Mọi thư từ liên lạc, xin gửi về PSTTVNUSA@YAHOO.COM. Copyright © 2002 WWW.PSTTVNUSA.NET. All rights reserved.
 

NỘI DUNG HÀNG THÁNG (01-2007)

 
 
Trong Số Này:
TÂM SỰ HẰNG THÁNG
  Tình Chúa, Tình Đời
HỌC HỎI LỜI CHÚA
 

CÁC TAI HỌA VŨ TRỤ VÀ VIỆC CON NGƯỜI NGỰ ĐẾN; CANH THỨC ĐỂ KHÔNG BỊ BẤT CHỢT *

LINH ĐẠO PHAN SINH
  Linh Đạo Phan Sinh Tại Thế
GIÁO LƯ TÓM LƯỢC
  Bài 38: Ông Giuse Gặp Lại Anh Em Mình
LỜI KINH MỖI THÁNG
  Đêm Nay Chúa Vào Đời
NỮ GIỚI PHAN SINH
  Chia Sẻ Cùng Em
HÔN NHÂN GIA Đ̀NH
  Bài 2: Gia Đình Kitô Hữu
NHỮNG BÀI ĐỌC THÊM
  Thương’ Chúa Hài Nhi ...
CẦU NGUYỆN CHO NHAU
   
THÔNG BÁO TIN TỨC
   

 

 

Tình Chúa, Tình Đời

Thưa quí anh chị,

Trong bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông mà Thiên Chúa đã ban cho nhân trần, anh chị yêu mùa nào nhất?

Tôi không hiểu tại sao tôi lại yêu mùa đông trong khi tôi rất sợ cái lạnh. Và tôi cảm thấy bầu trời mùa Đông như thu hẹp lại cho chân mây bị giam cầm, gió không được tự do rong chơi. Màu trắng dịu dàng, màu xanh hiền hòa của mây trời cũng lẫn đi đâu mất, và thường để lại trên vòm trời một màu trắng xám buồn hiu hắt như khuôn mặt của một người sắp khóc…

Nhưng nếu nói đến một cõi riêng tư trong tâm hồn thì cứ mỗi khi Đông về, tôi luôn suy niệm và trăn trở về "tình Chúa và tình Đời”, mối tình đặt cho tôi nhiều dấu chấm hỏi.

Tại sao Thiên Chúa; Đấng Tạo Thành Trời Đất lại hạ mình xuống làm người thấp hèn như ta? Không! Thấp hèn hơn! Vì trong chúng ta có mấy ai bị sinh ngoài đồng, sống ngoài đường, chết ngoài đồi như Người.

Tại sao Thiên Chúa, Vị Vua Vũ Trụ bước chân đầu đời ở trần gian lại chọn đồng hoang làm điểm, hang đá làm nhà, máng cỏ làm giường, cỏ rơm làm chiếu, bò lừa làm chăn?

Tại sao Thiên Chúa, Đấng Quyền Năng trên vạn vật lại lặng lẽ vào đời giữa đêm Đông lạnh lùng, hiu hắt, cô quạnh không một người đón tiếp, không một lời tung hô, không chiên trống, cờ xí?

Tại sao chúng ta cứ say ngủ, cứ hững hờ, vô tâm, cứ tàn nhẫn xua đuổi Chúa trong khi chúng ta là loài thọ tạo hèn hạ được hiện hữu từ bàn tay của Đấng Tạo Thành, được tồn tại do sự quan phòng của Vị Vua Vũ Trụ, được sống vĩnh cửu chính là nhờ vào Tình Yêu Giáng Sinh? Tại sao lòng chúng ta cứ mãi đóng cửa như băng tuyết đêm đông?

Thánh Luca đã cho chúng ta thấy rõ điều này: "Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tả bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chổ trọ (Lc1,7)"… Đêm ấy, một đêm lạnh rách da, buốt xương tủy, Một đôi vợ chồng nghèo mà người vợ đã mệt lã vì vất vã rong ruỗi nhiều ngày và sắp sinh con. Người chồng tất tả ngược xuôi gõ cửa hết khách sạn này đến nhà trọ kia mong tìm được chỗ trú qua đêm, nhưng mọi người đều lắc đầu, bĩu môi, xua đuổi. Tại sao vậy? Tại vợ chồng ấy nghèo quá. Nhưng nghèo có xấu không nhỉ? Nghèo có phải là tội không nhỉ? Không! Nghèo không có xấu! Nghèo cũng không phải là tội, thế nhưng muôn đời cái nghèo và người nghèo vẫn bị khinh khi đến nhẫn tâm và Chúa Giáng Sinh đã cho chúng ta thấy rõ điều đó.

Thời gian đã bước sang ngàn năm thứ ba, nhưng dường như chúng ta vẫn chưa thay đổi cái nhìn đối với người nghèo, chưa canh tân cách sống với kẻ khổ nên Cha Mẹ của Chúa Hài Nhi vẫn phải tất tả ngược xuôi đi gõ cửa từ tấm lòng này đến trái tim kia để van xin chút tình mến, Nhưng tìm đâu được vài tâm hồn biết rung cảm, dăm trái tim biết tơ vương trước nỗi đau của anh em mình khi mà vật chất cứ ào ạt lên ngôi… Chúa vẫn bị bỏ rơi. Tình Đời vẫn như xưa, và Tình Chúa vẫn không đổi.

Chúng ta đang sống trong Mùa Vọng, và Mẹ Giáo Hội luôn nhắc nhở chúng ta rằng: "Hãy dọn sẵn con đường cho Thiên Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi” (Lc 3,4). Vâng! Xin quí anh chị hãy tự trả lời câu hỏi: Tại sao Chúa đến? Chúa đến thế nào? Chúa đến vì ai? Để hiểu Tình Chúa yêu mình đến mức độ nào.

â BBT

 

Trở về mục lục >>

 

CÁC TAI HỌA VŨ TRỤ VÀ VIỆC CON NGƯỜI NGỰ ĐẾN; CANH THỨC ĐỂ KHÔNG BỊ BẤT CHỢT

(Lc21,25-28.34-36 – CN I MV - C )

21:25"Sẽ có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Dưới đất, muôn dân sẽ lo lắng hoang mang trước cảnh biển gào sóng thét. 21:26Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu, vì các quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển. 21:27Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến. 21:28Khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc".22:34Đức Giê-su lại nói: "Này anh Phê-rô, Thầy bảo cho anh biết, hôm nay gà chưa kịp gáy, thì đã ba lần anh chối là không biết Thầy". 22:35Rồi Người nói với các ông: "Khi Thầy sai anh em ra đi, không túi tiền, không bao bị, không giày dép, anh em có thiếu thốn gì không?" 22:36Các ông đáp: "Thưa Thầy, không". Người bảo các ông: "Nhưng bây giờ, ai có túi tiền thì hãy mang theo, ai có bao bị cũng vậy; còn ai chưa có gươm thì bán áo đi mà mua.

1.- Ngữ cảnh

Đức Giêsu tiếp tục giáo huấn tại Đền Thờ. Tác giả Lc đã ghi lại một diễn từ dài bàn về số phận của Giêrusalem và Đền thờ (21,8-36). Bản văn được kết cấu theo cấu trúc đồng tâm (xem cấu trúc trong bài trước). Bản văn đọc trong Phụng vụ hôm nay là nửa sau của bài Diễn từ trên.

2.- Bố cục

Bản văn có thể chia thành hai phần:

1) Các tai họa vũ trụ vào lúc tận thế (21,25-28);

2) Cảnh báo kết thúc: hãy tỉnh thức (34-36).

3.- Vài điểm chú giải

- mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Dưới đất … cảnh biển gào sóng thét (25): Toàn thể các yếu tố của vũ trụ, được diễn tả bời trời, đất và biển đều rung chuyển.

- các quyền lực trên trời (26): Vũ trụ quan cổ xưa cho rằng các quyền lực thiêng liêng thì ở trên không trung.

- Con Người đầy quyền năng (27): Đây là hình ảnh của Đn 7,13-14.

- cứu chuộc (28): Từ apolytrosis , "cứu chuộc", này không có trong các Tin Mừng , nhưng hẳn là Lc đã mượn của Phaolô, vị thánh tông đồ dùng nhiều lần từ này để nói về công trình cứu độ của Đức Giêsu (Rm 3,24; 1 Cr 1,30; Rm 8,23; x. Cl 1,14; Ep 1,7; 4,30). Ở đây từ ngữ này được dùng theo nghĩa "giải thoát" mà không có quan hệ gì với "tiền chuộc" (lytron ).

- như một chiếc lưới (34): Có thể hình ảnh này gợi đến Is 24,17.

4.- Ý nghĩa của bản văn

* Các tai họa vũ trụ vào lúc tận thế (25-28)

Cho đến nay, tác giả Lc kể ra một loạt các biến cố gần kề mà hẳn là ngài đã chứng kiến (cc. 8-9.12-19.20-24). Bất chợt ngài rời bỏ các viễn tượng lịch sử này để đưa mắt hướng về thời tận thế. Tách biệt rõ rệt với thời kỳ trước, thời này được loan báo bằng các dấu hiệu vũ trụ (c. 25a) mà Lc đã phân biệt với các dấu hiệu trước (cc. 10-11).

Trong các áng văn chương khải huyền, các dấu hiệu này là khung cảnh cổ điển cho cuộc Phán xét chung. Chúng phát xuất từ các bản văn ngôn sứ phác họa cuộc chiến thắng của Yhwh trên "đạo binh trên trời", tức các thần linh của Átsua và Babylon (x. chẳng hạn Is 13,10 và 34,4). Nhưng các tác giả TM lẫn Đức Giêsu đều không nghĩ đến một cuộc giao đấu của vị Thiên Chúa chân thật với các thần linh ngoại giáo. Các hình ảnh cổ xưa đó chỉ diễn tả cho các ngài cuộc can thiệp quyết định của Thiên Chúa trên thế giới mà Ngài sắp giải thoát khỏi sự dữ (x. Rm 8,19-22; Kh 21,1-8).

Trong khi Mc Mt nói chi tiết về các tai ương vũ trụ theo cách các bản văn khải huyền, Lc lại dừng lại nhiều hơn với các phản ứng của loài người khi thấy Cùng Tận đến gần (cc. 25b-26). Như thế ngài trung thành với tư tưởng của Kinh Thánh và của Đức Giêsu hơn: tấn bi kịch cánh chung trước tiên là một tấn bi kịch của con người.

Các bản văn khải huyền Do-thái mô tả thời tận thế bằng một loạt các biến cố phức tạp như người chết sống lại, phán xét, những người công chính được cứu, những kẻ gian ác bị trừng phạt, thế giới mới được thiết lập (Giêrusalem trên trời)... Ở đây trong TM Lc, Đức Giêsu cô đọng tất cả các biến cố của thời tận thế vào cuộc ngự đến khải hoàn của Người trong tư cách là Con Người (c. 27; Mc Mt nói rõ rằng Người đến để quy tụ các người được tuyển chọn, và đây rất có thể là câu nói nguyên thủy của Đức Giêsu). Mặt trời và mặt trăng cung cấp ánh sáng và được phân biệt nhờ dòng lưu chuyển đều đặn của chúng; chúng giúp ta đo đạc thời gian. Các tinh tú được bố trí lớp lang, đã trở thành như biểu tượng của trật tự và bền vững: Người đi trong sa mạc hay trên biển có thể định hướng nhờ các ngôi sao. Sự đảo lộn các biểu tượng về bền vững và trật tự này có nghĩa là các thực tại hiện đang có không có một độ bền bỉ vĩnh cửu, nên ta không thể tín nhiệm chúng vô điều kiện và dùng chúng như những điểm quy chiếu hoàn toàn đáng tin cậy. Mọi sự tùy thuộc vào Con Người đang ngự đến.

Biến cố Con Người ngự đến này là lời loan báo cốt yếu đối với Đức Giêsu: Người nhắc đến nhiều lần trong các Tin Mừng (Mc 8,38 //; 14,62 //; Mt 10,23; 13,41; 19,28; 25,31; Lc 12,8; 17,30; 18,8;…). Lời loan báo này có gợi đến cảnh Phán xét trong Đn 7,13-14, trong đó Con Người đại diện cho “dân các thánh của Đấng Tối Cao”, được ban cho quyền hành tối cao sau khi đã trải qua các thử thách (x. Đn 7,18.22.27). Đức Giêsu nhận lấy danh hiệu "Con Người" như danh hiệu riêng, diễn tả vai trò của Người là Đấng Cứu độ, Đấng gánh vác định mệnh của loài người.

Lc đã loại bỏ mọi hình ảnh khải huyền phụ thuộc để tập trung chú ư vào quyền năng và vinh quang của Đức Giêsu, Đấng chiến thắng sự dữ và là Chúa tể của Vương quốc.

Để kết thúc bản văn này, Lc ghi lại một lời khuyên của Đức Giêsu: "Khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc” (c. 28). Người mời gọi sống niềm hy vọng. Các dấu hiệu và các biến cố Đức Giêsu vừa loan báo thì đáng sợ. Nhưng các tín hữu của Đức Giêsu không có gì phải sợ các biến cố này, vì chúng tỏ bày chiến thắng và quyền chúa tể của Thầy họ. Khi sống trong những đảo lộn của thế giới này, họ phải nhận biết rằng Nước Thiên Chúa đang đến gần và đã tới lúc họ được cứu chuộc (apolytrosis ).

* Cảnh báo kết thúc: hãy tỉnh thức (34-36)

Lời khuyên ở cc. 34-36 là kết luận của toàn bài diễn từ. Lời này theo một viễn tượng khác. Việc Chúa đến không còn được loan báo bằng những dấu hiệu, như ở cc. 11.25.28 nữa; nhưng được báo là sẽ xảy ra bất thình lình và không thể tiên liệu, như các dụ ngôn về sự tỉnh thức (12,35-46) hay như bảng phác họa Ngày của Con Người (17,23.36). Đức Giêsu đã vận dụng cả hai cách giới thiệu này bởi vì Người không quan tâm mô tả tương lai cho rõ ràng cho bằng mời gọi các môn đệ chuẩn bị đón biến cố đó bằng cách sống trung thành.

Trong đoạn văn cuối cùng này, thái độ mà các tín hữu phải có là tỉnh thức thường trực. Họ phải tránh các cám dỗ sống trụy lạc và say sưa (x. 12,45; 1 Tx 5,6-7; Rm 13,13), và còn hơn thế nữa, tránh các bận tâm về trần thế khiến họ có thể quay lưng lại với điều thiện hảo duy nhất đáng kể (x. 8,14; 12,22-31; 17,27-28). Họ phải sẵn sàng, bởi vì "ngày ấy" sẽ xảy đến thình lình (x. 1 Tx 5,3) và bắt chợt các dân cư trên mặt đất, như chiếc lưới của người thợ săn ụp xuống thình lình trên con mồi (x. Is 24,17). Trong thực tế, đối với Lc, sẵn sàng chính là luôn luôn lo công việc mà Thầy đã giao phó cho các tôi tớ Ngài (12,35-48); đó cũng là "cầu nguyện luôn luôn không bao giờ nản chí", như Ngài đã nhắc nhở sau khi phác ra Ngày của Con Người (18,1). Bởi vì nếu người tín hữu không ngừng quay về với Chúa để thờ phượng Người, để xin Người trợ giúp và trước tiên cho Nước Người ngự đến, thì làm sao người ấy lại có thể bị bắt chợt bởi một cuộc ngự đến mà người ấy luôn trông mong? Được chuẩn bị như thế nhờ sự trung thành và cầu nguyện, người ấy chẳng sợ gì các thử thách vào lúc Cùng Tận: Người ấy sẽ có thể đứng vững khi bị Con Người xét xử.

+ Kết luận

Bài Tin Mừng này hoàn toàn thích hợp cho CN I MV, tức khởi đầu Năm Mới của Hội Thánh. Tuy nhiên, lễ Giáng Sinh đã hoàn tất rồi, trong sự nghèo khó và trong niềm vui Bêlem. Chúa đã đến mang Tin Mừng của Người cho chúng ta và đưa chúng ta vào trong Hội Thánh Người. Nếu chúng ta có nhắc lại cuộc hiển ngự đầu tiên trong tình trạng khiêm tốn nghèo hèn, là để tiến bước về cuộc hiển ngự vĩnh viễn của Con Người trong quyền năng và vinh quang. Nhưng từ cuộc hiển ngự đầu tiên đến cuộc hiển ngự cuối cùng, sẽ là một chuỗi những chọn lựa được mỗi người thực hiện. Nếu chúng ta liên tục chọn Đức Giêsu, chúng ta đã thực thi lời Người dạy: Hãy tỉnh thức.

5.- Gợi ý suy niệm

1. Khi bắt đầu Năm Phụng vụ mới, Hội Thánh đã dùng những lời Tin Mừng hôm nay để đẩy chúng ta tới trước, chứ không muốn chúng ta dừng lại và bằng lòng với một bảng tổng kết nào đó. Chúng ta còn phải đi tới trước, để đón gặp Đức Kitô vì Người đang đến. Sự chấm dứt của lịch sử được liên kết với sự đảo lộn của tất cả những gì cho tới nay được coi là cố định và chắc chắn và liên kết với việc Con Người ngự đến trong vinh quang. Tất cả các thực tại vẫn có cho đến nay không có độ chắc vĩnh cửu, nên ta không thể tín nhiệm vào chúng vô điều kiện, và chúng không thể được dùng như những điểm quy chiếu không phải nghĩ ngợi. Tiếng nói cuối cùng về tất cả lịch sử con người và mọi yếu tố của lịch sử này thuộc về Con Người khi Người đến trong vinh quang Thiên Chúa.

2. Con Người đã đi qua đau khổ và cái chết nhưng rồi đã trỗi dậy từ cõi chết. Người sẽ tỏ mình ra trước mắt mọi người trong phẩm cách đích thực của Người. Sự tỏ mình ra của Người và quyền chúa tể hữu hình của Người, quyền chúa tể duy nhất và vô biên chính là mục tiêu của toàn thể lịch sử nhân loại. Cho dù lịch sử này đã bị cày xới liên tục bởi các tai ương và sức mạnh hủy hoại, cuối cùng nó vẫn không phải là một tai ương. Thiên Chúa cho phép vô số chuyện lạ lùng và không hiểu được xảy ra, nhưng tiếng nói cuối cùng của Ngài trên lịch sử con người là sự mạc khải Con Người. Người sẽ xuất hiện ra trong vinh quang của Chúa Cha, trong vẻ xán lạn uy hùng ngang bằng Thiên Chúa. Lịch sử nhân loại có thể có vẻ còn quá tăm tối và đang đi đến chỗ tiêu vong, nhưng cuối cùng có Con Người, Đấng đã chia sẻ trọn vẹn định mệnh con người, nay đến trong vinh quang chói lọi và trong sự hiệp thông phong phú với Thiên Chúa là Cha Người.

3. Với bài diễn từ này, Đức Giêsu xác định cách sống của các môn đệ Người trong khoảng thời gian chạy từ cuộc Phục Sinh của Người cho đến ngày Người trở lại. Người sẽ không hiện diện hữu hình với họ nữa; họ sẽ phải tiếp tục hành trình trong sự hiểu biết giới hạn về các thực tại trần thế, nhưng cũng trong xác tín vững vàng vào cuộc chiến thắng chung cuộc của Chúa mình. Họ "hãy đứng vững và ngẩng đầu lên". Nhưng cũng phải biết đề phòng những quyến rũ đam mê xấu. Cuối cùng họ "hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn".

â Lm. F.X. Vũ Phan Long, ofm

 

Trở về mục lục >>

 

Linh Đạo Phan Sinh Tại Thế

Phần 2: Đời sống tu đức (tiếp theo)

Điều 15. Công lý cần nêu cao

Bản văn Điều 15 này có vẻ thời thượng đối với chúng ta, vì trong hiện tại đạo đức suy đồi, khát vọng hưởng thụ vượt lên trên lương tâm và lý trí. Con người ngày nay chạy đôn chạy đáo tìm cách chiếm hữu tiền tài, danh vọng, địa vị. Vì thế, sinh ra nhiều qui định thành văn hoặc bất thành văn mà công lý có một chỗ đứng rất thấp. Vậy thì người Phan Sinh Tại Thế suy nghĩ gì về điều Luật 15 này?

1. "Qua chứng tá của một đời sống nhân bản": Sống nhân bản là không chấp nhận điều gì trái với "tính bản thiện" của "nhân chi sơ"; sống nhân bản ở đây còn phải hiểu là nhân bản Kitô giáo: Con người là hình ảnh của Thiên Chúa, luôn tìm cách làm cho người chung quanh nhận ra mình là con của Đấng công bằng vô cùng, và luôn cố gắng làm gương tốt cho người khác.

2. "và qua những Sáng kiến dũng cảm": Trong mọi nơi, mọi lúc, bằng cách này cách khác, người Phan Sinh Tại Thế cần dũng cảm vượt qua mọi thử thách để phát huy công lư. Thí dụ như tích cực tham gia vào những tổ chức đạo đời. Tài liệu "Huấn luyện khởi đầu” của Huynh Đệ Đoàn Phan Sinh Tại Thế Việt Nam (phát hành năm 2003) viết như sau: "Anh chị em Phan Sinh Tại Thế hãy làm tốt điều này trong đời sống ("có mặt và cổ võ cho công lý, nhất là trong phạm vi đời sống công cộng"), ngay trong hoàn cảnh, nghề nghiệp, trong khu xóm, trong gia đình… Nếu có điều kiện, anh chị em nên tham gia các tổ chức xã hội, vì chỉ khi nào ta là thành viên của các tổ chức ấy thì tiếng nói và việc làm của ta mới được dễ dàng chấp nhận" (tài liệu đã dẫn, trang 82).

3. Trung thành với đức tin công giáo: Đức tin Công giáo dạy ta tin thờ một Chúa, tuân giữ 10 điều răn của Chúa, 6 điều răn Hội Thánh, 14 mối thương người, và 8 mối phúc thật. Vì vậy không ai được làm điều gì trái với những điều luật này.

Liên quan đến điều 15 này, điều 22 Tổng Hiến Chương cũng quảng diễn như sau:

22.1: "…Luôn có mặt "trong phạm vi đời sống công cộng", hãy cộng tác trong mức độ có thể vào việc soạn thảo các điều luật và những qui định chính đáng".

22.2: "Các Huynh Đệ Đoàn hãy có những lập trường rõ ràng khi phẩm giá con người bị xâm phạm dù dưới bất cứ hình thức nào, bị áp bức hoặc bị loại trừ. Các Huynh Đệ Đoàn hãy lấy tình huynh đệ mà giúp đỡ những nạn nhân của bất công”.

22.3: "Từ chối sử dụng bạo lực là nét đặc thù của các môn đệ Thánh Phanxicô, tuy nhiên không vì thế mà từ chối hành động. Anh chị em hãy lo sao cho sự can thiệp của mình luôn được thúc đẩy bởi đức tin Kitô giáo”.

Vậy người Phan Sinh Tại Thế thực hiện điều 14 này như thế nào?

- Sống chứng tá nhân bản Kitô giáo (không làm điều bất công).

- Quyết liệt bày tỏ lập trường khi công lý, nhân phẩm bị chà đạp.

- Dũng cảm đưa ra sáng kiến để phát huy công lư.

- Tích cực tham gia các tổ chức xã hội lành mạnh.

- Khi có cơ hội, nhiệt tình tham gia vào việc soạn thảo các văn bản liên quan đến công lư.

- Sẵn sàng cộng tác, hành động, nhưng phải từ chối dùng bạo lực.

Điều 16. Sống lao động cần cù.

Cuộc sống con người được gắn liền với lao động, dù là lao động trí óc hay lao động chân tay. Để thực thi hoàn hảo điều 15 trên đây (Công lư cần nêu cao), thì việc lao động dứt khoát phải “cần cù". Người Phan Sinh Tại Thế không quan niệm rằng lao động kiếm sống là một hình phạt mà Chúa áp đặt trên con người Ađam và con cháu ông vì đã vi phạm giới răn Chúa (x. St 3,17). Cũng không phải vì chúng ta mắc tội với Chúa nên "phải làm việc đền tội”. Nhưng người Phan Sinh Tại Thế quan niệm rằng Lao động sáng tạo là một vinh dự được cộng tác vào công trình của Chúa Cha, để mưu cầu hạnh phúc cho con người (trong đó có bản thân mình). Vì vậy tính "cần cù" của người Phan Sinh Tại Thế có tác dụng đặc biệt, nó làm nhẹ đi “gánh nặng” và sự mệt nhọc của lao động. Có điều chúng ta cần hiểu "cần cù" cho đúng nghĩa. Cần cù là không lãng phí thời gian vào những việc vô bổ khác trong lúc đáng ra phải lao động, không làm một cách hời hợt qua loa, (gọi là siêng năng hay cần mẫn). Ở mức độ cao hơn, “cần cù" đồng nghĩa với có phương pháp, có lộ trình, có đắn đo suy nghĩ, có chọn lựa nghề nghiệp, hình thái và cách làm, có sự tự tin và hăng hái trong lao động. Như chúng tôi đã nói người Phan Sinh Tại Thế hiểu lao động là một vinh dự; Hãy đọc câu đầu tiên của điều luật 16: “Anh chị em xem lao động là một ân huệ…". Vì thế, cần cù trong lao động còn có nghĩa là liên tục "hưởng ân huệ" liên tục sáng tạo và liên tục cộng tác với Chúa, để phục vụ cộng đồng nhân loại. Chúng tôi có dịp trao đổi với một vài anh chị em, họ cho rằng những người ngồi bàn giấy, hoặc đứng cửa hàng thì làm sao mà "cần cù" được? Thoạt nghe thì thấy câu hỏi rất buồn cười nhưng lại hàm chứa một ý nghĩa thời thượng: Thương gia thì mánh mung mua rẻ bán đắt, mua cân già, bán cân non, chèn ép giá người muốn bán, "chém họng" người muốn mua; Còn người "ngồi bàn giấy" thì tìm cách cài bẩy, nhào nặn ra nhiều nguyên tắc, qui định để dễ bề tham ô, vòi vĩnh, nhũng lạm; Như thế không thể gọi là "cần cù" được, và làm như vậy là lỗi đức công bằng.

Ở điều 21, Tổng Hiến Chương còn nói rõ hơn về Lao động: “Xác tín rằng làm việc là một quyền lợi và là một nghĩa vụ và tất cả mọi hình thức việc làm đều đáng tôn trọng”.

Vậy người Phan SInh Tại Thế tuân giữ điều 16 này như thế nào? Hãy đọc Tổng Hiến Chương:

21.1: "Tôn trọng tất cả mọi hình thức lao động lương thiện, đối xử công bằng giữa người làm việc trí óc với người làm việc chân tay". Dũng cảm đưa ra sáng kiến để phát huy công lư.

21.1"Dấn thân cộng tác để tất cả mọi người có thể có việc làm, và để các điều kiện làm việc luôn được nhân đạo hơn”. Ở điểm này, chúng ta thấy có liên quan đến những công việc xã hội, các việc từ thiện mà người Phan Sinh Tại Thế có rất nhiều cơ hội thực hiện hoặc cộng tác.

21.2 "Lo sao cho giữa việc làm và nghỉ ngơi có sự quân bình, và cố gắng tìm ra những hình thức giải trí có phẩm chất".

21.3 Sắp xếp thời gian cần thiết cho việc nuôi dưỡng linh hồn nữa, chứ không chỉ lo cho thân xác, chỉ lo đi làm kiếm tiền mà quên việc đạo đức thiêng liêng, nhất là ngày Chúa nhật và Lễ trọng, cũng như những dịp giao lưu, hành hương… (Còn tiếp)

â Phêrô Nguyễn Đức Tiến; sfo

 

 

Trở về mục lục >>
 

Bài 38: Ông Giuse Gặp Lại Anh Em Mình

(St 42,44)

Các anh của ông Giuse, những người này xưa đã bán Giuse làm nô lệ cho những người lái buôn, rồi đã nói dối với cha già Giacóp là Giuse đã bị súc vật giết, nay phải xuống Ai-cập để mua lúa. Lúc này đang là thời buổi đói kém (42,1-9). Họ không biết rằng Giuse, em của họ, nay là quan tể tướng giữ toàn quyền trên đất Ai-cập. Nhưng Giuse thì nhận ra anh em của mình. Phản ứng đầu tiên của Giuse làm cho chúng ta phải ngạc nhiên. Ông xem họ như là những người do thám và tống họ vào tù. Sau ba ngày Giuse mới bán lúa cho họ, nhưng bắt giữ Simêôn ở lại làm con tin. Ông đòi họ lần sau tới Ai-cập phải đưa Bengiamin, đứa con út của ông Itraen, đi theo. Trong cuộc gặp mặt lần sau, khi có Bengiamin hiện diện, Giuse lại đặt ra một cảnh ngộ khác: Một đàng ông cho họ ăn uống linh đình trước mặt ông, nhưng đàng khác ông lại cho người giấu cái chén bạc trong bao lúa của Bengiamin để có cớ giữ cậu ở lại làm nô lệ. Qua những sự phiền nhiễu này, các anh của ông Giuse nhận ra được tội lỗi của họ: ngày xưa chính họ đã gây ra đau khổ cho Giuse và cho cha già của họ. (St 42,21).

Thực ra qua những cuộc tra hỏi này, ông Giuse muốn có thêm tin tức về người cha già và nhất là thử thách xem lòng dạ các anh của ông có đổi thay hay không. Khi ông biết chắc rằng họ thực sự hối hận về tội ác ngày xưa và không còn lãnh đạm với nỗi đau của cha già (nỗi đau khi phải liều mất đứa con út là Bengiamin), thì ông mới tỏ danh tánh mình ra và tha thứ cho họ. Ông vẫn thực tình yêu mến anh em mình, chứ không có ý báo thù họ. Sau này ông vẫn tiếp tục thi ân cho họ và bảo trợ gia đình họ.

Các thánh giáo phụ về sau thường xem ông Giuse như một hình ảnh tiên báo Đức Giêsu chịu khổ nạn và tha thứ cho những kẻ đóng đinh mình. Bằng sự chết và sự sống lại, Đức Giêsu đã mang lại phúc cứu độ cho tất cả anh em đồng loại của mình.

â Lm. Norbert Nguyễn Văn Khanh, ofm

 


Trở về mục lục >>
 

Đêm Nay Chúa Vào Đời

Lạy chúa, khi mùa đông sang, như một gợi nhớ, một lời nhắc nhở chúng con rằng: "Chúa đến rồi"!

Vì yêu chúng con, Chúa đã đến trong đêm đông lạnh căm, nơi hang lừa tăm tối, giữa cánh đồng Bêlem buồn hiu hắt, không ai hay…

Người vào đời trong âm thầm lặng lẽ, trong sự thấp hèn sâu thẳm, nhưng trọn vẹn yêu thương…

Người đến để đất trời giao duyên, cho sự sáng bừng lên, cho bóng tối bị hủy diệt, cho loài người được Hồng Ân Cứu Độ…

Tuy chúng con đành tâm chối bỏ tình Người… Nhưng Người vẫn không thay đổi Thiên Ý, vẫn cứ vào đời, mặc cho nhân trần từ chối, xua đuổi hay đón nhận…

Lạy Chúa, đã bao mùa đông sang, con vẫn đi trong hờ hững, vô tình, vẫn sống theo ích kỹ, toan tính, hơn thua của riêng mình nên lòng vẫn cứ như mùa đông, như đêm đen sương tuyết giăng đầy và Chúa cứ mãi cô đơn, buồn tủi….

Và đêm nay Người lại xuống trần; Con xin dâng những khiếm khuyết của con. Để nhờ Hồng Ân Cứu Độ cho con biết canh tân chính mình. Và,

Lạy Chúa Hài Nhi đây là những ước mơ vụng dại, những tâm hồn bé nhỏ đơn sơ, những trái tim mọn hèn của chúng con xin được làm hang đá Bêlem dâng Người để Chúa vào đời không còn phải lang thang nữa.

â Maria

Trở về mục lục >>

Chia Sẻ Cùng Em

Em đến tìm tôi với gương mặt méo xẹo như cái bánh bao hấp ba ngày không ai đụng tới. Tôi ngạc nhiên về thái độ này của em vì từ xưa tới nay, em là một cô gái tự cao, tự mãn, háo thắng, không bao giờ biết buồn, biết nhường bước hay cúi đầu trước một ai.

Chưa kịp hỏi thì nước mắt đã lưng tròng. Em mếu máo nói: "Anh H đòi ly hôn với em". Tôi lại thêm một sự ngạc nhiên khác vì chồng em là người hiền hòa, tế nhị, chỉ tội ít nói thôi. Vã lại hai đứa mới cưới nhau chưa tròn "365+365" ngày mà. Tôi hỏi em lý do, em kể một hơi không cần chấm phẩy.

"Cô biết đấy! Em xinh đẹp, thành đạt, ngoại giao rộng, quen biết toàn những người danh tiếng, em không thua kém một ai. Em đi đến đâu người ta đều nể phục, ngưỡng mộ, cúi đầu… Có nhiều người đàn ông biết em đã có chồng nhưng vẫn đeo đuổi. Em rất hảnh diện về mình nhưng chồng em thì không. Đã vậy ảnh còn bảo em thay đổi công việc hoặc nghĩ việc ở nhà… Em không đồng ư vì đây là công việc mà nhiều người nằm mơ còn không thấy. Không có tiền thì làm sao có hạnh phúc. Có tiền cho bằng người cô ạ! Cô thấy không; nhà cửa và mọi thứ trong nhà một tay em lo, em không cần đến tiền lương của ảnh, vậy mà ảnh…" Tôi cắt ngang lời nói của em:

- Thường ngày em ăn cơm ở đâu? Với ai?

- Ở nhà hàng, với bạn bè, đồng nghiệp, những người làm ăn chung…

- Vậy còn chồng em?

- Có người hầu lo. Em chu đáo lắm!

- Mỗi ngày em về đền nhà mấy giờ?

- Không nhất định! Sớm lắm là bảy, tám giờ tối.

- Có khi nào vợ chồng em đi du lịch hay mua sắm với nhau không?

- Ồ! rất ít khi! Thời gian phải để dành cho công việc chứ cô.

- Tôi hiểu rồi! Tôi đã biết được một phần nguyên do đưa hạnh phúc em tới bờ vực thẳm. Thú thật tôi chẳng biết chút gì về đời sống hôn nhân, cũng không phải chuyên gia gở rối tơ tình. Nhưng nói về đôi nét làm vợ của người Công Giáo Việt Nam thì tôi xin có đôi lời chân tình chia sẻ cùng em: Vợ chồng là món quà vô giá mà Thiên Chúa đã tặng ban cho nhau. Em phải đón nhận với tất cả tấm lòng kính quý. Gia đình là tổ ấm tình yêu. Tình yêu gia đình tạo ra hạnh phúc. Tình yêu gia đình là linh dược, là sức mạnh giúp em vượt qua mọi gian khó, đau khổ trên đường đời. Người cùng em tạo ra tình yêu và đem lại hạnh phúc cho gia đình là chồng em chứ không phải nhan sắc hay những vầng hào quang sáng chói ngoài xã hội, hoặc những người đàn ông đeo đuổi em. Và tiền bạc càng không thể mua được hạnh phúc. Hãy bỏ những vầng hào quang bên ngoài trước khi bước vào nhà để tập làm người phụ nữ bình thường… Hãy dứt bỏ những tên đàn ông nhố nhăng bên ngoài, luôn chực hờ phá hoại hạnh phúc gia đình để làm người vợ tiết hạnh. Hãy để tiền bạc vào một góc nhỏ nào đó trong gia đình. Hãy làm người quản lý khôn ngoan biết tính toán, cân nhắc mọi chi phí trong nhà để tránh những chuyện không hay xảy ra. Tiền bạc không xấu nhưng nếu sử dụng bất cẩn nó sẽ thành ông chủ trong gia đình thì hậu quả khôn lường. Hãy chăm sóc chồng bằng chính đôi tay và trái tim của em. Hãy quan tâm đến công việc, hãy trân trọng những công sức của chồng. Vì đồng tiền chồng mang về dù ít hay nhiều đều thấm đẫm mồ hôi, trĩu nặng gian khó. Bữa cơm gia đình rất quan trọng. Bàn cơm là nơi họp mặt, trao đổi, chia sẻ, thư giản… Hãy làm cho nơi đó rộn vang tiếng cười.

Hơn nữa, Thiên Chúa là tình yêu. Không có Thiên Chúa, không có tình yêu. Tình yêu của chúng em đã được Thiên Chúa chúc phúc. Tình yêu tồn tại nhờ vào hồng ân Chúa. Chúa ban cho người phụ nữ Việt Nam chúng ta nhiều đức tính làm khí cụ để vun bồi cho tổ ấm. Hãy sử dụng và phát huy các nhân đức của mình bằng lời cầu nguyện. Người phụ nữ thành đạt không phải là người phụ nữ giỏi. Người phụ nữ biết làm cho gia đình hạnh phúc đó mới là người phụ nữ tuyệt vời. Em hãy nhìn vào Thánh Gia mà xem. Mẹ Maria một đời thầm lặng nhưng gia đình thật đầm ấm. Thánh gia tuy nghèo nhưng hạnh phúc biết bao. Mẹ chính là mẫu gương hoàn hảo, tuyệt mỹ cho tất cả những người phụ nữ chúng ta noi theo".

Tôi im lặng chờ phản ứng nhưng em vẫn im lặng. Đây là lần đầu thấy em im lặng và không bướng bĩnh trước lời nói của người khác. Tôi thầm mong em bớt những cao ngạo để hạnh phúc gia đình được hàn gắn. Tôi cầu nguyện cho em, và dâng gia đình em cho Thánh Gia.

Giáng Sinh năm đó thấy vợ chồng em cùng tham dự Thánh Lễ đêm. Tạ ơn Chúa. Tạ ơn Thánh Gia. Tạ ơn Đấng ban tình yêu cho nhân trần.

â Your sister

Trở về mục lục >>
 

 

Bài 2: Gia Đình Kitô Hữu

Làm chứng cho Giao Ước Vượt Qua.

1. Đọc Kinh Thánh : Ep 5.25-33

25Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Đức Ki-tô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh; 26như vậy, Người thánh hoá và thanh tẩy Hội Thánh bằng nước và lời hằng sống, 27để trước mặt Người, có một Hội Thánh xinh đẹp lộng lẫy, không tỳ ố, không vết nhăn hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền. 28Cũng thế, chồng phải yêu vợ như yêu chính thân thể mình. Yêu vợ là yêu chính mình. 29Quả vậy, có ai ghét thân xác mình bao giờ; trái lại, người ta nuôi nấng và chăm sóc thân xác mình, cũng như Đức Ki-tô nuôi nấng và chăm sóc Hội Thánh, 30vì chúng ta là bộ phận trong thân thể của Người. 31Sách Thánh có lời chép rằng: Chính vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. 32Mầu nhiệm này thật là cao cả. Tôi muốn nói về Đức Ki-tô và Hội Thánh. 33Vậy mỗi người trong anh em hãy yêu vợ như chính mình, còn vợ thì hãy kính sợ chồng.

2. Suy tư:

Đặc biệt ngày hôm nay, gia đình Kitô hữu có một ơn gọi đặc biệt là làm chứng cho Giao Ước Vượt Qua của Đức Kitô bằng cách luôn chiếu tỏa niềm vui của tình yêu và sự xác tín của niềm hy vọng mà gia đình phải trả lẽ: Gia đình Kitô hữu loan báo lớn tiếng những nhân đức hiện tại của Vương Quốc Thiên Chúa đồng thời niềm hy vọng về cuộc sống hạnh phúc tương lai.

3. Một dấu chỉ của Giao Ước Vượt Qua: Hội Thánh tuyên xưng rằng hôn nhân xét như Bí tích của Giao Ước giữa người chồng và người vợ là một "mầu nhiệm lớn", bởi vì nó diễn tả tình yêu hôn nhân của Đức Kitô đối với Hội Thánh. Thánh Phaolô viết: "Người làm chồng hãy yêu thương vợ, như chính Đức Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh; Như vậy Người thánh hóa và thanh tẩy Hội Thánh bằng nước và Lời hằng sống (Ep 5, 25-26). Thánh Tông Đồ đang nói ở đây về Bí tích Thánh Tẩy, chủ đề Ngài đề cập trong thư gởi tín hữu Rôma, khi trình bày Bí tích như một tham dự vào cái chết của Đức Kitô để tham dự vào sự sống của Người (x. Rm 6, 3-4). Trong Bí tích này, người tín hữu được sinh ra thành một con người mới, vì Bí tích Thánh Tẩy có khả năng thông truyền sự sống mới, chính sự sống của Thiên Chúa. Mầu nhiệm của Thiên Chúa làm người một cách nào đó đã được tóm lại trong biến cố chịu phép Thánh Tẩy. Như Thánh Irênê sau này sẽ nói, cùng với nhiều Giáo phụ bên Đông phương và Tây phương: "Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta, con Thiên Chúa trở nên con của con người đề con người có thể trở nên con Thiên Chúa".

4. Đức Kitô Hôn Phu của Hội Thánh: Chắc chắn đó là một cách diễn tả mới mẻ của chân lý vĩnh cửu về hôn nhân và gia đình trong Ánh sáng của Giao Ước Mới. Đức Kitô đã mạc khải chân lý nảy trong Tin Mừng qua sự hiện diện của Người tại Cana xứ Galilê. Qua hy tế Thánh giá và các Bí tích của Hội Thánh. Vì thế người chồng và người vợ khám phá trong Đức Kitô điểm quy chiếu cho tình yêu hôn nhân. Khi nói Đức Kitô là Hôn phu của Hội Thánh, Thánh Phao lô nói cách loại suy về tình yêu hôn phối, bằng cách quy chiếu về Sách Sáng Thế : "Người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt" (St 2,24). Đó là "mầu nhiệm lớn" của tình yêu vĩnh cửu đã hiện diện trong công cuộc sáng tạo được mạc khải trong Đức Kitô và được giao phó cho Hội Thánh. “Mầu nhiệm này thật cao cả". Thánh Tông Đồ nhắc lại, “và tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội Thánh" (Ep5,32). Vì thế ta không thể hiểu Hội Thánh là thân thể mầu nhiệm của Đức Kitô, dấu chỉ cho giao ước của con người với Thiên Chúa trong Đức Kitô, hoặc Bí tích phổ quát của ơn cứu độ, nếu chúng ta không quy chiếu về "mầu nhiệm lớn", trong tương quan với việc tạo dựng con người, đàn ông và đàn bà và ơn gọi của cả hai để sống tình yêu vợ chồng, để trở thành người cha và người mẹ. "Mầu nhiệm lớn" theo nghĩa là Hội Thánh và nhân loại trong Đức Kitô, không hiện hữu bên ngoài "mầu nhiệm lớn" được diễn tả qua sự kiện một xương một thịt” (x. St 2,24; Ep 5,31-32), nghĩa là trong thực tại của hôn nhân và gia đình.

5. Gia đình: một mầu nhiệm lớn. Gia đình tự nó là mầu nhiệm lớn của Thiên Chúa. Trong tư cách là "Giáo Hội tại gia", gia đình là hiền thê của Đức Kitô, Hội Thánh hoàn vũ, và mọi Giáo Hội địa phương trong Hội Thánh được bày tỏ cụ thể hơn như là hiền thê của Đức Kitô trong “Giáo Hội tại gia” và trong kinh nghiệm yêu thương của gia đình: Tình yêu vợ chồng, tình yêu của người cha, tình yêu huynh đệ, tình yêu của một cộng đoàn gồm nhiều người và nhiều thế hệ. Làm sao chúng ta có thể hình dung được tình yêu nhân lọai mà không nghĩ đến vị hôn phu và tình yêu của Người, Người yêu cho đến cùng? chỉ khi người chồng và người vợ tham dự vào tình yêu và "mầu nhiệm lớn" ấy, họ mới có thể yêu "đến cùng". Nếu không tham dự vào đó, họ không thể biết tình yêu đích thực “cho đến cùng" là gì và những đòi hỏi của nó thì triệt để làm sao.

6. Trao đổi:

a. Tại sao trong đời sống hôn nhân, các đôi vợ chồng làm chứng cho mầu nhiệm của Giao Ước Vượt Qua giữa Đức Kitô và Hội Thánh?

b. Một sự đáp trả đầy yêu thương với Đức Kitô được thể hiện trong gia đình chúng ta như thế nào?

(Trích Tại liệu của Hội Đồng Giáo Hoàng về Gia Đình)

â Lm. Irênê Nguyễn Thanh Minh, ofm

 

 

Trở về mục lục >>

 

VẦN THƠ TÂM TÌNH

‘Thương’ Chúa Hài Nhi

Hài Nhi yêu kính của con ơi!

Cớ sao Người từ bỏ Ngai Trời,

Hạ mình xuống nơi tù đày tội lỗi,

Trong đêm đông khuya vắng lạnh băng?

Hỡi trần gian, ai có thấu hay chăng?

Gió mùa đông làm rách da Người.

Người lạnh lẽo trong hang lừa tăm tối,

Cỏ rơm khô sao đủ ấm Chúa tôi!

Người nằm đó phận Hài Nhi yếu đuối,

Khóc chào đời, nhân thế có ai hay?

Mặc sương rơi, mặc tăm tối bủa vây,

Cha với Mẹ nhìn con lòng se sắt.

Con hoài niệm nghe lòng đau quặn thắt,

Máng cỏ kia giường của Chúa Hài Nhi.

Bêlem đây, nơi Chúa chọn chào đời,

Hang đá ấy, chính là nhà Chúa ngự.

Lạy Thiên Chúa dâng Ngài giòng tâm sự.

Con thật nghèo nhưng Chúa lại nghèo hơn.

Biết lấy chi mà đền đáp muôn ơn,

Bởi tình Chúa địa cầu khôn sánh nổi.

Tình Chúa đẹp, như mặt trời lấp lánh

Tình con thơ, như giọt nắng không hơn…

â Mục Đồng

Nguồn Gốc Hang Đá Giáng Sinh

Để đón mừng Chúa Giáng sinh, Thánh Phanxicô đã cho dựng lại cảnh máng cỏ trong một hang đá nằm trên một ngọn đồi ở làng Greccio, nước Ý. Một số người nói rằng có một phép lạ xảy ra, đó là chính Chúa Hài đồng đã hiện thành người thật - nhưng thật ra phép lạ thực sự là chính Thánh Phanxicô trước hết đã khám phá và hiểu được lòng khiêm hạ của Ngôi Hai Thiên Chúa qua sự nhập thể của Ngài.

Chỉ còn 15 ngày nữa là đến Lễ Giáng sinh. Thánh Phanxicô đang sống ẩn dật tại làng Fonte Columbo, nước Ý. Ngài mới ở Rome về. Đây là lần cuối ở Rome để xin Đức Giáo Hoàng phê chuẩn luật dòng trước khi ngài qua đời sau 3 năm tiếp đó. Một khoảng thời gian ngắn đầy đau đớn của thể xác, và cả sự đau đớn của 5 dấu thánh mà Chúa ban cho.

Ngài tự hỏi làm thế nào để đón mừng lễ Giáng sinh đây? Ngài nhớ lại chuyến viếng thăm Đất Thánh ở Bêlem. Có nên dựng lại cảnh Chúa nằm trên máng cỏ không? Tại sao không? Những câu hỏi đó hiện ra trong đầu Ngài.

Thế là ngài bắt đầu tiến hành. Có một hang đá ở làng Greccio... Thánh Phanxicô có một người bạn rất tốt. Ông ta tên là Giovanni Vellita mà ngài đã gặp trên đường đi rao giảng. Giovanni là một người trong quân đội, lãnh chúa của làng Greccio, Giovanni đã được thuyết phục bởi những lời rao giảng của thánh Phanxicô, đã từ bỏ những vinh hoa của trần thế và cố gắng bắt chước sống một đời sống như thánh Phanxicô. Tin vào tình bạn, Thánh Phanxicô nói với Giovanni rằng: "Nếu anh muốn mừng Lễ Chúa Giáng sinh tại Greccio, hãy mau chuẩn bị kỹ lưỡng điều tôi sắp nói cho anh nghe đây. Đó là tôi muốn nhắc lại kỷ niệm Hài nhi sinh ra ở Bêlem. Tôi muốn thấy trước con mắt trần thế của mình những khó khăn của Hài nhi khi sinh ra, nằm trên máng cỏ, với những con bò lừa đứng bên cạnh..." Thế là Giovanni tức khắc bắt đầu tiến hành. Những người khác chuẩn bị đuốc và đèn cầy để thắp sáng ban đêm. Máng cỏ được chuẩn bị trong hang đá. Người ta cũng mang bò lừa vào trong hang. Khi Phanxicô đến nơi, ngài rất là vui mừng.

Đêm trọng đại đã đến. Người ta bắt đầu rước kiệu, họ mang theo đuốc và đèn cầy. Những lời ca tiếng hát vang cả khu rừng trên ngọn đồi. Họ đã khám phá lại niềm vui thời niên thiếu. (Ngày nay tại làng Greccio, người ta có thể còn nhìn thấy tảng đá - khoảng 3 feet chiều cao và 2 feet chiều rộng – trên đó được che phủ bằng cỏ tranh. Mặt trên tảng đá và chân tảng đá mang một màu xám nâu với một lằn xám ở giữa tảng đá. Mặt tảng đá có một đường trũng hình chữ V hơi sần sùi. Nơi đây ngày trước một tượng gỗ khắc hình Hài nhi được đặt trên tảng đá này. Ngày nay người ta không còn nhìn thấy tượng thánh Giuse và Mẹ Maria, ngoại trừ hình 2 con bò và lừa.)

Khi dân làng và các tu sĩ họp lại đông đảo chung quanh hang đá, một linh mục bắt đầu cử hành thánh lễ. Thánh Phanxicô đã giảng thuyết cho mọi người. Người viết lại bút tích Thánh Phanxicô là thầy Thomas Celano cùng thời có nói: "Đấng Thánh (Phanxicô) của Thiên Chúa đứng trước máng cỏ thở mạnh, lòng tràn ngập tình yêu với một niềm sung sướng tuyệt vời… Người hát một đoạn Tin Mừng với một giọng hát vang vọng, trong sáng như mời gọi mọi người đến nhận những phần thưởng cao quí nhất. Tiếp đến người giảng cho mọi người đang đứng đó và nói lên những lời rất lôi cuốn liên quan đến sự sinh ra của một vị Vua nghèo khó tại một làng nhỏ ở Bethlehem… Khi ngài nói đến chữ "Hài nhi Bêlem" hoặc là "Giêsu", ngài liếm môi để thưởng thức vị ngọt của những chữ này mang lại.

Những lời tường thuật không nói đến hài nhi nằm trên máng cỏ là người thật hay chỉ là một hình tượng bằng gỗ. Có lẽ là hình tượng, bởi vì theo tài liệu ít nhất là một người trong dân chúng đã "nhìn thấy hài nhi trở nên sống động".

Việc diễn lại ở đây cảnh Chúa Giêsu sinh ra một cách sống động không phải là lần đầu tiên. Tuy nhiên thánh Phanxicô đã đưa ra một cái nhìn sâu xa hơn qua hình ảnh máng cỏ khác với cách chúng ta nhìn thấy trong thời đại này. Như đã nói ở trên, thánh Phanxicô muốn cho dân làng lúc đó thấy Chúa Giêsu lúc sinh ra đã chịu nhiều sự khó khăn của một hài nhi. Người nhìn thấy Hài nhi bị tước mất sự vinh quang của Đấng Ngôi Hai Thiên Chúa, được sinh ra bởi một người mẹ hiền dịu nhưng vẫn phải bị đưa vào một thế giới đầy thù hận và chống đối.

Thánh Phanxicô muốn nhận thức và giúp dân làng nhận thức một cách chính xác những gì Thiên Chúa đã làm cho dân Người và "đã chọn sự nghèo khó như thế nào vì chúng ta". Chính bản thân thánh Phanxicô trước đó đã chọn sự nghèo khó đắng cay để sống bên lề xã hội, không có của cải hoặc một sự an ninh cho mình. Ngài nhìn thấy Con Thiên Chúa tự đặt mình bên lề thần tính để mặc lấy nhân tính.

Ngài nhìn thấy một con người thật Giêsu, chứ không phải một thần thánh đang ẩn náu đằng sau một gương mặt xác thịt huyền ảo. Lòng khiêm hạ của Đấng Nhập thể và Thánh giá là mối ám ảnh thường xuyên của ngài. Ngài không muốn nghĩ ngợi gì khác ngoài Bêlem và đồi Calvary.

Cuộc sống của thánh Phanxicô, bấy giờ đặt trọng tâm vào đức nghèo khó và khiêm hạ. Ngài nói với các anh em tu sĩ của ngài đừng xấu hổ khi đi xin ăn, "vì chính Thiên Chúa đã trở nên nghèo vì chúng ta… Đức nghèo là gia tài mà Chúa Giêsu Kitô đã để lại cho chúng ta".

Thầy Thomas Celano kể lại "Ngài thường suy niệm về sự khổ đau của Chúa Kitô và Mẹ Thánh với những hàng nước mắt, và ngài luôn xác quyết rằng đức nghèo là "nữ vương" của các nhân đức, khi mà đức nghèo đã được tỏ lộ sáng chói qua vị Vua trời đất và Mẹ Người".

Tình yêu và lòng thương cảm của thánh Phanxicô về mầu nhiệm thương khó của Đức Kitô quá sâu đậm đến nỗi người không còn để ý đến nỗi đau trên thân thể của chính mình. Một năm sau ngày diễn lại cảnh máng cỏ Giáng sinh, thánh Phanxicô cảm nhận được mầu nhiệm thương khó của Đức Kitô qua 5 dấu thánh trên thân thể của người.

Trước thời của thánh Phanxicô, vào thế kỷ thứ 5, Vương cung thánh đường Đức Bà Cả ở Roma có một nhà nguyện được xây cất giống như hang đá ở Bêlem. Vương cung thánh đường này có có tên gọi khác là "Đức Bà cạnh máng cỏ". Thánh lễ Giáng sinh đầu tiên của Đức Giáo hoàng được cử hành tại đây.

Có lẽ các vở kịch về Giáng sinh bắt chước các vở kịch trong lễ Phục sinh được phát triển vào thế kỷ thứ 11. Và vào thế kỷ trước thời thánh Phanxicô, các giáo sĩ ăn mặc giống như "Ba Vua" trong lễ Giáng sinh, các chú chăn cừu và những vai khác trong các câu chuyện Giáng sinh. Những vở kịch Giáng sinh cũng có mặt các thú vật bò lừa sống. Nhưng đối với thánh Phanxicô, ngài làm cho giáo hội công giáo thích thú bằng việc diễn lại cảnh giáng sinh qua hang đá và máng cỏ với nét đơn sơ và nhiệt thành. Sau khi thánh Phanxicô qua đời năm 1226, tục lệ làm máng cỏ vào lễ Giáng sinh đã lan rộng khắp Âu châu.

Sau năm 1600, tục lệ làm máng cỏ trở nên thông dụng của người công giáo ở Âu châu. Đó là nhờ công của các tu sĩ dòng Phanxicô thuộc nhánh "Lúp dài" (Capuchins). Trước thời kỳ Phục hưng (Pre-Reformation) ở bên Anh, vào lễ Giáng sinh người ta có tục lệ làm một loại bánh patê (mince pie) nắn theo hình máng cỏ để có thể đặt hình Hài nhi lên đó. Người Anh theo phái Tin lành (Puritans) chống đối tục lệ đó, vì họ không đón mừng lễ Giáng sinh.

Ngày nay, nếu nhìn thấy những hang đá Giáng sinh thật lộng lẫy với hoa đèn, thánh Phanxicô chắc phải mỉm cười. Tuy vậy, chắc ngài cũng chúc lành cho nhà nào có hang đá Giáng sinh. Có lẽ ngài thích những máng cỏ được xếp đặt ở ngoài trời bên cạnh có các bò lừa sống thật. Và nếu ngày hôm nay ngài đứng bên cạnh một máng cỏ và rao giảng, ngài có thể nói những lời như sau: "Các con hãy nhìn cho kỹ cảnh hang đá Giáng sinh êm đềm này. Hãy nhìn Thiên Chúa trở nên của ăn đời đời trong một nơi chốn của bò lừa ăn. Hãy nhìn những chú mục đồng ăn mặc đơn sơ không lộng lẫy đang đứng bên cạnh Hài nhi nhỏ bé. Hãy nhìn Đức Mẹ, thánh Giuse mặc y phục của những người nghèo. Hãy nhìn và ngửi mùi bò lừa đang đứng gần đó. Hãy cảm nhận lấy cái lạnh lẽo và dơ dáy của hang đá chỉ được thắp sáng bằng một ngọn lửa yếu ớt. Và các con hãy đến thờ lạy Thiên Chúa của các con, Đấng đã mang lấy trái tim con người với lòng yêu thương vĩ đại nhất và cũng mang một niềm đau lớn nhất khi chịu chết cho nhân loại, với cánh tay ôm lấy người tội lỗi, người điên, người cùi và với bàn tay chạm đến những khuôn mặt đau khổ đầy nước mắt và cuối cùng Thiên Chúa bị đâm thâu bởi những chiếc đinh nhọn trên thánh giá. Các con hãy thờ lạy Đấng Thiên Chúa nghèo hèn và khiêm hạ nơi máng cỏ Giáng Sinh."

â Bùi quang Thạch sưu tầm

Để Tình Yêu Nên Trọn

Lời Tâm Sự Thứ 3

Áo Nâu; Anh thân yêu!

Giáng sinh đến, người người đều cảm thấy vui, dù là người công giáo, người lương hoặc vô thần ai ai cũng hân hoan. Tại sân các Thánh đường diễn ra “lễ ngoài trời" rất long trọng, với mục đích giới thiệu Chúa đến với mọi người bất kể ở khu vực tín ngưỡng hay vô tín ngưỡng; Rồi hoa đèn, trống kèn, hát múa, reveillon, tiệc tùng, chúc mừng nhau câu bất hủ "Vinh danh Thiên Chúa trên trời, Bình an dười thế cho người lòng ngay". Các em nhỏ thì nhảy mừng vì nhận được những món quà từ Ông già Noel bí mật hoặc công khai trao tặng. Vui thật là vui! Nhưng chỉ có thế thôi sao! Có lẽ nhiều người thấy không có gì lạ lùng hơn phải không Anh? Nhưng em thì lại thấy có nhiều bất ngờ Anh ạ: Từ nhiều năm nay, chưa có đêm giáng sinh nào mà em không khóc. Khóc vì cảm thấy mình bất lực trong việc tạo bình an cho chồng con và hàng xóm, có khi khóc vị bị hất hủi hành hạ. Cũng có lúc khóc vì cảm nhận được hạnh phúc tới dập dồn. Em là đứa mu khóc mà! Nhưng em nghĩ em cũng chỉ là người, mà con người thì đầy dẫy khiếm khuyết. Em cũng gây nhiều bất ngờ như Chúa, chỉ khác Chúa ở ư nghĩa của những bất ngờ mà thôi. Em cảm nhận rằng Lễ giáng sinh gây quá nhiều bất ngờ. Bất ngờ ở chỗ một vị Thiên Chúa lại hạ sinh trong hang bò lừa (!), bất ngờ ở chỗ người hèn mọn nhất: Mấy chú mục đồng ấy; Lại là người đầu tiên đón nhận Tin Mừng. Bất ngờ vì kẻ thông mình địa phương lại không nhận ra Chúa, mà phải chờ mấy vị đạo sĩ từ xa đến. Có lúc em nghĩ mình cũng mù quáng như mấy nhà cầm quyền và mấy thầy luật sĩ tư tế Lêvi, chẳng chịu nhận Chúa. Trong cảnh bần hàn cùng cực ấy chỉ có mấy chú mục đồng, và mấy chú chiên lừa sưởi ấm da thịt Chúa. Đó là của lễ bé mọn, nhưng làm đẹp lòng Chúa hơn cả. Còn em thì sao?

Anh ạ, em nhớ một chuyện vặt kể cho Anh nghe nhé: Một mùa Giáng sinh trước đây, sau khi làm máng cỏ xong, em cảm thấy thật hạnh phúc. Khi đó em nhận thấy Chúa Giêsu nhìn em âu yếm và mĩm cười. Ánh mắt Chúa bao dung lung linh như vì sao mà chưa hề có ai nhìn em như thế, ngẫu hứng em vội dựa vào cung giọng của nhạc sĩ Cao Huy Hoàng, cất tiếng hát 2 câu thơ của em, ghép vào câu hát của chính tác giả: Con vui lắm, hoa Tình Yêu đã nở; Nguyện cả đời sống trọn nghĩa Tình Yêu". "Vì ngoài Chúa ra có nơi nào hạnh phúc? Ngoài Chúa ra có nơi nào bình yên." (Thánh Ca Thuộc về Chúa).

Chúa nghèo như thế, làm sao mà tạo hạnh phúc cho ai? Chúa hèn hạ như thế, tạo bình an cho ai được? Nhưng cái nghèo mà Chúa đang gánh chịu, lại nhắc em nghĩ đến căn nhà dột nát ngả nghiêng của gia đình em, rồi em cũng nghĩ về cuộc sống xa hoa tráng lệ trong các dinh thự cung đình, Em nhớ có nhà văn hào nào đó đã viết: "Quyền lực, nhan sắc, bạc tiền chẳng thêm một chút nào cho hạnh phúc, vì luôn có những âm mưu…" Còn Cha Thánh Phanxicô, từ trên đỉnh của giàu sang, đã tự nguyện từ bỏ để sống cuộc đời hành khất, với một sự bình an tuyệt đối, với một “niềm vui hoàn toàn". Ấy thế, nên Ngài được gắn với “cây đàn" (x.Cây đàn của Thánh Phanxicô của Cha Duy Ân Mai). Em cảm nhận rằng mỗi người trong chúng ta là một nghệ sĩ, điều quan trọng là nghệ sĩ ấy có biết điều chỉnh dây đàn sao cho âm sắc hài hòa, âm lượng vừa đủ, ngân lên tiếng bổng tiếng trầm, tiếng nhặt tiếng khoan, để bản nhạc đạt được du dương thánh thoát, làm vui lòng người nghe, đem lại ấm áp vui tươi bình an cho tâm hồn thính giả.

Vậy chiều nay anh em mình làm hang đá đi Anh. Hai Anh em mình sẽ bổ sung cho nhau, biến cung lòng mình thành Hang Đá: Anh là sứ giả hòa binh, là kho bác ái vô tận; Em theo Anh trải rộng tình yêu ấy ra cho mọi người, bất kỳ ai. Cung lòng ta là Hang đá để làm nơi Chúa hạ sinh, là hang đá ôm ấp tấm lòng những "chú chăn chiên" hèn mọn. Em mong là một hang đá đặc biệt đón nhận và giới thiệu Chúa với mọi người, làm vui lòng mọi người, tạo hạnh phúc cho mọi người. Em mong lòng mình thành một hang đá lấp lánh những ngôi sao, một điểm du lịch Thánh sử. Khi đó Anh là hướng dẫn viên, thuyết mình cho du khách, cầm đèn soi đường cho du khách và nhất là củng cố lòng tin cho du khách. Không chỉ trong đêm Giáng sinh, mà là suốt tháng năm ngày giờ chúng ta còn bên nhau. Đêm An bình, Đêm ơn lành! Em mơ ước trở thành người đem tin vui, đem hạnh phúc đến với anh chị em quanh mình và tất cả mọi người.

Trời gần sáng rồi Anh ạ, Ngày mai hang đá ngoài trời phải xong, hang đá trong lòng phải thật đẹp. Xin Anh giúp em, để Tình Yêu nên trọn vẹn nhé Anh.

â Kim Gương

Giáng Sinh Xưa, Nay, Và Những Trăm Năm Sau

Sáng nay trở dậy trong cái lạnh cóng người bủa vây mới sực nhớ ra: Gió bấc đã về từ mấy hôm trước và mùa Đông luôn đi đôi cùng gió bấc. Đã vậy, đêm mùa Đông càng lạnh hơn.

Tôi có thói quen khi thành phố im ắng, mọi tất bật ồn ào của ngày chìm sâu trong đêm mới đọc kinh tối; Và sau giờ kinh tối là nghe nhạc vài phút rồi mới đi ngủ. Đêm nay lạnh quá! Ngồi trong phòng, đóng kín các cửa, mặc thêm chiếc áo ấm, quấn tròn mình trong chiếc chăn ấm như con kén mà vẫn co ro bên trang Phúc Âm đang mở với cái lạnh cứ xồng xộc xông vào và len lõi đến tận tâm hồn khiến tâm trí lơ đểnh cho giờ kinh không tròn. Tôi mở nhạc, giọng ca khàn trầm nhừa nhựa của Khánh Ly buồn bã cất lên: "Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời, Chúa sinh ra đời nằm trong hang đá nơi máng lừa”. Tôi tắt máy bởi lời ca ấy như dao sắc xoáy vào tâm hồn. Nước mắt tôi chực trào ra khi nghĩ đến cảnh giáng sinh của Chúa. Giờ này, tôi, một con người với thân xác to kềnh, có nhà cửa, có phòng riêng, có áo ấm, chăn êm, vẫn không chịu được cái lạnh, vậy mà Chúa tôi, Một Trẻ Thơ lại chào đời trong cảnh nghèo hèn nhất, cô độc nhất, lạnh lẽo nhất. Tôi nhắm mắt thả hồn về Bêlem. Tôi hồi niệm ngày Chúa vào đời, tôi suy niệm Tình Yêu Giáng Sinh, nhưng với lòng trí hẹp hòi của một tạo vật ngu xuẩn như tôi, đến muôn đời vẫn không thể nào suy cho thấu, hiểu cho cùng, viết cho cạn tình Chúa yêu nhân trần đến bao la, vô bờ bến… Nhưng có một điều tôi hiểu rất rõ: Trái tim của loài người từ thưở ấy đã bị đồng tiền ngự trị, nên nhịp đập không vang tiếng yêu thương, khiến tâm hồn lạnh băng như sương tuyết, cho tội lỗi phủ lấp cuộc đời, nên loài người mới đành tâm chối bỏ tình Chúa để ngài phải cô đơn khi xuống đời…

Tôi trở về thực tại bởi những âm thanh bất thường khuấy động trong đêm và khuấy động tâm hồn. Tiếng máy xe của lũ trẻ ăn chơi rú lên ầm ĩ vụt qua. Tiếng bước chân đêm lặng lẽ, vội vả của người thiếu phụ cô độc bên hang xóm. Tiếng quát tháo của người chồng say xỉn, giọng nghẹn ngào đầy nước mắt của người vợ vang lên… Tất cả những âm thanh ấy như những lời than thở, như tiếng ru buồn của những tâm hồn khắc khoải, lạc loài trong đêm không tìm ra lối thoát. Tôi vẫn ngồi co ro buồn thiu bên trang Kinh Thánh dang d&