dụng hầu như khắp nơi: chia thành hai phần trước và sau cuộc chào đời của Đức Giêsu. Thời ấy, người ta tính năm dựa theo các Đại hội thế vận Hy-lạp (Đại hội đầu tiên được tổ chức năm 776 tr CG), hoặc dựa theo năm thành lập thành Rôma (ngày 21-4-753 tr CG), hoặc dựa theo những hoàng đế cai trị ở Rôma. Sau một thời gian, các ki-tô hữu có thói quen tính thời gian khởi đi từ hoàng đế Điôclêtianô (284-305 sau CG), ông này đã bách hại họ tàn khốc, và họ gọi thời này là kỷ nguyên các thánh tử đạo. Kiểu lịch chúng ta đang sử dụng hiện nay là do văn sĩ Denys le Petit xác định, ông này sống tại Rôma vào tiền bán thế kỷ vi (mất trước năm 555). Để cho những năm cứu độ không phải gọi bằng tên của bạo chúa bách hại, Denys thay thế kỷ nguyên các thánh tử đạo bằng kỷ nguyên Đức Kitô. Ông là người đầu tiên cho kỷ nguyên Kitô giáo khởi đầu với cuộc chào đời của Đức Kitô, mà theo các tính toán của ông, ngày ấy là ngày 25 tháng 12 năm 753 sau khi Rôma được thành lập. Theo TM Mt, "Đức Giêsu ra đời tại Bêlem, miền Giuđê, thời vua Hêrôđê trị vì" (2,1), mà chúng ta biết rằng vua Hêrôđê qua đời vào năm 750 của thành Rôma. Như vậy, cuộc chào đời của Đức Giêsu phải được đẩy lùi lại 6 hoặc 7 năm: hẳn là Đức Giêsu đã ra đời vào thời gian giữa năm 8 và 6 tr CG.

- mấy nhà chiêm tinh (hl magos): Đây là những vị hiền giả Đông phương, thông thạo chiêm tinh. Rất có thể họ là những nhà chiêm tinh Babylon, đã được tiếp xúc với trào lưu chờ đợi Đấng Mêsia nơi dân Do-thái. Có thể họ sống bên kia bờ sông Giođan, nên có cơ hội tiếp xúc thường xuyên với thế giới Do-thái. Dưới ảnh hưởng của Tv 72,10; Is 49,7; 60,10, truyền thống sau này đã nghĩ rằng họ là những vị vua. Bởi vì có ba loại lễ vật, người ta cho rằng họ là ba vị (tk v), và còn gán cho các vị ấy tên Gaspar, Balthasar và Melchior (tk 8). Sang tk xiv, ông Gaspar được coi là một người da đen...

- chúng tôi đã thấy vì sao (2): Vào thời thượng cổ, người ta thường cho rằng cuọc chào đời của các nhân vật quan trọng được loan báo bởi các ngôi sao mới. Các nhà chiêm tinh cho rằng họ có thể đoán được vận mệnh của người ta nhờ quan sát chuyển động của các tinh tú. Do-thái giáo cũng nối kết niềm hy vọng thiên sai vào ngôi sao được nói tới ở sách Dân số (24,17). Có thể nói, vào thời Đức Giêsu và các Tin Mừng, ngôi sao là hình ảnh ưu tiên để tượng trưng Đấng Mêsia, đặc biệt Đấng Mêsia vương giả, xuất thân từ nhà Đavít.

- xuất hiện (2): Người ta đã tìm cách xác định ngôi sao ấy là một hiện tượng thiên văn hay là một ngôi sao chổi. Thật ra nỗ lực này cũng không đưa đến đâu, bởi vì hoặc tác giả Mt muốn kể lại một hiện tượng lạ lùng duy nhất trong lịch sử, hoặc chi tiết này chỉ là một đặc điểm văn chương, được gợi hứng bởi Kinh Thánh, nhưng không có hiện tượng tương ứng thế giới vật lư, nên cố gắng tìm ra một giải thích tự nhiên đều là chuyện vô ích.

- chúng tôi đến bái lạy (hl proskyneô): Mt dùng động từ này 13 lần (toàn Tân Ước: 57 lần). Đây là thái độ con người tùng phục Thiên Chúa.

- Cả thành Giêrusalem (3): Đây là một kiểu nói phóng đại, như để báo trước việc toàn dân Do-thái loại trừ Đức Giêsu (x. 21,10). Một sự tương phản đáng kinh ngạc: những người ngoại giáo, được hướng dẫn bởi những kiến thức hời hợt, pha trộn mê tín dị đoan, đã đáp trả tiếng gọi của Thiên Chúa, thực hiện một hành trình và điều tra kỹ lưỡng, để có thể bái kiến vị tân vương; ngược lại, các nhà lãnh đạo Do-thái có ánh sáng Kinh Thánh, lại chỉ phản ứng bằng sự sợ hãi và vô tâm (cc. 4-6).

- Phần ngươi, ngươi đâu phải (6): Câu trích này là một tổng hợp Mk 5,1-3 với 2 Sm 5,2 theo cách rất độc đáo, không tương ứng với bản văn Cựu Ước Híp-ri lẫn Hy-lạp. Tác giả đã đưa những thay đổi đó vào với mục tiêu huấn giáo. Đặc biệt, với trạng từ oudamôs (Pháp: pas du tout; Anh: by no means) thêm vào bản văn Mikha, ngài cho thấy ngài chú tâm đọc Cựu Ước dưới ánh sáng của đức tin Kitô giáo của ngài: sau khi Đức Giêsu đã chào đời, Bêlem không còn có thể là một thành không đáng kể nữa. Nghịch lư lạ lùng: các kinh sư loan báo nơi Đấng Mêsia chào đời cho những người ngoại giáo (dù sao, họ cũng vẫn là những cái máng chính thức truyền đạt mạc khải mà!), thế mà họ lại không thể nhận ra được Người!

- mừng rỡ vô cùng (10): Niềm vui của các nhà chiêm tinh được nhấn mạnh (so với Lc 2,10). Trong TM Mt, đây là niềm vui của những quốc gia ngoại giáo đã khám phá ra nơi Đức Giêsu ơn cứu độ họ vẫn trông chờ cách mơ hồ. Đối lại với niềm vui này là sự bối rối hoang mang của vua Hêrôđê và thành Giêrusalem, cũng như sau đó là cơn giận dữ điên cuồng của nhà vua (c. 16). Cũng có thể so sánh niềm vui lớn lao của các phụ nữ vào sáng ngày Phục Sinh (28,8) với cơn kinh hoàng của đám lính canh khiến họ ra như chết (28,4).

- Họ vào nhà (11): Tác giả nối kết chặt chẽ niềm vui của những người ngoại giáo và việc họ đi vào "nhà", là hình ảnh báo trước Giáo Hội, nơi người ta gặp được Đức Kitô và bái thờ Người.

- hài nhi và thân mẫu: Công thức này được nhắc lại ở các câu 13, 14, 20 và 21, là do tác giả cố tình chọn để nhắc lại cuộc sinh hạ do mẹ đồng trinh (1,18-25).

- lấy vàng, nhũ hương, mộc dược mà dâng tiến: Sau khi bái lạy một vị vua, thường có việc dâng lễ vật (x. St 43,26; 1 Sm 10,27; 1 V 10,2; Tv 72,10). Ba thứ lễ vật này đều xứng đáng với một vị vua: x. Tv 72,15 (vàng); Is 60,6 (vàng và nhũ hương); Tv 45,8 (xức mộc dược cho vua); Dc 3,6 (nhũ hương và mộc dược). Truyền thống các Giáo Phụ coi các lễ vật này là những biểu tượng về vương quyền (vàng), thần tính (nhũ hương) và việc mai táng (mộc dược) của Đức Giêsu.

4.- Ý nghĩa của bản văn

* Tại đền vua Hêrôđê (1-8)

Có thể nói chương 2 của Tin Mừng Mt mở ra một cuộc "tìm kiếm" xuất xứ của Đấng Mêsia. Câu hỏi của các nhà chiêm tinh: "Đức Vua dân Do-Thái mới sinh ra, hiện ở đâu?” (c. 2) chính là đề tài của toàn thể bản văn. Điều đang lưu ư là cuộc tìm kiếm này lại được thực hiện bởi những người ngoại quốc, còn xa ơn cứu độ, nhưng chẳng bao lâu họ sẽ thế chỗ cho Dân Thiên Chúa tuyển chọn. Sự kiện họ có mặt ngay từ câu đầu tiên đã tiên báo sự đảo lộn xảy ra vào cuối bản văn (c. 11).

Các nhân vật chính: trước tiên, đó là "Đức Giêsu" (x. 1,21.23), "vua dân Do-Thái", cho dù còn đang được bọc tã. Ở 1,18, tác giả đả kể lại việc Người chào đời, nay chỉ nhắc lại là Người "đã ra đời". Người xuất hiện một mình, nhưng sau này tác giả nói rằng bên cạnh Hài Nhi có bà Maria là thân mẫu Người. Trước mặt Người, nhưng ngự tại Giêrusalem, là Hêrôđê Đại Đế, gương mặt gian ác nhất mà tác giả có thể nhắc lại từ lịch sử Do-Thái thời ngài. Giữa hai dung mạo này, có những dung mạo phụ: bên Đức Giêsu, đó là các nhà chiêm tinh; phía Hêrôđê, đó là các thượng tế và kinh sư.

Các nhà chiêm tinh được loan báo nhưng không được giới thiệu. Các vị cũng sẽ không xuất hiện nữa trong Tin Mừng. Rất có thể đây là những vật nổi tiếng trong thời Thượng Cổ: là các nhà chiêm tinh hoặc các nhà thông thái đến từ phương Đông. Các nhà chú giải đã tìm các xác định căn cước của các vị này, nhưng rất có thể là vô ích. Các vị ấy chỉ là những hình ảnh biểu tượng của thế giới ngoại giáo. Các vị này đã được thúc đẩy (và "dẫn đường”: c. 9) bởi một ngôi sao lạ, được giải thích như là dấu chỉ loan báo "vua người Do-Thái" chào đời, mà danh xưng này là danh xưng của Đấng Mêsia. Một "ngôi sao" xuất hiện với cuộc chào đời và hành trình vào đời của mỗi con người, nhất là của những nhân vật quan trọng nhất của lịch sử, thì không thể thiếu được trong cuộc đời của Đấng Mêsia. Rất có thể tác giả đã lấy hình ảnh ngôi sao từ Ds 24,17, nhưng cũng có thể ngài nghĩ đến đám mây sáng dẫn đường cho dân Do-Thái đi trong sa mạc (x. Xh 13,21; 33,9). Lời tuyên xưng của các nhà chiêm tinh, "chúng tôi đến bái lạy Người”, rõ ràng có một tầm mức châm biếm và biện giáo chứ không chỉ là mục vụ. Sự "khôn ngoan" ngoại giáo mà người Do-Thái vẫn khinh bỉ và loại trừ cũng có khả năng dẫn đưa người ta đến với Đức Kitô. Tác giả không mô tả tâm trạng của các nhà chiêm tinh, mà chỉ nêu bật sự mau mắn và can đảm của các vị ấy ngược lại với sự lãnh đạm của dân Do-Thái; tuy nhiên ngài lại phác vẽ cho thấy phản ứng của vua Hêrôđê và của dân thành Giêrusalem ("bối rối", "xôn xao": c. 3). Ghi chú này khiến có thể nghĩ rằng tác giả đang gợi lại các hoàn cảnh thuộc quá khứ trong lịch sử cứu độ và hơn nữa đang nghĩ đến các biến cố tương lai trong truyện Đức Kitô (Thương Khó). Hêrôđê mang những đường nét của các kẻ bách hại dân Thiên Chúa, nhưng chính ông cũng không thực hiện được các kế hoạch của ông. Thật ra, ghi nhận này là để nâng đỡ tinh thần cho các Kitô hữu đang sống trong hoàn cảnh bị áp bức. Riêng sự khôn ngoan Đông phương đã tìm được sự trợ giúp trong lời “ngôn sứ” Do-Thái để đi đến tận nơi Đức Kitô đang ở (cc. 4.9). Quang cảnh ở đền vua Hêrôđê như báo trước cảnh ở dinh tổng trấn Philatô (x. Mt 27,11-14). Nhưng ngay ở đó, họ cũng không yên tâm về các biện pháp họ lấy.

Khi tra cứu Kinh Thánh, giới lãnh đạo Do-Thái giáo đã khám phá ra rằng Đấng Mêsia có xuất xứ là Bêlem. Thật ra tác giả đã ép bản văn Mk 5,1 để đi đến chỗ đồng hóa “Bêlem miền Giuđa” với “miền Giuđê" (c. 1) và bổ túc bằng một lời trích lấy từ 2 Sm 5,2 nói về vị thủ lãnh "sẽ chăn dắt Israel dân Ta”. Đây là kiểu chú giải quyen thuộc thời ấy. Kinh Thánh không nói rằng Đấng Mêsia xuất thân từ Bêlem, nhưng nếu Người là "con cháu Đavít” (Mt 1,1.20), thí cũng có thể kết luận rằng, giống nhu vị vua oai phong ấy, Người cũng là một người Bêlem. Việc chào đời trong một ngôi làng của miền Giuđê không chỉ là một sự kiện lịch sử, vì thật ra chỉ là phụ thuộc, mà là một dữ kiện thần học. Xuất xứ này xác nhận rằng Đức Giêsu là con cháu vua Đavít và là Đấng Mêsia. Tính cách biện giáo của bản văn thật rõ: những người ngoại giáo đã biết lên đường đi tìm Đức Kitô và một ông vua gian ác và ngoại quốc (Iđumê) biết làm trung gian cho tin vui, trong khi dân Giêrusalem chẳng những đã không đến với Người, mà còn chống lại Người.

Không bao giờ là một liên minh của Đấng Mêsia, vua Hêrôđê đã lên kế hoạch để loại trừ Người. Kế hoạch của ông đi ngược lại với chương trình của Thiên Chúa. Ông là "vua" trần thế, ông sợ các đối thủ. Sự quan tâm ông bày tỏ với các nhà chiêm tinh chỉ là mánh lới, mưu mô (cc. 7-8).

* Tại nhà của Hài Nhi (9-11)

Chuyến đi của các nhà chiêm tinh đã phải dừng lại, bây giờ lại được tiếp tục (c. 9). Các vị không phải là khách du lịch, nhưng là những khách hành hương được hướng dẫn bởi lời và ánh sáng của Thiên Chúa. Đến đây tác giả mới cho thấy tâm trạng của các vị này ("mừng rỡ vô cùng": c. 10). Một cách gián tiếp, tác giả cho hiểu rằng trước đây, các vị tiến đi trong sự khắc khoải âu lo. Hành trình đức tin không bao giờ thoải mái. Chuyến đi hành hương cuối cùng đã đưa những người ngoại đến tận nơi ở của Đấng Mêsia (c. 11).

Các nhà chiêm tinh được tiếp đón “vào nhà", chứ không phải là vào đến vua. Và các vị thấy một hài nhi với bà mẹ. Các vị không tỏ ra chán nản thất vọng. Dân Do-Thái không chấp nhận Đức Kitô do Người sinh ra trong hoàn cảnh thấp hèn (Mt 13,55-58); là những người khôn ngoan và giàu kinh nghiệm, các nhà chiêm tinh đã phủ phục trước Hài Nhi, một trẻ sơ sinh nhỏ bé yếu ớt. Đây là cách người Đông phương nhìn nhận Đấng có quyền trên mình, mình lệ thuộc phần nào hay hoàn toàn vào đấng ấy. Các lễ vật cho thấy các lời sấm của các ngôn sứ đã nên hiện thực và cho thấy Đấng Mêsia được nhận biết; đây là một dấu chỉ khác chứng tỏ các vị nhìn nhận Hài Nhi là Chúa tể.

* Các nhà chiêm tinh trở lại quê hương (12)

Đã chân thành lên đường theo tiếng gọi của sự khôn ngoan của mình, các hiền sĩ đã chân thành lên đường tiếp tục hành trình theo lời chỉ vẽ của Lời Chúa và của ngôi sao. Chính sự chân thành tìm kiếm chân lý này đã giúp các ngài gặp được chân lư và được chân lư gìn giữ bình an. Các ngài đã được báo mộng nên "đã đi lối khác mà về xứ mình". Câu này còn có nghĩa là khi gặp được Đấng Mêsia rồi, các vị phải xác định đường lối mới phải theo trong đời mình.

+ Kết luận

Chúng ta được mời gọi chiêm ngắm Hài Nhi Giêsu trong hoàn cảnh chính trị xã hội. Người không đến để tranh dành quyền lực với bất cứ lực lượng nào, vì Người là nguồn ban mọi quyền lực cho loài người. Nhưng sự hiện diện của Người vẫn đặt lại vấn đề về tính hợp pháp và về cách hành xử các quyền lực trong thế giới hôm nay.

Đọc bài Tin Mừng này, chúng ta nhận ra có sự đối đầu của hai vương quyền, vương quyền của Thiên Chúa và vương quyền của loài người. Bản văn cũng nêu bật hai nỗi lo lắng: nỗi lo của những con người đói khát ơn cứu độ, đang ra sức đi tìm; nỗi lo của con người sợ cuộc sống mình bị đặt thành vấn đề. Hai bên đều tiến đi, để rồi đến cuối con đường, một bên được hưởng niềm vui cứu độ, một bên co quắp lại trong thái độ thù nghịch. Chỉ khi vương quyền của con người biết nhìn nhận mình phát xuất từ vương quyền của Thiên Chúa, khi đó mới có sự “bình an dưới thế cho loài người Chúa thương".

  5.- Gợi ý suy niệm

1. Các hiền sĩ và giới lãnh đạo Israel: Cuộc tiến bước trong hân hoan của các nhà chiêm tinh tiến về máng cỏ không ngăn cản tác giả nhận ra rằng có một cuộc tiến bước theo chiều ngược lại của quốc gia Israel, tượng trưng bằng các thủ lãnh đạo đời, khi nghe loan báo về cuộc chào đời của Đấng Cứu Thế. Các nhà chiêm tinh hết sức mừng rỡ, dân thành Giêrusalem lại xôn xao lo sợ. Người Do-Thái có thể nghiên cứu Sách Thánh để khám phá ra nơi vị ngôn sứ đã báo trước rằng vị thủ lãnh Thiên Sai sẽ chào đời, nhưng họ không bước một bước nào để đến gặp Người, ít ra để bước theo các người thờ lạy ngoại quốc kia. Cuộc quy tụ của họ với vua Hêrôđê trong đền vua dường như là một nội các chiến tranh hơn là một cuộc hội họp bình thản để tìm kiếm ý muốn của Thiên Chúa.

2. Hình ảnh của Hội Thánh: Sự sa sút của dân Do-Thái tưởng chừng có thể làm hỏng tương lai của ơn cứu độ, nhưng hiện tượng dân ngoại tuốn đến lại làm bừng lên các niềm hy vọng vào Hội Thánh phôi thai. Các nhà chiêm tinh vây quanh Đức Maria và Đức Giêsu là một bản phác thảo lý tưởng về Hội Thánh gồm những người ngoại nay làm thành các cộng đoàn Kitô hữu. Sự hiện diện của Đức Giêsu vẫn mang một dáng vẻ giới hạn và nghèo nàn, dù Người đúng là Đấng Phục Sinh, là Chúa Tể muôn loài muôn vật. Mẹ Người cũng hiện diện ở đó để làm chứng về điều này. Tuy nhiên, chấp nhận được Người là Đấng Mêsia, là Đấng Phục Sinh, là một vấn đề của lòng tin chứ không phải là chuyện chứng minh bằng toán học hay bằng lý luận theo kiểu tam đoạn luận. Ở trong Hội Thánh, mỗi người, mỗi nhóm, tùy nghi dùng những gì cao quý nhất mình có (của cải và sự khôn ngoan) để bày tỏ lòng tin và sự tùng phục của mình.

3. Những người ở gần và những người ở xa: Truyện này cho thấy rằng những người ở xa thì lại đến gần được với ơn cứu độ, với Thiên Chúa, còn những người ở gần thì lại đi xa dần, để rồi cuối cùng chuồi vào bóng tối. Vấn đề không phải là khoảng cách về không gian hay về thời gian, bởi vì tình yêu toàn năng của Thiên Chúa vượt thắng tất cả mọi trở ngại về không gian cũng như về thời gian. Vấn đề là lòng tin của con người. Con người cần phải thấy rằng mình không đủ cho chính mình, mình không phải là nguồn mạch của chính mình, để tìm mọi cách đi ra khỏi mình như là trung tâm, nhận lấy trung tâm mới là Đấng Cứu thế, làThiên Chúa, để có thể thoát khỏi mọi căng thẳng, xung đột, mâu thuẫn do thân phận thụ tạo giới hạn, và hiểu được hướng phải theo mà tìm ra ý nghĩa cho đời mình.

Lm. F.X. Vũ Phan Long, ofm

 

Trở về mục lục >>

 

Chi Phí Cùng Chia Sẻ

Luật Dòng Phan Sinh Tại Thế: Điều 25

Đây là một điều rất tế nhị, vì nó ảnh hưởng đến "hầu bao" của cả gia đình người Phan Sinh Tại Thế, mà nhiều lúc chính gia đình họ cũng gặp khó khăn trong việc chi tiêu. Có khi thì vì người phối ngẫu không vui gì khi phải bỏ tiền ra làm một việc mà mình chưa đồng thuận. Chúng tôi xin kể một trường hợp điển hình: Mấy anh bạn tôi tâm sự rằng: "Ở nhà đàn bà giữ tiền, mỗi lần đóng góp thì khó quá" (!); "Ở huynh đệ đoàn chúng em, mỗi lần có sự đóng góp, thì phải làm kín đáo” (!). Hoặc: “Đóng góp nhiều làm cho người mới đến tìm hiểu họ ngại" (!). Nhưng thực tế là phải có tiền, có của để điều hành các tổ chức, các khoá huấn luyện, các nghi lễ, hoặc các cuộc hành hương, tĩnh tâm, các việc tông đồ bác ái, uỷ lạo... Ở ngay huynh đệ đoàn địa phương đã gặp nhiều khó khăn, chưa nói chi đến đáp ứng nhu cầu chi tiêu của cấp cao hơn nữa. Các Hội Đoàn, đoàn thể Công Giáo tiến hành thì đã có kế hoạch của Hội Đồng Mục Vụ và Cha Quản xứ, còn đối với chúng ta thì phải hoàn toàn tự liệu. Xin đưa ra một vài suy nghĩ:

1. Nguyên văn Luật điều 25: Về chi phí cần thiết hoặc cho đời sống của Huynh đệ đoàn hoặc cho việc phụng tự, tông đồ và bác ái, tất cả các anh chị em sẽ góp phần của mình tương xứng với khả năng. Các huynh đệ đoàn địa phương còn phải lo góp phần vào những chi phí của Hội đồng các huynh đệ đoàn cấp cao hơn.

2. Chi tiêu nào là cần thiết?: Trước hết phải nói đến những chi tiêu không thể không có, như việc mua sắm các sổ sách giấy tờ, tài liệu, in ấn, hoa đèn trong các buổi họp hay buổi kinh nguyện... có thể nói đến cả những thức uống giải khát khi buổi tập trung dài giờ một chút. Thêm vào đó là những cuộc giao lưu mà huynh đệ đoàn anh em mời, mình cũng phải chia sẻ chi phí (có khi lại phải gởi quà mừng). Kế đến là các chi phí tàu xe cho người có-trách-nhiệm đi công tác, ví dụ đi hội họp đây đó trong hoặc ngoài huynh đệ đoàn. Nhiều chi tiêu khác cũng có thể gọi là cần thiết như việc quan hôn tang tế, đi dự các nghi lễ như đặt viên đá đầu tiên xây dựng ngôi thánh đường, khánh thành nhà thờ, trường học, nhà thương, trạm xá... Ngoài ra, có những lúc vì tế nhị, huynh đệ đoàn còn phải tặng quà để nói lên lòng biết ơn đối với một vị khách quí nào đó. Đối với các huynh đệ đoàn cấp dưới, phải hỗ trợ chi phí điều hành cho Hội Đồng cấp cao hơn. Nói tóm lại, Ban Phục Vụ huynh đệ đoàn có rất nhiều việc phải trang trải, mà hầu hết đều không thể bỏ qua được, trong khi anh chị em Phan Sinh Tại Thế phần đông là nghèo.

3. Tài khoản lấy từ đâu? Xưa nay thường thì anh chị em có-trách-nhiệm hy sinh tiền túi, nếu chi phí không quá lớn. Khi mình gánh không nổi, thì xin xuất chi. Nếu ngân khoản không quĩ không đáp ứng được thì lại xin những ân nhân "thường trực" hảo tâm giúp đỡ. Phương thế ấy nói lên lòng hy sinh của anh chị em trong các Hội Đồng, nhưng nếu chỉ như thế, thì rất "bị động”, có khi lại gặp trắc trở, phải huỷ bỏ đề án, hoăc đình trễ công việc. Vì thế các thành viên Phan Sinh Tại Thế phải quan tâm đến việc chia sẻ. Trước hết phải hiểu việc Chia sẻ là một bổn phận. Ta hãy nghe Tổng Hiến Chương: "Trong tinh thần gia đình, mỗi anh chị em đóng góp vào quĩ của huynh đệ đoàn tuỳ theo khả năng, để tạo phương tiện tài chánh cần thiết cho đời sống huynh đệ đoàn, cho các công việc phụng tự, tông đồ và bác ái. Bằng tài chánh hoặc bằng những phương tiện nào khác, anh chị em đừng quên tham gia vào các sinh hoạt và công việc của những huynh đệ đoàn ở cấp cao hơn".(Điều 30.3). Tại trong nước Việt Nam, huynh đệ đoàn Quốc Gia có qui định (theo Nội Qui Quốc gia) mỗi thành viên (đã khấn) góp niên liễm một số tiền nhất định, mỗi huynh đệ đoàn địa pjương cũng góp cho Miền mỗi quí một lần, một số tiền nhất định. Thế nhưng nhiều khi thất thu, vì hoàn cảnh anh chị em không thể đóng góp được, mà những anh chị khác cũng không thể bù đắp. Một chút chuyện cho vui: Khi bàu người giữ trách vụ Thủ Quĩ, chúng ta luôn mong ước người ấy có khả năng kinh tài, để huynh đệ đoàn có chút thu nhập nào đó, bù đắp cho những đóng góp của anh chị em.

4. Quan niệm thế nào về nhiệm vụ đóng góp? Trước hết xin trích dẫn tập sách "Luật Dòng Phan Sinh Tại Thế, Chú thích và áp dụng" (nhiều tác giả): "...Có quyền lợi tức có bổn phận. Nếu các anh chị em khác bỏ công sức ra để cho huynh đệ đoàn sống và hoạt động vì lợi ích của ta, chắc chắn ta không thể để họ phải chịu thiệt thòi quá nhiều dưới mọi hình thức. Một mặt ta khuyến khích những anh chị em có khả năng tài chánh đòng góp vào công việc chung, mặt khác ta phải tìm cách miễn giảm sự đóng góp này cho những anh chị em nghèo khó..."

Vậy thì mọi người chúng ta phải ý thức trách nhiệm của mình đối với Sự Sống và Sự Phát Triển của huynh đệ đoàn, và có tinh thần bác ái và công bằng trong việc thực thi điều 25 này.

Phêrô Nguyễn Đức Tiến; sfo

 

Trở về mục lục >>
 

Bài 49: Tương Quan Giao Ước

(Xh 19,1-24, 32-34)

Mười tám chương đầu của sách Xuất hành kể lại việc Thiên-Chúa giải phóng dân It-ra-en thoát khỏi quyền lực của Pha-ra-ô và dẫn đưa họ từ Ai-cập cho tới núi Xi-nai. Hai mươi hai chương còn lại của sách Xuất Hành, tất cả 27 chương của sách Lê-vi và mười chương đầu của sách Dân số chỉ nói tới thời gian tại núi Xi-nai, nơi Thiên-Chúa đã thiết lập giao-ước với It-ra-en. Toàn bộ sách Đệ-nhị-luật cũng được viết theo giọng văn giao-ước. Như vậy có thể nói giao-ước là chủ đề trung tâm của bộ Ngũ-thư.

Hầu hết các bài trình thuật trong Sách thánh đều phản ánh suy tư thần học về giao-ước. Thần học về giao-ước chẳng những chú ư tới thời điểm tại núi Xi-nai mà còn tạo nên cái khung cơ bản giúp người ta hiểu được những lời hứa của Thiên-Chúa với các tổ phụ No-ê, Ap-ra-ham, I-xa-ac và Gia-cóp . Nó làm cho Bộ Ngũ- thư trở thành "Quyển Sách Lề luật" (Torah) hơn là quyển sách lịch-sử. Sự trung tín hay bất tín với giao-ước sẽ là tiêu chuẩn cơ bản để phê phán sự thành công hay sự thất bại của It-ra-en qua các thời đại.

Từ thời dân It-ra-en còn ở Ai-cập cho tới lúc tới núi Xi-nai, tương quan giữa Thiên-Chúa và It-ra-en có thể nói là tương quan một chiều. Thiên-Chúa đã nghe tiếng khóc than của dân It-ra-en và đã biểu dương quyền lực để giải thoát họ. Những hành động hiển hách của Thiên-Chúa đã khơi dậy niềm tin của dân It-ra-en: nhưng đó còn là một niềm tin yếu ớt. Khi gặp một hoàn cảnh khó khăn, dân It-ra-en lại phàn nàn, kêu trách, thậm chí còn nghi ngờ cả sự hiện diện của Thiên-Chúa. Khi đã đưa dân It-ra-en tới núi Xi-nai, Thiên-Chúa đề nghị với họ một giao-ước tiêu biểu một tương quan hai chiều. Một đàng Người yêu cầu họ phải tuân giữ các thánh chỉ của Người, đàng khác Người hứa sẽ luôn luôn che chở họ. Giao-ước giống như một cuộc hôn nhân làm cho đôi bên hoàn toàn thuộc về nhau. Câu nói sau đây của Thiên-Chúa tóm tắt hậu quả của giao-ước : "Vậy giờ đây nếu các ngươi thực sự nghe tiếng Ta và giữ giao-ước của Ta, thì giữa hết mọi dân các ngươi sẽ là sở hữu riêng của Ta… Ta sẽ coi các ngươi là một vương quốc tư tế, một dân thánh." Ông Mô-sê sẽ làm trung gian cho giao-ước này. (còn tiếp)

 Lm. Norbert Nguyễn Văn Khanh, ofm


Trở về mục lục >>

 

Quê Hương Của Con

Lạy Cha là Thiên Chúa rất nhân hậu của chúng con.

Chúng con cảm tạ Cha đã thương cho chúng con được làm con dân của một dân tộc biết yêu mến quê hương, biết kính nhớ cội nguồn. Dù đang là người viễn xứ, chúng con vẫn luôn ấp ủ quê hương từng giây phút trong trái tim mình.

Hôm nay, ngồi trầm lặng nguyện cầu cho quê hương của chúng con nơi trần gian, chúng con lại nhớ đến quê hương ở Thiên Quốc; nơi ấy mới là quê hương đích thực của chúng con, nơi ấy có Cha, có Mẹ, có những huynh đệ của chúng con.

Lạy Cha, để được gần Cha, để được bước chân vào Quê Hương Vĩnh Cữu ấy chúng con phải biết xây dựng quê hương nơi trần thế như xưa kia Thánh Tử Giêsu Chí Ái của Cha đã xây dựng quê hương của Người bằng tình yêu thương.

Xin cho chúng con biết bắt chước theo gương của Thầy Chí Thánh bắt đầu xây dựng quê hương bằng chính trái tim, với cả tâm hồn mình; Hầu cho yêu thương được lan toả khắp nơi trên quê hương bé nhỏ của chúng con. Vâng, lạy Cha, xin Cha giúp chúng con thực hành tâm nguyện này. Amen.

 Maria

Trở về mục lục >>
 

 

Được sự cho phép của các đấng bản quyền, loạt bài về Hôn Nhân Gia Đình sẽ được trích đăng từ những lời giáo huấn của Đức Giám Mục Nicolas Huỳnh Văn Nghi, trong tập "Hành Trình với Dân Chúa". Ngài nguyên là Giám Mục giáo phận Phan Thiết, và hiện đang dưỡng bệnh. Vậy, mỗi khi đọc những bài viết trong mục này, xin quí anh chị cầu nguyện cho ngài được Chúa thương ban muôn ơn lành hồn xác, và luôn ở với ngài mãi mãi, Ước được như vậy. (Ghi chú của Ban Biên Tập)

Giáo Huấn 1: Gia Đình Lành Mạnh

Trong tháng giêng này, gia đình sẽ là trọng tâm hoạt động của chúng ta. Công tác nầy rất quan trọng vì gia đình là môi trường cho chúng ta sống.

Gia đình ảnh hưởng đến sức sống của mọi người như bể nước tác động đến các sinh vật sống trong đó. Chúng ta phải bắt đầu bằng việc làm sạch gia đình.

Trước hết nhà cửa chúng ta phải sạch sẽ, vệ sinh, và ngăn nắp. người Việt Nam thường nói: “Đói cho sạch rách cho thơm”. Hãy quét tước nhà cửa, sân vườn sạch sẽ. Đừng bao giờ để rác ứ đọng quanh nhà. Hãy cố gắng nhắc nhở mọi người ăn sạch, mặc sạch, và ở sạch.

Thứ đến hãy để ư đến các đồ vật trang trí, hình tượng, sách vở, báo chí trong nhà. Hãy dẹp bỏ những hình tượng lố lăng, những sách báo băng nhạc nhảm nhí, và những dụng cụ tiêu khiển không lành mạnh. Hãy loại bỏ khỏi gia đình những gương xấu, như cờ bạc, rượu chè, hút xách.

Sau hết hãy quan tâm đến sức khoẻ tinh thần của mọi người trong nhà, nhất là giới trẻ. Hãy có một tâm hồn lành mạnh trong một thân xác tươi khoẻ. Muốn thế, mọi người hãy để ư xét mình mỗi ngày và giúp nhau sống trong sạch.

Công Đồng chung Vaticanô II dạy rằng: "Sự lành mạnh của con người cũng như xã hội loài người, và Kitô giáo liên kết chặt chẽ với tình trạng tốt đẹp của cộng đồng hôn nhân và gia đình." (MV số 47). Và cây lành thì sinh quả tốt, cây độc thì sinh quả độc. (Mt 7,27)

Giáo Huấn 2: Gia Đình Gương Mẫu

Gia đình là tổ ấm thứ nhất của con người, và là trường học đầu tiên dạy các đức tính xã hội cần thiết (GD số 3). Do đó, ngoài nhiệm vụ làm sạch gia đình, chúng ta còn phải trau dồi cuộc sống cộng đồng ấy.

Trước hết vợ chồng hãy yêu thương nhau, đoàn kết, và hoà hợp tâm hồn: "Vợ chồng phải cùng nhau bàn định, cũng như cha mẹ phải ân cần cộng tác trong việc giáo dục con cái” (MV số 52) (Xem chú thích ở bài giáo huấn số 1 - BTV) Hãy bảo vệ tình yêu trọn vẹn và trường cửu theo gương Chúa Giêsu Kitô (Ep 5,25-27). Hãy ý thức trách nhiệm của mình đối với việc sinh sản, nuôi dưỡng và giáo dục con cái.

Cha mẹ hãy yêu thương và giáo dục tốt con cái mình, hãy quan tâm đến các mặt thể dục, trí dục, đức dục, “nhất là về phương diện tôn giáo, vì bổn phận nầy liên hệ đến cha mẹ trước hết” (MV, 48).

Con cái sẽ đáp lại công ơn của cha mẹ với lòng biết ơn, tâm tình hiếu thảo, tin cậy và sẽ theo đạo làm con mà phụng dưỡng cha mẹ trong nghịch cảnh cũng như trong tuổi già cô quạnh (MV 48).

Sau hết, mọi thành phần trong gia đình hãy sống hoà thuận, tôn trọng, thương yêu và giúp đỡ lẫn nhau, hợp tác và đồng trách nhiệm, hăng hái lao động và thực hành tiết kiệm, để cùng nhau xây dựng hạnh phúc. Hãy thực hiện điều Công Đồng Chung Vaticanô II phác hoạ là: Kết hợp trong tình tương thân tương ái, đồng tâm hiệp ư, và thánh hoá lẫn nhau để giữa những vui mừng và hy sinh của ơn gọi, và qua tình yêu chung thủy... trở nên nhân chứng của mầu nhiệm tình thương mà Chúa đã tỏ ra cho thế giới qua sự chết và sống lại của Người (MV 52). Thánh Phaolô dạy: "Những gì là chân thực, là khả kính, là công minh, là tinh tuyền, là khả ái, là danh thơm tiếng tốt, và nếu có nhân đức nào, nếu có điều đáng khen nào, anh chị em hãy chú trọng đến. (Pl 4,8)

â ĐGM Nicolas Huỳnh Văn Nghi

 

 

 

Trở về mục lục >>

 

Hãy Nhớ: Mình Là Người Việt Nam

Các cháu thân mến,

Cuối năm Dương Lịch, người Á Đông chúng ta lại sửa soạn đón mừng năm mới Âm lịch.

Thường những ngày này, ở quê nhà, hết thảy mọi người, từ những em học sinh nhỏ, người đi làm xa, nhà nông, nhà buôn, đều lấy những ngày nghỉ để kịp về nhà đón giao thừa, cúng tổ tiên với gia đình. Để tỏ lòng hiếu thảo của con cháu đối với tổ tiên, ông bà, cha mẹ.

Đối với người đã mất, con cháu bày lên bàn nhiều hoa quả, mấy món ăn người quá cố ưa thích lúc còn sống, thắp cây nhang, dâng mời, và nói vài câu tâm tình hay khấn vái với tổ tiên.

Đối với người còn sống, con cháu tụ tập, ăn mặc chỉnh tề, chúc những lời tốt đẹp cho đấng bề trên thân yêu của họ, và nhận lại những lời chúc tốt lành. Các cháu có biết không? Dân tộc chúng ta không giàu có bằng ai, giặc giã liên miên làm cuộc sống con người trở nên khó khăn. Không mấy ai giàu có dư dật. Nhưng dân tộc ta vốn có những đặc tính rất đáng quí: cần cù (siêng năng), ngay thẳng, chân thành, và nhất là hiếu thảo. Các cháu phải hảnh diện và lấy điều này làm căn bản cho cuộc sống. Cô kể các cháu nghe một câu truyện nhỏ, tặng các cháu trong dịp Tết này nha.

Các cháu thân mến của cô, Các cháu biết loại chim có tên là Pelican? Một loại chim sống nhờ ăn cá. Sau khi bắt được cá, chim nhét vào cái túi ngay lồng ngực. Sau khi cá được xay nhuyển, chim lấy mỏ móc thức ăn từ túi ấy ra cho chim con ăn. Người ta vẫn hay nói: “Móc tim nuôi con" thật là cảm động phải không các cháu?

Ở San Diego người ta kể lại rằng: Trước kia, ở tại bờ biển này, bầy chim Pelican nhờ vào tài bắt cá của giòng giống truyền lại nên săn mồi dễ dàng, chúng sống bên nhau rất đông trên vùng biển ở ấy. Nhưng một thời gian sau đó, nhiều đoàn chài lưới người Việt tị nạn ở đấy đã thả lưới bắt cá. Họ chặt đầu và đuôi cá rồi vất khắp nơi dọc bờ biển. Đàn chim Pelican không cần phải khổ cực đi săn mồi nữa, nhưng hằng ngày vẫn được no nê, và thức ăn vẫn còn dư đầy ra đó.

Cho tới khi người Á Đông đến đó mỗi ngày mỗi đông hơn, chẳng những người Việt mà còn có người Tàu, Cam Bốt, Thái Lan... tìm ra được nơi bỏ đầu và đuôi cá còn rất tươi để lấy về, và sau đó, đầu đuôi cá này lại được bày bán trong mấy cửa tiệm với giá rẽ. Thế là ngoài bờ biển, thức ăn của chim Pelican không còn nữa. Tội nghiệp cho những đàn chim ấy, qua bao nhiêu năm, qua nhiều đời con cháu không tập săn mồi trên mặt biển nên không kiếm được thức ăn dù cá vẫn đầy sông biển, người ta đã nhìn thấy bầy chim chết lần hồi vì đói, chúng không còn khả năng săn bắt cá như tổ tiên của chúng để tự bắt cá mà sống qua ngày.

Các cháu thân mến, câu chuyện này chắc nhiều cháu cũng đã nghe qua. Các cháu có thấy nó cho ta bài học gì không? Hãy luôn ghi nhớ, và rèn luyện những cái tốt đẹp mà Chúa đã ban cho dân tộc chúng ta: "Cần cù, nhẫn nại, và nhất là yêu thương, kính trọng, hiếu thảo với những bậc trưởng bối". Đừng ỷ y là mình đang sống trong thế giới có quá nhiều phương tiện, nhiều điều kiện để trở nên người tài giỏi và tự lập mà quên đi nguồn gốc của mình là con cháu của một dân tộc có rất nhiều cá tính quí báu. Không phải những người bề trên cần đến những việc này, mà là chính chúng ta, những ai làm hay giữ được những gia sản ấy sẽ thấy lòng mình yên bình thoải mái, sẽ có cuộc sống tự tin hãnh diện khi thấy mình xứng đáng là con cháu người Việt Nam; và ngay cả với những người xung quanh, với những người bản xứ nữa.

Vậy nhé, Cô cầu chúc các cháu của cô qua một mùa Tết ấm cúng, vui tươi, va dạt dào tình yêu thương!

Thể Xuân

 

Trở về mục lục >>
 

 
 

CHUYỆN THÁNH ANTÔN

Chuyện Thánh Antôn Pađua (tt)

PHẦN THỨ NHẤT: CUỘC ĐỜI LẠ LÙNG CỦA THÁNH ANTÔN

CHƯƠNG III: SỰ CHUẨN BỊ CHO MỘT SỨ MẠNG TÔNG ĐỒ

 

Mới vào dòng Phan Sinh được mấy tháng, thầy Antôn đã tình nguyện đi truyền giáo ở Bắc Phi hầu thực hiện lý tưởng của mình. Bạn đồng hành là thầy Philipphê. Nhưng vừa đến nơi thì thầy Antôn ngã bệnh, nằm liệt 4 tháng trời, chẳng hoạt động chi được nữa. Khi loan báo, bề trên dạy đưa thầy về chữa trị trong một tu viện ở Bồ Đào Nha.

Trên đường đi gặp bão to gió lớn nên tàu dạt vào Sicilia nước Ý. Và từ đó, thầy Antôn không trở về quê hương được nữa.

Trên đảo này có cộng đoàn Phan Sinh mới thành lập còn thiếu thốn rất nhiều thứ, nhất là nước uống. Các thầy đã đào nhiều giếng trong vườn mà vẫn không có nước. Thấy vậy, thầy Antôn liền cầu nguyện một lúc rồi chỉ một địa điểm trong vườn, tức thì gặp được mạch nước ngọt rất trong. Giếng ấy ngày nay vẫn còn tồn tại, và người ta gọi giếng ấy là giếng ông thánh Antôn. Ngài cũng còn một quả chuông gọi là chuông ông thánh Antôn do Người lưu lại để mỗi khi gặp phong ba sấm sét xuất hiện thì thỉnh lên để cầu bình an.

Ở đó dưỡng bệnh được hơn một tháng thầy Antôn cùng với thầy Philipphê đi Átxidi, cách đó xa khoảng mười ngày đàng đi bộ, để dự Tu nghị toàn Dòng, dưới quyền chủ tọa của Đấng sáng lập các bậc đàn anh trong dòng. Nhưng khi bế mạc, bề trên không cắt cử thầy Antôn công tác nào cả, vì thấy Người còn quá yếu.

Đang khi, thầy còn đang bơ vơ, thì thầy Casianô, bề trên Dòng tại xứ Phêlixia gặp thầy Antôn hỏi:

-  Thầy đã có bài sai chưa?

-  Thưa cha, chưa! Thầy Antôn đáp lại.

-  Thầy đã chịu chức linh mục chưa?

-  Thưa cha, đã chịu chức Linh Mục rồi.

-  Thế thầy có muốn đi với tôi chăng?

-  Thánh ý Đức Chúa Trời muốn cho con đi đâu thì con đi đó.

-  Vậy thầy hãy đi với tôi.

Thầy Antôn liền đi theo Bề Trên Casianô về tu viện xứ Phêlixia. Bề trên dạy Người rửa chén bát, quét nhà, dọn phòng cho các thầy, Người vui mừng lắm. Sau đó, được bề trên chấp thuận, Người lên hang núi cao mà ăn chay cầu nguyện trong vòng chín tháng, như các thánh tu rừng xưa. Đó là phương cách Chúa dùng để chuẩn bị cho Người rao giảng lời Chúa sau này.

 

CHƯƠNG IV: NHÀ GIẢNG THUYẾT LỪNG DANH

Trong truyện các vĩ nhân, ta thường thấy rằng: xuyên qua một sự việc bất ngờ mà thiên hạ nhận ra thiên tài của các vị ấy, trường hợp của Thánh Antôn cũng vậy.

Năm ấy, Đức Giám mục thành Phôli truyền chức linh mục cho nhiều tu sĩ của hai dòng Đaminh và Phan sinh, các bề trên đều đến dự lễ, trong số đó có bề trên Casianô mà thầy Antôn tháp tùng.

Trong lễ truyền chức, Đức Giám mục vốn quen giảng một bài trọng thể. Nhưng hôm ấy, Ngài mệt nên nên không thể giảng được, và có lời mời nhờ các bề trên trong dòng giảng thay. Các vị này đều xin kiếu, vì chưa chuẩn bị soạn kỹ nội dung bài giảng.

Bấy giờ, Bề Trên Casianô cho gọi thầy Antôn và truyền cho thầy phải giảng, thầy Antôn vì khiêm tốn không dám nhận nhiệm vụ này, vì từ thưở vào dòng, thầy chưa giảng bao giờ. Nhưng vì vâng lời bề trên, thầy lên toà giảng ngay.

Thấy Người đứng trên toà giảng, các tu sĩ đều ái ngại cho thầy. Một kẻ chỉ quen quét nhà, dọn rác, rửa bát mà dám lên giảng dạy ư? Nhưng khi thầy Antôn giảng thao thao bất tuyệt về đề tài "Đức Kitô đã vâng lời cho đến chết vì lòng thương chúng ta" thì mọi người mới rất đỗi ngạc nhiên trước tài hùng biện của thầy Antôn, thầy đưa ra những lư mạnh, lẽ cao, dẫn chứng lời Thánh Kinh, lời giáo phụ một cách mạch lạc, chính xác như thể là một bậc thầy chuyên về giảng thuyết xưa nay vậy. Giọng thầy thì âm vang, lời thầy thì sốt sắng thấu tận lòng người nghe. Từ Đức Giám mục cho đến toàn thể cử toạ đều cảm kích, xúc động và thốt lên rằng: thật từ xưa đến nay chưa được nghe đấng nào giảng hay và thấm thía đến như thế!

Dòng Phan sinh vui mừng có một nhà hùng biện sẽ làm sáng danh Chúa. Bề trên Casianô liền ban bài sai cho phép thầy được đi giảng khắp miền lân cận. Đồng thời, Người cũng loan báo cho thánh Phanxicô biết nữa.

Thánh phụ mừng lắm, ngước mắt lên trời tạ ơn Chúa: "Chúa đã ban cho chúng con một người xuất sắc". Rồi người truyền cho thầy Antôn phải dạy thần học cho các tu sĩ trong dòng. Người vâng lời dạy thần học trong các tu viện Phan Sinh thuộc nước Ý và nước Pháp công việc rất thành công.

Nhưng Thiên Chúa muốn chọn thầy làm đèn sáng cho thiên hạ, nên chẳng bao lâu, thánh Tổ phụ truyền cho thầy giảng cho kẻ tội lỗi, người rối đạo, hối cải ăn năn tại các nước Ư và nước Pháp. Với sứ vụ tông đồ ấy, thầy đã hoàn thành với vô vàn hiệu quả thiêng liêng, trong vòng 10 năm từ khi thầy mới 25 tuổi cho đến khi thầy qua đời.

Bấy lâu trước đây, thiên hạ chưa từng thấy có đấng nào giảng dạy sốt sắng và làm nhiều phép lạ cho bằng (có lẽ chỉ có thánh Vinh sơn, hai thế kỉ sau mới sánh kịp). Danh tiếng thầy Antôn vang dồn khắp mọi nơi, ai ai cũng háo hức muốn thấy tận mặt, nhìn tận mắt, nghe tận nơi. Khi được tin thầy đi đến đâu, với người nông dân thôn dã thì bỏ cả vụ mùa, công việc đồng áng, người ở thành thị thì dù đang bán buôn, cũng đóng hết cửa hàng… tuốn đến để nghe thầy giảng dạy, có kẻ đi suốt đêm mà đến. Số thính giả từ một vạn đến ba bốn vạn người, thầy giảng dạy ngoài trời, ở công viên, giữa phố xá, chợ búa và có khi ngay cả ngoài đồng.

Ngoài tài hùng biện tự nhiên, dường như thầy còn có sự hấp dẫn siêu nhiên nữa. Khi thầy đứng giảng, thì người ta tưởng như nghe một vị thiên thần đang nói với mình. Lý lẽ mạnh, cung giọng thiết tha, trầm ấm, truyền cảm của thầy làm cho nhiều kẻ lòng chai dạ đá cũng phải mềm ra. Đã biết bao kẻ tội lỗi ăn năn trở về đàng ngay, bao kẻ rối đạo được ơn trở lại, bao kẻ thù địch được thuận hoà êm ấm, người bất hạnh được được trả ơn, trả của… Chúa cũng cho thầy làm phép lạ nhãn tiền để khuất phục kẻ chai lòng cứng dạ.

Trải qua mười lăm năm lưu thuyết, khắp các vùng hai nước Ý và Pháp, thầy Antôn cùng với lời giảng, đã làm vô vàn phép lạ đến nỗi người đương thời gọi thầy là "Ông Thánh hay làm phép lạ!" (còn tiếp)

 

 THƯ CHO ÁO NÂU

Hoa Quả Của Sự Nhịn Nhục

Áo Nâu, Anh thân yêu,

Em thật là đoảng! Đang tập hát Lễ Giáng sinh, khi nghe hát bài ca "Vinh Danh Thiên Chúa... An Bình dưới thế cho người thiện tâm". Em chia trí lo ra quá trời, vì nghĩ đến một người bạn.

Người bạn ấy tên là An Bình, cái tên đọc lên nghe thật dễ thương vì cứ nghĩ đời chị là cả một Thái Bình Dương... Nhưng không. Dầu là Biển Thái Bình cũng có những ngọn sóng thần, những làn nước xoáy, thì đời An Bình cũng như thế. Em kể Anh nghe nhé.

Chị có một ông chồng suốt ngày chỉ biết say sưa đập phá, đòi hỏi... Ra ngoài xã hội, thì ai cũng nghĩ anh ta là người tốt, nhưng khi về đến nhà thì hoàn toàn ngược lại, và xem vợ con như là nơi để anh ta trút giận.

Ông bà có nói "Một điều nhịn là chín sự lành." Đó là một kinh nghiệm đúc kết từ bao đời, và An Bình đã xem đó như là một giáo huấn không thể không thực hiện. Chị đã thực hiện như thế. Trước mặt chồng, dù muốn dù không, lúc nào chị cũng tỏ ra ngoan hiền nhịn nhục, phục tùng chồng vô điều kiện, chưa bao giờ dám cãi chồng một lời, dù có biết chồng sai đến mười mươi. Sự kiện nhẫn nhục ấy khiến cho nhiều người nói vào nói ra; cả chị em họ hàng cũng cho rằng chị làm như thế là nhẫn nhục quá đáng, khiến cho chồng “được đàng chân lân đàng đầu”. Can ngăn mãi không được, họ xa lánh chị dần dần và để mặc chị, chẳng ai để ư gì mỗi khi chồng hành hạ chửi mắng. Đời chị từ đó ngày càng lún sâu vào cô đơn buồn tủi. Nhưng chị vẫn nhịn nhục vì không muốn cho gia đình mất bình yên, không muốn cho chồng mất uy tín đối với con và với xã hội, không muốn con cái mang tiếng với bạn bè. Chị vẫn nhẫn nhục chịu đựng trong đau khổ và buồn chán.

Nhưng từ khi An Bình vào Phan Sinh, chị hiểu ra rằng" nhịn nhục cũng có cái niềm vui của nó, vì nó đưa mình đến gần với Chúa hơn, gần với Chúa Can-vê hơn.

Áo Nâu, Anh thân yêu. An Bình làm được điều này vì hiểu ra rằng Hôn Nhân đã được Chúa nâng lên hàng Bí tích, thì Chúa sẽ giúp bảo tồn hạnh phúc cho mình. Từ ngày chị khấn Dòng Phan Sinh Tại Thế, Chị cầu nguyện liên lỉ; chị dùng những kinh nghiệm tích lũy từ nhiều lần nhịn nhục, để lại tiếp tục nhịn nhục. Chị dùng chút thời gian bòn mót được để đi làm việc bác ái, săn sóc người già cả bệnh hoạn neo đơn; chị dùng chút tiền còm chắt chiu được, để mua những thứ cần thiết mang đến biếu tặng những người bị xã hội bỏ quên.

Thế rồi An Bình được Chúa giúp. Chúa đã tác động trên chồng chị, Từ gương sáng của chị, chị được người chồng suy nghĩ và yêu mến. Những những ngày gần đây, anh ấy đã quay về với thực tại, với hạnh phúc mà vợ anh vẫn canh cánh mang đến cho anh và cho gia đình.

Em chúc mừng An Bình và cám ơn Anh đã đồng hành với An Bình trong suốt thời gian mấy năm gần đây, để chị ấy luôn nhịn nhục mọi người và yên tâm phục vụ người nghèo.

 Agnès Kim Gương

VẦN THƠ ĐƠN SƠ

Qua Rồi Những Ngày Đông

Chúa đã giáng trần rồi Chúa ơi!

Chúng con mừng đón Chúa ra đời

Ngài đến mang theo bao hy vọng

Xoá sạch khổ đau những cảnh đời

Chúa thấy em Bình rất đáng thương

Bị người hành hạ mấy năm trường

Gặp ông bán phở vô nhân tính

Thể xác tinh thần đọng vết thương

Bắt cóc tống tiền Chúa thấy không?

Con người tàn nhẩn tự trong lòng

Chú ruột quên đi tình máu thịt

Gia đình chỉ thấy những ngày đông

Hai mấy năm đau khổ triền miên

Chồng say đâu nghĩ đến vợ hiền

Xin Chúa một lời để cảm hoá

Vợ chồng hoà hợp bởi thiên duyên...

Đông đã qua rôi xuân sắp sang

Chúng con vui đón tết huy hoàng

Có hoa khoe sắc và có bướm

Người người hớn hở tiếng reo vang.

 Hồ Nguyễn

 

Lịch Đọc Kinh Phụng Vụ Năm 2008

(Các ngày Chúa nhựt và Lễ Trọng)