BẢN LUẬT CỦA D̉NG PHAN SINH TẠI THẾ
(The Rule of the Secular Franciscan Order)
Bản Luật của Ḍng Phan Sinh Tại Thế được h́nh thành qua
nhiều giai đoạn để thích nghi với hoàn cảnh lịch sử như sau:
Bản Luật Tiên Khởi Hay c̣n gọi là “Thư Gởi Các Tín Hữu”;
Trong đó Thánh Phanxicô chỉ vạch ra những nét đại cương về đời sống thiêng
liêng dựa trên Thánh Kinh chứ chưa có những qui định
pháp chế.
Bản Luật 1221 C̣n gọi là Dự Phóng Đời Sống, hay Kư Ức
Luật (Memoriale Proposition). Nhờ Đức
Hồng Y Hugôlinô, vị bảo trợ ḍng Anh
Em Hèn Mọn hướng dẫn, Thánh Phanxicô đă soạn thảo và
đệ tŕnh bản Luật này
lên Đức Giáo Hoàng Innôcentê. Nội dung Bản Luật này cũng chỉ chú trọng đến
tinh thần và nếp sống của anh chị em Ḍng Đền Tội (Oder de Pnitentia) chứ
không chú trọng về khía
cạnh luật lệ.
Bản Luật 1289 Đức Giáo Hoàng Nicolas IV (thuộc ḍng
Phan Sinh) đă thành lập một ủy ban xem xét,
sửa chữa và bổ túc thêm một số
điều khoản cho Bản Luật 1221.
Bản Luật 1883 Đức Giáo Hoàng Lêô XIII cho soạn một bản
Luật khác dựa trên hai bản 1221 và 1289 để thích nghi với hoàn cảnh thực tế
và thống nhất Ḍng Phan Sinh Tại Thế, cũng như hướng Ḍng về những hoạt động
xă hội.
Bản Luật hiện hành Bản Luật hiện hành đă do ba nhánh
Ḍng Nhất và Ḍng Ba Tại Viện soạn thảo trong ṿng mười năm, và Đức Giáo
Hoàng Phaolô VI đă phê chuẩn Bản Luật Mới của Ḍng Phan Sinh
Tại Thế vào
ngày 24. 06.1978.
... Sau khi tham khảo ư kiến với Thánh Bộ Tu Sĩ và Tu
Hội Triều để cân nhắc chín chắn mọi sự. Với sự hiểu biết chắc chắn và suy
nghĩ kỹ càng, và với tất cả quyền hành của các tông đồ để lại; Do văn thư
này, chúng tôi chấp nhận và phê chuẩn Luật Ḍng Phan Sinh Tại Thế và ban cho
bản Luật này có hiệu lực do sự thừa nhận của Toà Thánh, miễn là bản Luật ấy
phù hợp với bản được lưu giữ tại Văn khố của Thánh Bộ Tu sĩ và Tu Hội Triều,
được bắt đầu bằng các chữ: “Inter Spirituales familias”, và kết thúc bằng
các chữ “Ad normam constitutionum patenda”. Đồng thời, do văn thư này và do
quyền của chúng tôi, chúng tôi băi bỏ bản luật trước kia gọi là Luật Ḍng Ba
Phanxicô Tại Thế. Chúng tôi tuyên bố văn thư này thành nhất định và có tất
cả hiệu lực bây giờ và sau này. Mọi điều ngược với văn thư này đều không có
giá trị.
Ban hành tại Rôma, cạnh Đền Thờ Thánh Phêrô với dấu ấn
“Người đánh cá”
Ngày 24 tháng 6 năm 1978, Năm thứ 16 của Triều đại của
chúng tôi.
Hồng Y Gioan Villot
Quốc Vụ Khanh
Văn pḥng Quốc vụ khanh
Hồ sơ số: 352241
Gửi anh chị em Ḍng Phan Sinh Tại Thế, nhân ngày trao
Bản Luật đă được Toà Thánh phê chuẩn.
Chúng tôi vui mừng thông báo cho anh chị em biết rằng
Ṭa Thánh đă phê chuẩn Bản Luật canh tân của Ḍng Phan Sinh Tại Thế qua Tông
Thư “Seraphicus Patriarcha” đề ngày 24-6-1978 với dấu ấn “Người Đánh Cá”.
Bản luật này băi bỏ và thay thế bản luật trước kia của Đức Giáo hoàng Lêô
XIII.
... Chúng tôi vui mừng trao Bản Luật đă được canh tân
của Ḍng Phan Sinh Tại thế cho Ban Chủ Tịch Hội Đồng Quốc tế Ḍng Phan Sinh
Tại Thế (SFO), và qua ban này, cho hết thảy các anh chị em phan sinh tại thế,
để anh chị em nhận lấy làm mẹo mực và đời sống.
Rôma, ngày 4-10-1978
Fr. Constantinus KOSER, OFM
Fr. Vitalio BOMMARCO, OFM Conv.
Fr. Paschalis RYWALSKI, OFM Cap.
Fr. Rolandus FALEY, TOR.
LUẬT D̉NG PHAN SINH TẠI THẾ
Phần Mở Đầu LỜI KHUYÊN BẢO CỦA THÁNH PHỤ PHANXICÔ GỬI
ANH CHỊ EM QUI THIỆN
(Trích thơ thánh Phanxicô gửi các tín hữu, đoạn XI,
XII)
Nhân Danh Chúa,
Những ai cải thiện đời sống:
Tất cả những ai kính mến Thiên Chúa hết ḷng, hết linh
hồn, hết trí khôn, hết sức ḿnh (Mc 12: 30) và yêu thương tha nhân như chính
ḿnh (Mt 22: 39), chê ghét thân xác ḿnh cùng với thói xấu và tội lỗi, và
rước lấy Ḿnh và Máu Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, và sinh hoa quả đền tội
xứng đáng: những anh chị em nào làm như thế và bền đỗ đến cùng th́ hạnh phúc
biết bao, v́ Thánh Thần của Chúa sẽ ngự xuống trên họ (Is 11: 2) và làm nhà
trú ngụ trong họ (Yn 14: 23) và họ là con cái của Cha trên trời (Mt 5: 45),
họ làm việc của Người và họ là bạn trăm năm, là anh em, là mẹ của Đức Giêsu
Kitô, Chúa chúng ta (Mt 12: 50). Chúng ta là bạn trăm năm của Người, khi
linh hồn trung tín được Chúa Thánh Thần liên kết vớiĐức Giêsu Kitô, Chúa
chúng ta. Chúng ta là anh em của Người khi chúng ta thi hành ư Cha trên trời
(Mt 12: 50) là mẹ khi chúng ta lấy ḷng kính mến Chúa và lương tâm trong
trắng và thành thật mà cưu mangNgười trong ḷng và thể xác chúng ta (I Cor
6: 20), chúng ta sinh hạ Người bằng những hành động thánh thiện nêu gương
sáng cho kẻ khác (Mt 5: 16).
Ôi vinh quang dường bao khi có được một người Cha
thánh thiện và cao cả như thế ở trên trời! Ôi lành thánh biết bao khi có
được một người bạn trăm năm là Đấng phù trợ, xinh đẹp và đáng cảm phục như
thế! Ôi lành thánh và yêu quư biết bao khi có được một người Anh và một
người Con rất đáng yêu mến khiêm hạ, hiếu hoà, hiền từ, khả ái, và đáng ước
ao trên hết mọi sự, tức là Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, Đấng đă hiến mạng
sống ḿnh cho đoàn chiên (Yn 10: 15) và đă cầu cùng Đức Chúa Cha rằng: “Lạy
Cha chí thánh, xin ǵn giữ trong danh Cha (Yn 17: 11) những kẻ mà Cha đă ban
cho Con ở thế gian; họ là của Cha và Cha đă ban họ cho Con (Yn 17: 6), và
những lời mà Cha đă ban cho Con, Con đă ban lại cho họ; họ đă chấp nhận và
đă thành tâm tin rằng: Cha đă sai Con đến (Yn 17: 8), Con cầu nguyện cho họ.
Con không cầu nguyện cho thế gian (Yn 17: 9). Xin Cha chúc lành và thánh hoá
họ (Yn 17: 17), và v́ họ, Con đă hiến dâng chính ḿnh Con (Yn 17: 19). Con
không chỉ cầu xin cho họ mà thôi, nhưng Con cầu cho hết thảy những ai nhờ
lời họ mà sẽ tin vào Con (Yn 17: 20). Để họ được thánh hoá trong sự hiệp
nhất (Yn 17: 23) như chúng ta vậy (Yn 17: 11). Và lạy Cha, Con muốn rằng hễ
Con ở đâu th́ họ cũng ở đó với Con, để họ được nh́n thấy vinh quang của Con
(Yn 17: 24) trong nước Cha (Mt 20: 21). Amen.
Những ai không cải thiện đời sống:
Hết thảy anh chị em không cải thiện đời sống, không
rước lấy Ḿnh và Máu Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, sống trong thói hư tội
lỗi, buông theo nhục dục bất hảo và những ước muốn xấu xa của xác thịt và
những băn khoăn lo lắng trần thế, cùng các công chuyện đời này. Họ là những
người nô lệ ma quỷ, là con cái ma quỷ và làm việc của chúng (Yn 8: 41). Họ
mù quáng v́ không nhận thấy ánh sáng thật là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.
Họ không có sự khôn ngoan thiêng liêng v́ họ không có Con Thiên Chúa là sự
khôn ngoan chân thật của Chúa Cha, và đă có lời viết về họ rằng: “Sự khôn
ngoan của chúng đă biến đâu mất” (Tv 106: 27) và “khốn cho ai ĺa bỏ giới
răn Ngài” (Tv 118: 21).
Họ thấy và nhận ra sự dữ, họ biết và họ làm sự dữ và
chính họ cố t́nh làm mất linh hồn ḿnh. Hăy xem, hỡi những kẻ mù quáng bị
địch thù ḿnh là xác thịt, thế gian và ma quỷ lường gạt: bởi v́ thân xác lấy
sự phạm tội làm ngọt ngào và việc phụng sự Thiên Chúa làm cay đắng, bởi v́
mọi thói hư và tội lỗi đều bởi ḷng người mà xuất phát ra như Lời Chúa nói
trong Phúc âm (Mt 7: 21). Và anh chị em chẳng có ǵ ở đời này và đời sau, và
anh chị em nghĩ rằng ḿnh giữ được lâu dài những của phù phiếm đời này,
nhưng anh chị em lầm v́ ngày giờ mà anh chị em không nghĩ tới, không ngờ và
không hay biết, sẽ đến, thể xác yếu liệt, cái chết gần kề và thế là người ta
chết cách cay đắng. Và hễ ai chết bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào, và bất cứ
cách nào khi mắc tội trọng mà chưa ăn năn sám hối đền bù, nếu có thể đền bù,
th́ ma quỉ cướp lấy linh hồn khỏi xác kẻ ấy cách đau đớn, khổ sở đến nỗi
không ai biết được, ngoài kẻ đă chịu điều ấy. Và mọi tài năng và quyền thế,
hiểu biết và khôn ngoan (II Kư sự 1: 12) mà họ tưởng ḿnh có, đều bị tước
mất (Lc 8: 18; Mc 4: 25). Họ để lại tài sản cho thân thích bạn bè, và những
người này đă lấy mà chia nhau rồi sau đó c̣n nói: “Khốn cho linh hồn nó, bởi
v́ nó c̣n có thể cho chúng ta nhiều hơn và kiếm được nhiều của hơn mà nó
chẳng kiếm”. Sâu bọ rúc rỉa thể xác; và như thế, họ mất cả hồn lẫn xác ở đời
ngắn ngủi này và sa hỏa ngục, nơi đây họ sẽ chịu cực h́nh măi măi.
Trong t́nh yêu là Thiên Chúa, tôi xin hết thảy những ai
bắt được thư này, hăy sẵn sàng đón nhận với ḷng kính mến Thiên Chúa những
lời thơm tho trên đây của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Và những ai không
biết đọc, hăy năng nhờ kẻ khác đọc cho nghe, và hăy ghi tạc các lời ấy vào
ḷng và đem ra thực hành một cách lành thánh cho đến cùng, v́ các lời ấy là
Thần Khí và là sự sống (Yn 6: 64). C̣n những ai không làm như thế, sẽ phải
trả lẽ trong ngày phán xét (Mt 12: 36) trước toà Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng
ta (Rôma 14: 10)
K. Esser, Opuscula S. Patris FrancisciEditiones
Collegii S. Bonay. ad Claras Aquas Grotta-ferreta.
Trong số các gia đ́nh thiêng liêng do Chúa
Thánh Thần khởi xướng trong Giáo Hội (Hiến
chế tín lư về Giáo Hội #43), gia đ́nh Phan
Sinh qui tụ hết thảy mọi thành phần Dân Thiên Chúa: giáo dân, tu sĩ và linh mục, là những
người nhận thấy được mời gọi nối gót Đức Kitô theo vết chân thánh Phanxicô Assisi (Đức
Piô XII: Huấn từ cho các Anh Chị Em Ḍng Ba, 1-7-1956). Bằng những cung cách và h́nh thức
khác nhau, nhưng luôn hiệp thông hỗ tương cốt thiết, họ muốn làm sống lại đặc sủng của
thánh Phanxicô Assisi trong đời sống và sứ mạng của Giáo Hội hôm nay.(Vaticanô II: Sắc lệnh
Tông đồ giáo dân, # 4)
Trong Gia đ́nh Phan sinh nói trên, Ḍng Phan Sinh Tại
thế có một vị trí riêng biệt. Ḍng này biểu hiện như một một tổ chức chặt chẽ, gồm các
đoàn, các nhóm Công giáo trên khắp hoàn cầu, trong đó anh chị em qua lời tuyên khấn, tự
buộc ḿnh sống Phúc âm theo cách thức thánh Phanxicô Assisi, nhờ sự hỗ trợ của Luật Ḍng
này (Giáo Luật, # 303) đă được Giáo Hội công nhận. Dưới sự thúc đẩy của Chúa Thánh
Linh, họ cố gắng đạt tới đức Ái trọn hảo qua việc chu toàn các bổn phận trần thế của ḿnh.
Dựa theo “Bản dự phóng đời sống” (Memoriale Propositi)
năm 1221, dựa theo các bản Luật đă được các Đức Giáo-hoàng Nicôlas IV và Lêô XIII phê
chuẩn, bản Luật này thích nghi Ḍng Phan Sinh Tại Thế với các đ̣i hỏi và mong mỏi của
Giáo Hội trong hoàn cảnh đổi thay của thời đại. Giải thích Luật này là quyền của Ṭa Thánh, c̣n việc
áp dụng sẽ được qui định bởi Tổng Hiến Chương và Nội Qui riêng.
Luật và đời sống của anh chị em Phan sinh Tại thế là
tuân giữ Phúc âm của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, theo gương thánh Phanxicô Assisi là Đấng
đă chọn Đức Kitô làm nguồn cảm ứng và là trọng tâm đời sống của Người trong tương
quan với Thiên Chúa và loài người. (I Cêlanô II, 115). Đức Kitô, ân huệ t́nh thương của Chúa
Cha, là Đường dẫn đến Chúa Cha, là Sự Thật mà Chúa Thánh Linh soi sáng cho chúng ta biết,
là Sự Sống mà chính Ngài đă đến để ban dồi dào cho chúng ta. (Gioan 3: 16; 14: 6). Anh
chị em Phan sinh tại thế hăy đọc Phúc âm thường xuyên, đi từ Phúc âm đến cuộc sống và từ cuộc
sống đến Phúc âm. (Vaticanô II: Sắc lệnh Tông đồ giáo dân, # 30h).
Anh chị em Phan sinh tại thế t́m gặp Đức Kitô như Ngài
đang sống và hành động trong tha nhân, trong Kinh Thánh, trong Giáo Hội, trong các lễ
nghi phụng tự. Niềm tin đă khiến thánh Phanxicô viết ra câu: “Trên trần gian này, tôi
không thấy ǵ cụ thể về Người Con rất cao cả của Thiên Chúa, ngoài Ḿnh và Máu rất thánh của
Người”, niềm tin ấy gợi hứng và hướng dẫn anh chị em sống bí tích Thánh Thể.
Được mai táng và sống lại với Đức Kitô trong bí tích
Thánh Tẩy, anh chị em là thành phần sống động của Hội Thánh. Qua lời tuyên khấn, anh chị em
c̣n được kết hiệp mật thiết hơn
nữa với Đức Kitô, và như thế, anh chị em trở nên chứng
nhân và khí cụ thực hiện sứ mạng của Hội Thánh giữa loài người bằng cách dùng đời sống
và lời nói loan báo Đức Kitô.
Được thánh Phanxicô gợi hứng và cùng với Người, được
mời gọi canh tân Giáo Hội, anh chị em hăy quyết tâm sống hiệp thông trọn vẹn
với Đức Thánh Cha, các Đức Giám mục, các Linh mục. Anh chị em hăy sẵn sàng
đối thoại với các ngài cách cởi mở, dựa trên đức tin, một cuộc đối thoại
mang lại nhiều lợi ích cho hoạt động tông đồ. (Phaolô VI: Huấn từ cho các
người Ḍng Ba, ngày 19.3.1971).
Những anh chị em sống đời hoán cải (I Luật Ḍng Ba
1221/1228 của Đức Gregorio IX), do ơn gọi riêng của ḿnh và do sức mạnh Phúc âm thúc đẩy, hăy
làm cho suy nghĩ và hành động của ḿnh giống hệt với mẫu mực là Chúa Kitô. Họ đạt
được điều này nhờ một sự thay đổi tận căn trong tâm hồn mà Phúc âm gọi là “hoán cải”. V́
tính yếu đuối của loài người, sự hoán cải này cần được bắt đầu lại mỗi ngày. Vaticanô
II: Hiến chế tín lư về Giáo Hội # 8; Sắc lệnh về Đại kết (Hiệp nhất) # 4. Nghi thức mới về cử
hành Phụng vụ sám hối, phần mở đầu).
Trên con đường đổi mới này, bí tích Hoà giải là dấu chỉ
đặc biệt bày tỏ ḷng thương xót của Chúa Cha và là nguồn mạch ban ân sủng. (Vaticanô
II: Sắc lệnh về đời sống và chức vụ Linh mục, # 18)
Như Đức Giêsu là Đấng thờ phượng Chúa Cha cách đích
thực, anh chị em hăy làm cho việc cầu nguyện và chiêm niệm trở nên nguồn sinh lực cho đời
sống và hành đôïng của ḿnh. (Vaticanô II: Sắc lệnh Tông đồ Giáo dân,# 4 abc)
Anh chị em hăy tham dự vào đời sống bí tích của Hội
Thánh, nhất là bí tích Thánh Thể. Anh chị em hăy kết hiệp với Kinh nguyện
Phụng vụ của Hội Thánh theo một trong những cách thức được Hội Thánh đề ra.
Và như thế anh chị em làm sống lại các mầu nhiệm của đời sống Đức Kitô.
Đức trinh nữ Maria, nữ t́ khiêm hạ của Chúa, sẵn sàng
lắng nghe Lời Chúa và đáp lại những lời mời gọi của Chúa, đă được thánh Phanxicô sùng
kính với một ḷng yêu mến khôn tả, và đă tôn làm Đấng phù hộ và Trạng sư cho gia đ́nh
Người (2 Cel II, 198). Anh chị em Phan sinh tại thế hăy tỏ ḷng yêu mến nồng nàn đối với
Đức Nữ Trinh Maria qua việc noi gương bắt chước thái độ sẵn sàng triệt để và qua việc
cầu nguyện với Đức Trinh nữ cách ư thức và đầy tin tưởng. (Vaticanô II: Hiến chế tín lư về
Giáo Hội, # 67; Sắc lệnh về Tông Đồ Giáo dân, # 4).
Hiệp thông với sự vâng phục có giá trị cứu độ của Đức
Giêsu, Đấng đă hoàn toàn đặt ư ḿnh trong tay Chúa Cha, anh chị em hăy trung thành chu toàn
các bổn phận của đấng bậc ḿnh trong những hoàn cảnh sống khác nhau. (Vaticanô II:
Hiến chế tín lư về Giáo Hội, # 41) Anh chị em hăy bước theo Đức Kitô nghèo khó, chịu đóng đinh.
Cả lúc gặp khó khăn, bắt bớ, anh chị em vẫn tỏ ra trung thành với Người.(Vaticanô II:
Hiến chế tín lư về Giáo Hội, # 42)
Đức Kitô trong sự tin tưởng vào Chúa Cha, đă chọn cho
Người và Mẹ Người một đời sống nghèo khó và khiêm hạ (Thư gửi các tín hữu, # 5), mặc
dầu vẫn coi trọng và quí mến các tạo vật. Bởi vậy anh chị em Phan sinh tại thế, lúc lựa chọn
cũng như lúc sử dụng, hăy t́m một tương quan đúng đắn với của cải trần thế, khi phải đáp
ứng các nhu cầu vật chất của ḿnh.
Theo Phúc âm, anh chị em ư thức ḿnh là những người
quản lư của cải đă nhận được v́ lợi ích của mọi con cái Chúa. Và như thế, trong tinh thần
các Mối Phúc anh chị em phải giữ ḿnh khỏi mọi khuynh hướng và khát vọng chiếm hữu,
thống trị, sống như những người lữ hành và khách lạ trên đường về nhà Cha. (Rôma 8, 17;
Vaticanô II: Hiến chế tín lư về Giáo hội, # 7)
Là chứng nhân cho các giá trị đời sau, và do ơn gọi mà
anh chị em đă đón nhận, anh chị em có bổn phận làm cho tâm hồn được trong
sạch. Như thế, anh chị em được tự do hơn để kính mến Thiên Chúa và yêu
thương tha nhân. (Huấn ngôn, # 16; Thư gửi các tín hữu, # 70).
Như Chúa Cha nh́n thấy nơi mỗi người nét mặt Người Con
của Ngài, Anh Cả của một đoàn em đông đúc (Rm 8, 29), cũng vậy, anh chị em
Phan sinh tại thế trong tinh thần khiêm tốn và nhân ái, đón nhận mọi người
như một ân huệ của Chúa và như hiện thân của Đức Kito.â (2 Cel II, 85; Thư
gửi các tín hữu, # 26; I Luật 7, 13) Cảm thức về t́nh huynh đệ làm cho anh
chị em vui vẻ và sẵn sàng hoà ḿnh với tất cả mọi người, nhất là với những
người hèn mọn hơn cả. Anh chị em hăy t́m cách tạo cho họ những điều kiện
sống xứng hợp với phẩm giá của con người được Đức Kitô cứu chuộc. (I Luật 9,
3; Mt 25: 40).
Cũng với tất cả những người thiện chí, anh chị em được
mời gọi làm cho Nước Chúa trị đến bằng cách xây dựng một thế giới huynh đệ
hơn và phù hợp với tinh thần Phúc âm hơn. Anh chị em cũng ư thức rằng “hễ ai
đi theo Đức Kitô, Con Người hoàn hảo, th́ người ấy cũng trở nên người hơn”.
Và như thế, anh chị em có thể thi hành đúng đắn trách nhiệm của ḿnh trong
tinh thần sẵn sàng phục vụ của Kitô giáo. (Vaticanô II: Hiến chế tín lư về
Giáo Hội, # 31; Hiến chế mục vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay, # 93).
Qua chứng tá đời sống nhân bản và qua những sáng kiến
dũng cảm có tính cách cá nhân hay tập thể, anh chị em cố gắng phát huy công
lư, nhất là trong phạm vi đời sống công cộng, và trong những quyết định cụ
thể, anh chị em luôn trung thành với đức tin của ḿnh. (Vaticanô II: Sắc lệnh Tông đồ Giáo dân #14)
Anh chị em xem lao động như một ân huệ và như một sự
tham gia vào công tŕnh sáng tạo, cứu chuộc và phục vụ cộng đồng nhân loại.
(Vaticanô II: Hiến chế mục vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay # 67; Luật
không Sắc dụ,# 7; Luật có Sắc dụ,#5)
Trong gia đ́nh, anh chị em hăy trau dồi tinh thần phan
sinh là tinh thần ḥa thuận, trung tín và tôn trọng sự sống. Anh chị em ra
sức biến tinh thần ấy thành dấu chứng cho một thế giới đă được đổi mới trong
Đức Kitô. (Luật Đức Lêô XIII: II, 8)
Đặc biệt bậc vợ chồng, sống nhờ ơn sủng của bí tích Hôn
nhân, hăy chứng tỏ cho thế giới thấy t́nh yêu của Đức Kitô đối với Hội Thánh
Người. Với một nền giáo dục kitô giáo đơn sơ và cởi mở, đặc biệt quan tâm
đến ơn gọi riêng của mỗi người con, anh chị em hăy vui vẻ cùng với con cái
tiến bước trong cuộc hành tŕnh nhân bản và thiêng liêng. (Vaticanô II: Hiến
chế tín lư về Giáo Hội, # 41; Sắc lệnh về Tông đồ Giáo dân, # 30)
Anh chị em Phan sinh tại thế cũng hăy quí trọng các tạo
vật khác, sinh vật cũng như vật vô tri, là những vật mang dấu tích của Đấng Tối Cao (1
Celano I, 80), anh chị em hăy cố gắng lướt thắng cơn cám dỗ lạm dụng chúng để đạt tới một
quan niệm phan sinh về t́nh huynh đệ phổ quát xem mọi người, mọi vật đều là anh em.
Là những sứ giả b́nh an và với ư thức rằng sự b́nh an
phải được xây dựng không ngừng, anh chị em hăy đối thoại để t́m kiếm những đường lối đưa
đến hiệp nhất và hoà hợp huynh đệ.
Anh chị em cứ tin tưởng vào mầm mống thần linh nơi con
người, cũng như tin tưởng vào khả năng biến đổi của t́nh thương và ḷng tha thứ (Luật Đức
Lêô XIII, II, 9; Truyện Ba người bạn 14, 58).
Anh chị em là sứ giả của niềm vui trọn hảo trong mọi
hoàn cảnh, anh chị em hăy ra sức mang niềm vui và niềm hy vọng đến cho người
khác. (Huấn Ngôn, #21; I Luật 7, 15)
Được liên kết chặt chẽ với mầu nhiệm Sống Lại của Đức
Kitô là mầu nhiệm đem lại ư nghĩa đích thực cho Chị Chết, anh chị em hăy
thanh thản chờ đợi cuộc gặp gỡ cuối cùng với Chúa Cha. (Vaticanô II: Hiến
chế mục vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay, # 18)
Ḍng Phan Sinh Tại Thế qui tụ các huynh đệ đoàn thuộc
nhiều cấp khác nhau: địa phương, miền, quốc gia và quốc tế. Mỗi huynh đệ đoàn là một
pháp nhân trong Hội Thánh (Giáo Luật 313). Các huynh đệ đoàn ở các cấp khác nhau ấy được
thống nhất và liên kết với nhau theo qui tắc của bản Luật này và của Hiến Chương.
Ở các cấp khác nhau, mỗi huynh đệ đoàn được một Hội
đồng và một anh/chị Phục vụ linh hoạt và điều khiển. Những người này được bầu chọn theo
Hiến Chương bởi các thành viên đă tuyên khấn (Giáo Luật 317, 1). Việc phục vụ của họ
có thời hạn. Việc phục vụ này phát xuất từ sự sẵn sàngdấn thân và ư thức trách nhiệm đối
với mọi người và đối với tập thể.
Các huynh đệ đoàn được tự tổ chức khác nhau theo Hiến
Chương, tùy nhu cầu của các thành viên và tùy theo từng miền. Mỗi huynh đệ
đoàn được đặt dưới sự điều khiển của một Hội đồng.
Huynh đệ đoàn địa phương được thiết lập theo đúng Giáo
Luật. Như thế, huynh đệ đoàn địa phương là tế bào cơ bản của toàn Ḍng và là dấu chỉ hữu
h́nh của Hội Thánh, một cộng đoàn yêu thương. Đó là môi trường ưu việt giúp phát huy
cảm thức về Hội Thánh, về ơn gọi phan sinh và đời sống tông đồ nơi các thành viên (Đức
Piô XII: Huấn từ cho các người ḍng Ba, ngày 1.7.1956).
Đơn xin gia nhập Ḍng Phan Sinh Tại Thế phải nạp cho
Huynh đệ đoàn địa phương, và Hội đồng của huynh đệ đoàn này sẽ quyết định về việc chấp
nhận các thành viên mới (Giáo Luật 307). Việc gia nhập Huynh đệ đoàn gồm: một thời gian
t́m hiểu, một thời kỳ huấn luyện ít là một năm, và việc tuyên khấn giữ Luật Ḍng (I Luật Ḍng
Ba). Tất cả Huynh đệ đoàn cùng có trách nhiệm chăm lo cho tiến tŕnh gia nhập ấy bằng đời
sống của ḿnh. Về hạn tuổi phải có để tuyên khấn và về huy hiệu của Huynh đệ đoàn (1 Cel
I, 22), th́ căn cứ theo các qui tắc của Nội quy quốc gia. Lời tuyên khấn tự bản chất có giá trị
ràng buộc vĩnh viễn (I Luật Ḍng Ba).
Những anh chị em gặp khó khăn đặc biệt có thể bàn giải
các vấn đề của ḿnh với Hội đồng Huynh đệ đoàn địa phương, qua đối thoại
huynh đệ. Hội đồng này có thẩm quyền quyết định về việc cho rút lui, cũng
như nếu cần, sa thải vĩnh viễn các thành viên của Huynh đệ đoàn dựa theo qui
tắc Hiến chương (Giáo luật 308).
Để cổ vơ sự hiệp thông giữa các thành viên của Huynh đệ
đoàn, Hội đồng phải lo tổ chức những cuộc họp định kỳ và những cuộc gặp gỡ thường
xuyên, cả với những nhóm Phan sinh khác, nhất là các nhóm trẻ. Hội đồng phải sử dụng những
phương thế thích hợp nhất để phát triển đời sống Phan sinh và đời sống Hội Thánh, và để
cổ vơ mọi người sống liên kết với Huynh đệ đoàn nhiều hơn (Giáo Luật 309).
Anh chị em tiếp tục sống t́nh hiệp thông huynh đệ với
những anh chị em đă qua đời, bằng cách cầu nguyện cho họ (I Luật Ḍng Ba).
Về các chi phí cần thiết cho đời sống của Huynh đệ đoàn,
cho việc phụng tự, tông đồ và bác ái, tất cả anh chị em đóng góp tùy theo khả năng. Các
huynh đệ đoàn địa phương c̣n phải lo góp phần vào những chi phí của Hội đồng các huynh đệ
đoàn cấp cao hơn (I Luật Ḍng Ba).
Để biểu lộ cách cụ thể sự hiệp thông và tinh thần trách
nhiệm đối với nhau, Hội đồng thuộc các cấp khác nhau sẽ theo Hiến Chương mà xin cử những
tu sĩ có khả năng và đă được chuẩn bị để làm Trợ úy tinh thần, nơi các Bề trên của
bốn nhánh trong gia đ́nh tu sĩ Phan sinh, mà Ḍng Phan Sinh Tại Thế xưa nay vẫn liên hệ.
Để cổ vơ ḷng trung thành với ơn gọi Phan sinh và việc
tuân giữ Luật Ḍng, cũng như để hỗ trợ mạnh mẽ hơn cho đời sống Huynh đệ
đoàn, anh/chị Phục vụ sau khi đă thỏa thuận với Hội đồng, phải theo định kỳ
xin các tu sĩ Bề trên có thẩm quyền kinh lư mục vụ (II Luật Ḍng Ba 1289 của
Đức Nicolas IV), cũng như xin các anh/chị có thẩm quyền ở cấp cao kinh lư
huynh đệ, chiếu theo Hiến Chương.
“Và hễ ai tuân giữ các điều trên đây sẽ được Chúa Cha
cao cả trên trời chúc phúc, và dưới đất sẽ được Chúa Con yêu dấu của Người với Thánh Linh,
Đấng bảo trợ rất thánh, cùng tất cả chư thần Thiên quốc và toàn thể các thánh chúc phúc.”
(Lời chúc phúc của thánh Phanxicô trong Chúc thư).
|