Bút tích Phanxicô

 

 

 

Home
Lời Ngỏ
Mục Lục
Nội Dung
Luật Ḍng
Nghi Thức
Hiến Chương
Thánh Phanxicô
Thánh Clara
Bút tích Phanxicô
HĐĐ Thánh Clara
HĐĐ Thánh Antôn
Thánh Elizabeth
HĐĐ Thánh Isave
HĐĐ Max. Kolbe
HĐĐ Miền Phan Thiết
HĐĐ Trần V.Trung
Lịch Phụng vụ
Lời Nguyện Hiệp Thông
Union of Prayer
Đàng Thánh Giá
Bảo trợ Ơn gọi PSVN

  

 
In tài liệu này

BÚT TÍCH THÁNH PHANXICÔ ASSISI    

 

NỘI DUNG VÀ CÁCH VIẾT TẮT

 

Chương I: LUẬT VÀ ĐỜI SỐNG

Trang

 

 

1.Luật không sắc dụ          (L Ksd) 02
2.Các đoạn văn của một bản và luật khác không sắc dụ   (L Đv) 16
3.Luật có sắc dụ          (L) 20
4.Luật trong ẩn viện         (L Âv) 25
5.Qui luật sống gởi cho chị Clara       (L C1) 25
6.Nguyện ước cuối cùng gởi cho chị Clara     (Ng C1) 25
.7.Di chúc            (DC) 25

Chương II: CÁC HUẤN NGÔN          (Hn)

28


Chương III: CÁC THƯ

1.Thư gởi các giáo sĩ         (T Gs)


 

34

2.Thư gởi các tín hữu         (T Th) 35
3.Thư gởi các nhà lănh đạo nhân dân      (T Lđ) 42
4.Thư gởi toàn ḍng          (T TD) 42
5.Thư gởi các Anh Phục Vụ        (T cPv) 46
6.Thư gởi một Anh Phục Vụ        (T Pv) 47
7.Thư gởi thánh An-tôn         (T At)
8.Thư gởi anh Lê-ô          (T Lêô)
48
48

 

Chương IV: KINH NGUYỆN VÀ THI CA

1.Lời mời gọi ngợi khen Thiên Chúa      (K Mg)  



 

49

2.Kinh đọc trước Thánh giá        (K Tg) 49

3.Lưu bút gởi cho Anh Lê-ô           

     A.  Kinh ngợi khen Thiên Chúa tối cao    (K Lêô)
    
B.  Lời chúc lành cho Anh Lê-ô     (C1 Lêô)
4.Kinh kính chào các nhân đức       (K Nđ)
5.Kinh kính chào Đức Trinh Nữ Maria     (K ĐM)
6.Kinh Lạy Cha quảng diễn        (K LC)
7.Kinh tung hô đọc vào mọi giờ kinh      (K Th)
8.Bộ kinh Thương Khó.          (Tv I-XV)
9.Bài ca Anh Mặt Trời         (Bc MT)
10.Bài ca gởi cho các chị em thánh Clara.     (Bc C1)



49
50
50
51
51
52
54
66
68
 

 

Chương V: CÁC BÚT TÍCH ĐƯỢC NHẮC TỚI

1.Lời chúc lành cho Anh Bê-na-đô      (N Bn)
2.Lời chúc lành viết cho thánh Clara và các chị em  (N C1)

3.Thư gởi dân thành Bô-lô-ni-a  (N Bl)
 
4.Thư gởi cho thánh Clara        (N Tcl)
5.Thư gởi cho Bà Gia-cô-ba        (N Gc)
   
6.Thư gởi cho anh em nước Pháp       (N Ph)
          
7.Di chúc viết tại Si-ê-na        (N DC)
                                                  
8.Đàm thoại về niềm vui trọn vẹn   (N Nv)
                                            

 Các trích dẫn Thánh Kinh được viết tắt theo Phụng vụ các giờ kinh.

 

 

68
68
68
69
69
69
69
69

 

 

CÁC BẢN VĂN BÚT TÍCH THÁNH PHANXICÔ ASSISI

 

PHẦN  I      LUẬT VÀ ĐỜI SỐNG  

1. LUẬT KHÔNG SẮC DỤ 

 LỜI MỞ ĐẦU

 

  1. Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần:
     

  2. Đây là đời sống theo Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, mà tu sĩ Phan-xi-cô đã xin Đức Thánh Cha chấp thuận  và chuẩn y.  Ngài đã chấp thuận và chuẩn y cho Anh và cho các anh em hiện có và sẽ đến.

  3. Tu sĩ Phan-xi-cô và tất cả các Anh sẽ đứng đầu Hội dòng này phải tuyên hứa vâng phục và tôn kính Đức Thánh Cha In-nô-xen-xi-ô và các Đấng kế vị.

  4. Còn tất cả các anh em khác phải vâng lời tu sĩ Phan-xi-cô và những người kế vị.

CHƯƠNG I:  ANH EM PHẢI SỐNG KHÔNG CÓ CỦA RIÊNG, 

KHIẾT TỊNH VÀ VÂNG PHỤC.

 

  1. Luật và đời sống anh em này là: sống vâng phục, khiết tịnh và không có của riêng, và tuân giữ đạo lý cùng bước theo vết chân Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.  Chính Chúa đã nói: 

  2.  “Nếu anh muốn nên hoàn thiện, thì hãy về (Mt 19, 21) bán tất cả mọi thứ anh có (x.  Lc 18, 22), mà bố thí cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời, sau đó hãy đến theo tôi” (Mt 19, 21).

  3.  Và: “Ai muốn theo Tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16, 24).

  4. Người còn nói: “Ai muốn theo Tôi mà không từ bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệï Tôi được” (Lc 14, 26).

  5. Và: “bất cứ ai bỏ cha mẹ, anh chị em, vợ con, nhà cửa và ruộng đất vì Tôi sẽ được lợi gấp trăm và được hưởng cuộc sống đời đời” (x.  Mt 19, 29; Mc 10, 29;  Lc 18, 29).

CHƯƠNG II:   CÁCH TIẾP NHẬN ANH EM VÀ VẤN ĐỀ TU PHỤC

  1.  Ai được Chúa soi sáng muốn đón nhận đời sống này và đến với anh em thì anh em hãy ân cần tiếp đón họ.

  2.  Nếu họ quyết tâm đón nhận đời sống chúng ta, anh em hãy hết sức ý tứ đừng xen vào công chuyện trần thế của họ, nhưng  hãy giới thiệu họ với Anh Phục vụ của mình càng sớm càng tốt.

  3. Còn Anh Phục vụ, hãy ân cần, tiếp đón, khuyến khích họ và cặn kẽ trình bày cho họ biết nội dung đời sống chúng ta.

  4. Sau đó, nếu đương sự muốn và nếu có thể thực hiện được theo ý muốn mà không có gì cản trở, thì hãy tìm cách bán tài sản của mình và lo phân phát tất cả cho người nghèo.

  5. Phần anh em cũng như Anh Phục vụ, đừng xen vào công chuyện của họ bất cứ bằng cách nào,

  6. cũng đừng nhận tiền bạc gì cả, hoặc trực tiếp hoặc qua trung gian của kẻ khác.

  7. Tuy nhiên trong trường hợp túng thiếu, thì vì khẩn thiết anh em có thể nhận những thứ cần thiết cho thể xác như những người nghèo khác, ngoại trừ tiền bạc.

  8. Khi họ trở lại, Anh Phục vụ hãy cho họ y phục tập tu, trong thời gian một năm, tức là hai chiếc áo dài không có lúp, một sợi dây, vài chiếc quần ngắn, và một khăn choàng dài tới thắt lưng.

  9. Khi thời gian một năm đã qua và việc thử luyện đã hoàn tất, đương sự được nhận vào đời sống vâng phục.

  10. Từ đó, người ấy không được phép gia nhập một Dòng khác hoặc “đi lang thang ngoài đức vâng phục nữa”, vì “ ai đã tra tay cầm cày mà còn nhìn lại đằng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa (Lc 9, 62).

  11. Trong trường hợp ai đến với chúng ta mà gặp trở ngại, không thể bố thí của cải được, nhưng lòng họ ước ao làm việc ấy, thì họ hãy từ bỏ của cải mình, và thế là đủ.

  12.  Anh em không được nhận ai vào Dòng trái với thể thức và qui chế của Hội thánh.

  13. Các anh em khác đã khấn hứa vâng phục sẽ được một chiếc áo dài với lúp, và, nếu cần, một chiếc khác không lúp, một sợi dây và vài chiếc quần ngắn.

  14. Tất cả anh em hãy mặc quần áo thô hèn và có thể lót thêm bằng vải sô hay các mảnh vải khác, và Thiên Chúa sẽ chúc lành cho; vì Chúa nói trong sách Tin mừng:  “Những kẻ áo quần lộng lẫy, đời sống xa hoa  (Lc 7, 25) và kẻ mặc gấm vóc lụa là thì ở trong cung điện vua quan”  (Mt 11, 8).

  15. Dù thiên hạ cho anh em là giả hình, anh em cũng đừng thôi làm việc thiện, và đừng tìm kiếm y phục quí giá ở đời này, để được mặc y phục Nước Trời.  

CHƯƠNG III:  THẦN VỤ VÀ CHAY TỊNH

  1. Chúa nói:  “Giống quỉ ấy chỉ trừ được bằng chay tịnh và lời cầu nguyện thôi”  (x.  Mc 9, 28)

  2. và còn nói:  “Khi ăn chay, chớ làm bộ rầu rĩ như bọn đạo đức giả” (Mt 6, 16).

  3. Vì thế, tất cả anh em, giáo sĩ cũng như giáo dân, hãy cử hành thần vụ, ca ngợi và khẩn nguyện theo bổn phận mình.

  4. Anh em giáo sĩ hãy cử hành phụng vụ và cầu nguyện cho kẻ sống và kẻ chết theo tập tục của hàng giáo sĩ.

  5. Mỗi ngày, anh em hãy đọc thánh vịnh “Lạy Thiên Chúa, xin xót thương con”  (Tv 50) và kinh Lạy Cha để đền bù những thiếu sót và trễ nải của mình;

  6. và đọc thánh vịnh “Từ vực thẳm” (Tv 129) cùng kinh Lạy Cha để cầu nguyện cho các anh em đã qua đời.

  7. Anh em được phép có những sách cần thiết để chu toàn thần tụng.

  8. Các anh em giáo dân nào biết đọc thánh vịnh cũng được phép có một quyển thánh vịnh.

  9. còn những anh em khác không biết chữ, thì không được phép có sách.

  10. Các anh em giáo dân hãy đọc kinh Tin kính, hai mươi bốn kinh Lạy Cha và kinh Sáng danh vào giờ Kinh sách; giờ Kinh sáng, năm kinh; giờ thứ Nhất, anh em đọc kinh Tin kính, bảy kinh Lạy Cha và kinh Sáng danh; vào giờ thứ Ba, thứ Sáu và thứ Chín: mỗi giờ bảy kinh; giờ Kinh chiều, mười hai kinh;  Giờ Kinh tối, anh em đọc kinh Tin kính, bảy kinh Lạy Cha và kinh Sáng danh;  để cầu nguyện cho những linh hồn đã qua đời, anh em đọc bảy kinh Lạy Cha với kinh “Xin cho các linh hồn được nghỉ ngơi đời đời”  (Requiem aeternam);  để đền bù những thiếu sót và trễ nải, anh em hãy đọc mỗi ngày ba kinh Lạy Cha.

  11. Tất cả anh em cũng hãy giữ chay từ lễ các Thánh đến lễ Giáng Sinh, và từ lễ Hiển Linh, nghĩa là từ khi Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, bắt đầu giữ chay, cho đến lễ Phục Sinh.

  12. Trong các Mùa khác, thể theo Bản luật này, anh em chỉ phải giữ chay vào ngày thứ sáu.

  13. Và theo Tin mừng, anh em được phép dùng những thức ăn người ta dọn cho (x.  Lc 10, 8).  

 CHƯƠNG IV:  TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC ANH  PHỤC VỤ VÀ CÁC ANH EM KHÁC.

  1. Nhân danh chúa.

  2. Tất cả những anh em được đặt làm Phục vụ và tôi tớ các anh em khác, hãy cắt cử anh em mình trong các Tỉnh và các Nhà.  Hãy năng thăm viếng và dùng lời lẽ thiêng liêng mà chỉ dẫn và khích lệ họ.

  3. Tất cả các anh em khác được Thiên Chúa chúc phúc, hãy nhiệt thành vâng phục các anh ấy trong những gì liên quan đến phần rỗi linh hồn và không trái ngược với đời sống chúng ta.

  4.  Anh em hãy đối xử với nhau như Chúa dạy: “Tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em hãy làm cho người ta” (Mt 7, 12)

  5. và:  “Điều gì anh em không muốn người ta làm cho mình thì cũng đừng làm cho người ta”  (Tb 4, 16)

  6.  Các Anh Phục vụ và tôi tớ, hãy nhớ lại lời Chúa nói:  “Thầy đến không phải để được kẻ hầu người hạ, nhưng là để hầu hạ”  (Mt 20, 28).

  7. Các Anh hãy nhớ rằng, vì đã lãnh nhận trách nhiệm chăm sóc linh hồn anh em mình nên đến ngày phán xét, các Anh phải trả lẽ (x.  Mt 12,36) trước mặt Chúa Giêsu Kitô, nếu có ai trong số anh em ấy phải hư mất vì tội lỗi và gương xấu của mình.  

CHƯƠNG V:  SỬA DẠY CÁC ANH EM PHẠM LỖI

  1. Bởi vậy các Anh hãy gìn giữ linh hồn mình và linh hồn các anh em thuộc quyền mình; vì “thật là khủng khiếp khi phải rơi vào tay Thiên Chúa hằng sống”  (Dt 10, 31)

  2. Nếu có Anh Phục vụ nào truyền cho một anh em điều gì trái với đời sống chúng ta hay trái với lương tâm người ấy, thì người anh em ấy không buộc phải vâng lời ; vì không phải là vâng lời, khi hành vi đó làm ta sai lỗi hay phạm tội.

  3. Tuy nhiên tất cả các anh em bề dưới hãy khôn ngoan và thận trọng khi xem xét việc làm của các Anh Phục vụ và tôi tớ.

  4. Nếu anh em nhận thấy có ai trong các anh ấy sống theo thế tục chứ không theo tinh thần, cho phù hợp với đời sống chúng ta, thì hãy khuyên can họ.  Nếu sau 3 lần khuyên can mà họ không sửa mình, anh em hãy trình báo với Anh Phục vụ và tôi tớ của toàn thể huynh đệ đoàn vào dịp Tu nghị lễ Ngũ tuần, đừng để ai phản đối và ngăn cản.

  5. Khi ai trong anh em, bất kỳ ở đâu, muốn sống theo thế tục chứ không theo tinh thần, các anh em sống bên cạnh hãy nhắc nhở chỉ bảo và sửa dạy cách khiêm nhường và tận tình.

  6. Nếu sau ba lần khuyến cáo, người ấy vẫn không chịu sửa mình, thì anh em hãy dẫn họ tới Anh Phục vụ và tôi tớ hoặc báo cáo với Ngài càng sớm càng tốt.  Anh này, với tư cách là người phục vụ và tôi tớ, hãy đối xử với người ấy theo cách thức anh thấy là hợp ý Chúa hơn cả.

  7. Hết thảy anh em, các Anh Phục vụ và tôi tớ cũng như các anh em khác, hãy coi chừng đừng để mình bị dao động hay tức giận về tội lỗi hoặc điều xấu của người khác; ma quỉ thường dùng tội của một người mà làm hư hỏng nhiều người khác.

  8. Nhưng theo tinh thần Chúa, anh em hãy giúp đỡ tội nhân theo phương cách tốt nhất, vì “người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, chỉ có người đau ốm mới cần” (x.  Mt 9, 12; Mc 2, 17).

  9. Cũng vậy trong việc này đừng ai trong anh em cho mình là người có quyền hay là người thống trị trên kẻ khác, nhất là giữa anh em với nhau.

  10. Vì Chúa đã nói trong Tin mừng:  “thủ lãnh các nước thì cai trị dân như những bạo Chúa, những người làm lớn thì lấy quyền mà áp chế dân” (Mt 20, 25);  còn giữa anh em “thì không như vậy được” (Mt 20, 26a)

  11. Và “Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải là người phục vụ” (x.  Mt 20, 26b) và đầy tớ anh em.

  12. Và “Ai lớn nhất trong anh em thì phải nên như người nhỏ nhất” (x.  Lc 22, 26).

  13. Đừng có anh em nào làm hại hay nói xấu người khác.

  14. Trái lại, nhờ “đức mến do bởi Thần khí”, anh em hãy sẵn sàng phục vụ và vâng lời “lẫn nhau” (x.  Gl 5, 13).

  15. Đó chính là sự vâng phục chân thật và thánh thiện của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.

  16. Những anh em nào “xa lìa giới răn Chúa” (Tv 118, 21) và sống ngoài đức vâng phục, như lời một ngôn sứ đã nói, thì hãy biết rằng họ bị nguyền rủa khi còn sống ngoài đức vâng phục, nghĩa là bao lâu còn cố tình lưu lại trong tội ấy.

  17. Còn những anh em kiên trì trong các giới răn Chúa như họ đã thề hứa tuân giữ bằng cách sống theo Tin mừng và qui luật sống của họ, thì hãy biết rằng các anh em ấy đang sống trong đức vâng phục chân thật và được Chúa chúc lành.

 CHƯƠNG VI:  ANH EM ĐƯỢC CHẠY TỚI VỚI ANH PHỤC VỤ  VÀ KHÔNG ANH EM NÀO  ĐƯỢC MANG DANH LÀ BỀ TRÊN

  1. Bất cứ ở đâu, nếu ai không thể tuân giữ qui luật sống của chúng ta, thì hãy chạy đến với Anh Phục vụ của mình càng sớm càng tốt để tỏ bày với Anh ấy.

  2. Anh Phục vụ hãy nhiệt tình giúp đỡ, như chính mình muốn được giúp đỡ trong trường hợp tương tự (x.  Mt 7, 12).

  3. Không ai được mang danh là bề trên nhưng tất cả hãy cùng mang danh là anh em hèn mọn.  Và anh em hãy rửa chân cho nhau (x.  Ga 13, 14).

CHƯƠNG VII:  CÁCH THỨC PHỤC VỤ VÀ LÀM VIỆC

  1. Khi đến phục vụ và làm việc trong nhà người ta, thì anh em đừng giữ chức quản phòng, hay quản gia, hay làm chủ trong nhà mình phục vụ, hay một chức vụ nào có thể gây vấp phạm cho người khác hay “làm thiệt hại cho chính mình” (x.  Mc 8, 36)

  2. nhưng anh em hãy sống hèn mọn, phục tùng mọi người trong nhà.

  3. Ai có khả năng làm việc thì làm việc và hành nghề mình biết, miễn là nghề ấy không gây thiệt hại cho phần rỗi linh hồn mình và được xem là lương thiện.

  4. Vì vị ngôn sứ nói:  “Công khó tay bạn làm, bạn được an hưởng; bạn quả là lắm phúc nhiều may” (Tv 127, 2).

  5. Còn thánh Tông đồ nói:  “Ai không chịu làm thì cũng đừng ăn”  (x.2Tx 3, 10);

  6. và “mỗi người cứ giữ lấy nghề nghiệp và chức vụ của mình như khi được gọi” (x. lCr 7, 24).

  7. Đổi lại công việc mình làm, anh em có thể nhận mọi đồ vật cần thiết ngoại trừ tiền bạc.

  8. Khi cấp bách, anh em hãy đi hành khất như những người nghèo khác.

  9. Anh em được phép có những dụng cụ cần thiết cho nghề nghiệp mình.

  10. Tất cả anh em hãy hăng hái làm việc thiện vì có lời chép:  “Hãy luôn luôn làm một việc lương thiện để ma quỉ thấy bạn luôn mắc việc”

  11. Cũng có lời khác:  “Ăn không ngồi rồi làm hại cho linh hồn”.

  12. Vì thế, các tôi tớ Thiên Chúa phải luôn luôn chăm lo cầu nguyện hoặc làm một việc lương thiện.

  13. Dù sống ở đâu, trong ẩn viện hay tại nơi nào khác, anh em hãy ý tứ đừng chiếm sở hữu chỗ mình ở, cũng đừng tranh giành với người khác.

  14. Bất cứ ai đến với anh em, bạn hay thù, trộm hay cướp, anh em hãy tiếp đón họ tử tế.

  15. Dù sống ở đâu hay gặp nhau nơi nào, anh em hãy đối xử với nhau theo tinh thần Chúa, trong tình thân ái và kính trọng lẫn nhau “không chút phàn nàn” ( lPr 4, 9).

  16. Anh em đừng tỏ ra buồn rầu và ủ dột như bọn đạo đức giả, nhưng hãy tỏ ra “vui mừng trong Chúa” (x.  Pl 4, 4), tươi cười, hòa nhã cho hợp lễ.

CHƯƠNG VIII:  ANH EM KHÔNG ĐƯỢC NHẬN TIỀN BẠC

  1. Chúa đã phán dạy trong Tin mừng:  “Anh em phải coi chừng, phải tránh xa mọi hành vi xấu xa và tham lam”  (x.  Lc 12, 15)

  2. và “Anh em phải đề phòng, chớ để mình ưu tư chuyện thế gian và lo lắng việc đời”  (x.  Lc 21, 34)

  3. Do đó, dù ở đâu hay đi đâu, anh em tuyệt đối không được phép giữ tiền bạc, cũng không được nhận hay nhờ người khác nhận thay, để mua sắm áo quần hay sách vở, hoặc vì đó là tiền người ta trả công.  Tóm lại, trong bất cứ trường hợp nào, anh em cũng không được nhận tiền bạc, trừ khi vì nhu cầu cần thiết của anh em đau ốm.  Chúng ta đừng xem tiền bạc hữu ích hơn sỏi đá.

  4. Ma quỉ tìm cách làm mù mắt những ai ham muốn hoặc coi trọng tiền bạc hơn sỏi đá.

  5. Vì thế, chúng ta là những người đã từ bỏ mọi sự (x.  Mt 19, 27), thì đừng vì chút của nhỏ mọn mà đánh mất Nước trời.

  6. Nếu gặp thấy tiền bạc ở đâu, chúng ta cũng đừng bận tâm vì nó cũng như cát bụi dưới chân, vì “đó là phù vân trên mọi phù vân, và tất cả là phù vân”         (Gv 1,2)

  7. Nếu có anh em nào ước gì đừng có như vậy- thu góp hay sở hữu tiền bạc, chỉ trừ trường hợp cần thiết cho người đau ốm như đã nói trên, thì tất cả chúng ta hãy coi người ấy như một anh em giả, một kẻ phản bội, một tên trộm cướp, một kẻ giữ túi tiền (Ga 12,6), bao lâu người ấy không thật lòng hối cải.

  8. Anh em nhất thiết không được nhận hay nhờ kẻ khác nhận, tự mình xin hoặc nhờ người khác xin tiền bạc làm của bố thí cho mình, hoặc cho nhà nào hay nơi chốn nào.  Anh em cũng không được đi theo người quyên tiền cho những nơi chốn ấy.

  9. Nhưng anh em có thể làm những công việc không nghịch lại với đời sống chúng ta để phục vụ những nơi ấy, và Chúa sẽ chúc lành cho.

  10. Tuy nhiên, vì nhu cầu rõ ràng khẩn thiết của người phung cùi, anh em có thể đi xin của bố thí cho họ.

  11. Nhưng nhất thiết hãy tránh tiền bạc.

  12. Cũng vậy, tất cả anh em đừng chạy ngược chạy xuôi để tìm kiếm chút lợi lộc đáng khinh.  

 

CHƯƠNG IX:  ĐI XIN CỦA BỐ THÍ

  1. Tất cả anh em hãy cố gắng bước theo Chúa Giêsu khiêm nhường và  nghèo khó; hãy nhớ rằng chúng ta không được có gì khác ở trần gian ngoài của ăn, của mặc, như thánh Tông đồ nói:  “Có cơm ăn áo mặc, ta hãy lấy thế làm đủ”  (x.  lTm 6,8).

  2. Anh em hãy lấy làm vui mừng khi tiếp xúc với những người bình dân quê mùa và bị khinh dể, nghèo hèn và đau ốm, tàn tật và phong cùi, cũng như những kẻ ăn xin ngoài đường.

  3. Khi cần thiết, anh em hãy đi xin của bố thí.

  4. Anh em đừng lấy làm xấu hổ, nhưng hãy nhớ rằng Chúa Giêsu Kiô, Con Thiên Chúa hằng sống (Ga 11, 27) và toàn năng, “đã trơ mặt như đá”  (Is 50, 7) và đã chẳng hổ ngươi.

  5. Chính Người đã là một người nghèo, một khách trọ và đã sống nhờ của bố thí, cùng với Đức Trinh nữ và các môn đệ.

  6. Khi người ta sỉ nhục anh em và không muốn bố thí, anh em hãy tạï ơn Thiên Chúa vì do những nỗi nhục nhã ấy, anh em sẽ nhận được vinh dự lớn lao trước tòa Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.

  7. Anh em hãy biết rằng không phải những người chịu nhục nhã đáng bị xấu hổ, nhưng là những kẻ gây nhục nhã.

  8. Còn của bố thí là phần gia nghiệp và quyền lợi của những người nghèo, vì Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, đã thủ đắc cho ta.

  9. Anh em nào chịu khó nhọc đi xin bố thí, sẽ được ân thưởng bội hậu và cũng làm cho những người bố thí được trọng thưởng như thế; bởi vì mọi sự người ta để lại trần gian sẽ bị hư nát, còn về việc bác ái và của bố thí họ đã làm thì họ sẽ được Thiên Chúa ban thưởng.

  10. Mỗi người hãy bày tỏ cho anh em khác nhu cầu của mình để họ tìm cách giúp đỡ cho.

  11. Mỗi người cũng hãy yêu thương và nuôi dưỡng anh em mình như mẹ hiền yêu thương và nuôi dưỡng con cái (x.  lTx 2, 7). Thiên Chúa sẽ giúp anh em chu toàn nhiệm vụ đó.

  12. Và “Kẻ kiêng khem đừng xét đoán kẻ ăn uống”  (Rm 14, 3b).

  13. Khi cần thiết, tất cả anh em bất kỳ ở đâu đều được phép dùng mọi thức ăn mà mọi người khác có thể ăn.  Chính chúa nói về vua Đa-vít:  ông này “đã ăn bánh dâng tiến”  (x.  Mt 12,4),   “thứ bánh mà không ai được phép ăn, ngoại trừ tư tế”  (Mc  2, 26).

  14. Anh em hãy nhớ lời Chúa nói:  “Hãy đề phòng, chớ để lòng mình ra nặng nề bởi chè chén say sưa, bởi những lo lắng sự đời, kẻo thình lình ngày ấy ập đến trên anh em;

  15. Vì ngày ấy như cái lưới sẽ chụp xuống trên dân cư ở khắp mặt đất”  (x.  Lc 21, 34-35).

  16. Cũng vậy, khi có nhu cầu hiển nhiên, tất cả anh em cứ sử dụng những gì mình cần tùy theo ơn Chúa, vì “khi túng thiếu, thì không phải giữ luật pháp”  (thánh Bê-na-đô).  

 CHƯƠNG X:  CÁC ANH EM ĐAU ỐM

  1. Nếu một anh em ngã bệnh, bất kỳ ở đâu, thì những anh em khác đừng rời người ấy khi chưa chỉ định một người hay nhiều hơn nữa, nếu cần, để săn sóc bệnh nhân, như “chính mình muốn được săn sóc”  (x.  Mt 7, 12).

  2. Nhưng trong trường hợp tối khẩn, anh em có thể giao bệnh nhân lại cho một người khác săn sóc.

  3. Tôi xin người anh em đau ốm hãy tạ ơn Chúa tạo hóa về tất cả mọi sự.  Chúa muốn cho mình thế nào, khoẻ mạnh hay ốm đau, thì hãy ước ao như vậy, vì tất cả những ai đã được Thiên Chúa tiền định cho hưởng sự sống đời đời (x.  Cv 13,48), thì Người rèn luyện họ bằng tai ương và bệnh tật cũng như bằng tinh thần sám hối.  Chính Chúa đã nói:  “Những kẻ Ta yêu mến thì Ta sửa dạy và răn bảo”  (Kh 3, 19).

  4. Còn nếu người ấy lo lắng, hốt hoảng tức giận Thiên Chúa hoặc anh em, hay đòi hỏi thuốc men quá đáng vì muốn cứu lấy cái thân xác tro bụi này, vốn là thù nghịch của linh hồn, thì đó là do sự dữ mà ra.  Kẻ ấy là một người sống theo thế tục và không thuộc hàng ngũ anh em, vì đã yêu chuộng xác thịt hơn linh hồn. 

 CHƯƠNG XI:  ANH EM KHÔNG ĐƯỢC THÓA MẠ HAY NÓI XẤU NHAU  NHƯNG HÃY YÊU THƯƠNG NHAU.

  1. Tất cả anh em hãy ý tứ đừng vu khống ai, cũng đừng cãi cọ,

  2. nhưng hãy ra sức giữ thinh lặng theo ơn Chúa ban (x.  2Tm 2, 14).

  3. Anh em đừng tranh luận với nhau hay với người khác, nhưng hãy cố gắng trả lời khiêm tốn:  “Tôi là đầy tớ vô dụng”  (x.  Lc  17, 10).

  4. Anh em đừng nóng giận,  “vì ai giận anh em mình, thì cũng đáng bị đưa ra tòa rồi;  ai mắng anh em mình là đồ ngốc, thì đáng bị đưa ra trước Thượng hội đồng;  còn ai chửi anh em mình là đồ khùng, thì đáng bị lửa hỏa ngục thiêu đốt”  (Mt  5, 22).

  5. anh em hãy thương yêu nhau như Chúa nói:  “Đây là điều răn của Thầy:  anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”  (Ga  15, 12).

  6. Anh em hãy bày tỏ tình thương đối với nhau bằng việc làm (x.  Gc 2, 18), như thánh Tông đồ đã nói:  “chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương thực sự bằng việc làm”  (lGa 3, 18).

  7. “Anh em đừng thóa mạ ai”  (x.  Tt 3,2);

  8. đừng càm ràm, cũng đừng nói xấu người khác, vì có lời chép rằng:  “Thiên Chúa gớm ghét những kẻ nói hành nói xấu”  (x.  Rm 1, 29).

  9. Anh em hãy ăn ở khiêm tốn, “tỏ lòng nhân từ với mọi người”  (x.  Tt  3,2).

  10. Đừng xét đoán, đừng kết án.

  11. Và theo lời Chúa dạy, anh em đừng xét nét những sai phạm nhỏ nhặt của người khác (x.  Mt  7,3;  Lc  6, 41).

  12.  nhưng trái lại, hãy ghi nhớ tội lỗi mình “mà đau đớn trong lòng”  (Is 38, 15).

  13.  Anh em hãy cố gắng “đi qua cửa hẹp mà vào”  (Lc  13, 24), vì Chúa nói:  “Cửa hẹp và đường hẹp thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm thấy”  (Mt  7, 14).  

CHƯƠNG XII:  TRÁNH LỐI NHÌN GIAN TÀ VÀ GIAO DU VỚI NỮ GIỚI

  1. Tất cả anh em, dù ở đâu hay đi đâu, hãy lo tránh lối nhìn gian tà và giao du với nữ giới.

  2.  Không ai được chuyện trò hay đi đường một mình với họ, cũng đừng đồng bàn ăn uống với họ.

  3.  Các anh em linh mục hãy nói năng đứng đắn với họ lúc ban phép giải tội hay lúc hướng dẫn thiêng liêng.

  4. Tuyệt đối không một người phụ nữ nào được nhận sống vâng lời dưới quyền một anh em, nhưng, sau khi đã được hướng dẫn thiêng liêng, người nữ ấy hãy sống đời đền tội ở nơi nào tùy ý.

  5. Tất cả chúng ta hãy cẩn thận gìn giữ mọi chi thể cho thanh sạch, vì Chúa nói:  “Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi”  (Mt  5, 28);  còn thánh Tông đồ nói:  “anh em lại chẳng biết rằng thân xác anh em là đền thờ của Chúa Thánh Thần sao?”  (x.  lCr  6, 19)  vì thế, ai phá hủy đền thờ Thiên Chúa, thì Thiên Chúa sẽ tiêu diệt kẻ ấy”  (lCr  3, 17 ).

CHƯƠNG XIII:  TRÁNH TỘI TÀ DÂM

  1. Nếu có ai trong anh em, do ma quỉ xúi giục mà phạm tội tà dâm, thì phải cởi áo dòng ra:  người ấy phải chịu mất áo dòng do tội lỗi xấu xa đã phạm.  Người ấy phải vĩnh viễn rời bỏ áo dòng và bị trục xuất hẳn ra khỏi Dòng.

  2. Sau đó, người ấy phải ăn năn sám hối các tội lỗi mình (x.  lCr  5, 4-5).

 CHƯƠNG XIV:  TÁC PHONG ANH EM KHI ĐI RA GIỮA ĐỜI

  1. Khi anh em đi ra giữa đời, thì “đừng mang gì”  (x.  Lc  9, 3) đi đường, đừng mang theo túi tiền (x.  Lc 10, 4), đừng mang bao bị, lương thực, tiền bạc (x.  Lc 9, 3), cũng đừng mang gậy (x.  Mt 10, 10).

  2. “Khi vào bất cứ nhà nào, trước hết hãy chào:  chúc nhà này được bình an”  (x.  Lc 10, 5).

  3. Rồi cứ ở lại nhà ấy và ăn uống những của người ta dọn cho (x.  Lc10, 7).

  4. Đừng chống cự người ác (x.  Mt  5, 39), nhưng ai vả anh em má bên này, thì hãy giơ cả má bên kia nữa (x.  Mt  5, 39 và Lc  6, 29).

  5. “và ai đoạt áo ngoài của anh em, thì cũng đừng cản họ lấy áo trong”  (x.  Lc  6, 29).

  6. “Ai xin thì hãy cho; ai lấy cái gì của anh em thì đừng đòi lại”  (x.  Lc  6, 30).

 CHƯƠNG XV:  ANH EM KHÔNG ĐƯỢC ĐI NGỰA

            1. Tôi truyền cho tất cả anh em, giáo sĩ cũng như giáo dân, khi đi ra giữa đời hay lưu lại nơi nào, không được nuôi súc vật, bằng cách này hay bằng cách khác, trong nhà mình hay nơi nhà người khác.

            2. Anh em không được phép đi ngựa, trừ ra khi đau ốm hay khi có nhu cầu cấp bách.

 CHƯƠNG XVI:  NHỮNG ANH EM ĐẾN VỚI NGƯỜI HỒI GIÁO  VÀ CÁC DÂN NGOẠI KHÁC.

  1. Chúa nói:  “Này, Thầy sai anh em đi như chiên vào giữa bầy sói.

  2.  Vậy anh em phải khôn ngoan như con rắn và chân thực như chim câu”  (Mt 10, 16).

  3. Vì thế, nếu anh em nào muốn đến với người Hồi giáo và những dân ngoại khác, thì hãy ra đi với phép của Anh Phục vụ và tôi tớ của mình.

  4. Phần Anh Phục vụ, nếu thấy họ có khả năng để được sai đi, thì hãy cho phép chứ đừng từ khước, vì anh em sẽ phải trả lẽ trước mặt Chúa (x.  Lc  16, 2), nếu anh xử sự không thận trọng trong việc này cũng như trong những việc khác.

  5. Còn các anh em đến với dân ngoại, thì có thể sống theo Thánh khí bằng hai cách.

  6. Một là:  đừng tranh cải hay chống báng, nhưng hãy tuân phục “mọi người vì Thiên Chúa”  (1Pr  2, 13) và tuyên xưng mình là Kitô hữu.

  7. Hai là:  Khi thấy đẹp lòng Chúa, anh em hãy loan báo Lời Chúa, để lương dân tin vào Thiên Chúa toàn năng, là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, Đấng tạo thành muôn loài; cùng tin vào Chúa Con là Đấng cứu chuộc và cứu độ, để họ được thanh tẩy và trở thành Kitô hữu, vì “nếu ai không sinh lại bởi nước và Thần khí, sẽ không thể vào Nước Thiên Chúa được  (x.  Ga  3, 5).

  8. Anh em có thể nói cho họ và cho mọi người các điều trên và các điều khác đẹp lòng Chúa, vì Chúa nói trong Tin mừng:  “Phàm ai tuyên xưng Ta trước mặt thiên hạ, thì Ta cũng sẽ tuyên xưng họ trước mặt Cha Ta, Đấng ngự trên trời”  (Mt  10, 32).

  9. Và, “Ai xấu hổ vì Ta và những lời Ta dạy, thì Con Người cũng sẽ xấu hổ vì kẻ ấy, khi Người ngự đến trong ánh vinh quang của mình, của Chúa Cha và các thiên thần”  (x.  Lc  9, 26).

  10. Tất cả anh em, dù ở đâu, hãy nhớ rằng:  mình đã tự hiến và phó dâng thân mình cho Chúa Giêsu Kitô.

  11.  Vì lòng mến Chúa, anh em phải chấp nhận các nghịch thù, hữu hình cũng như vô hình, vì Chúa nói:  “ai liều mất mạng sống mình vì Ta, thì sẽ cứu được mạng sống ấy (x.  Lc  9, 24) và hưởng phúc trường sinh”  (Mt  25, 46).

  12. “Phúc thay ai bị ngược đãi vì chính đạo, vì họ sẽ được vào Nước Trời”  (Mt  5, 10).

  13. Nếu họ đã ngược đãi Thầy, họ cũng sẽ ngược đãi anh em”  (Ga  15, 20).

  14. Khi người ta “bách hại anh em trong thành này, thì hãy trốn sang thành khác”  (Mt  10, 23)

  15. “Anh em thật có phúc  (Mt 5, 11), khi thiên hạ ghét bỏ  (Lc  6, 22), nhục mạ (Mt  5, 11), ngược đãi anh em, khai trừ, nguyền rủa và xóa bỏ tên tuổi anh em như đồ phế thải  (Lc  6, 22) và khi bị người ta nhục mạ và vu khống đủ điều xấu xa vì Thầy”  (Mt  5, 11).

  16. “ngày đó, anh em hãy vui mừng hân hoan (Lc 6, 23), vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao”  (x.  Mt  5, 12).

  17.  “Thầy nói thật cho anh em là bạn hữu của Thầy:  đừng kinh khiếp những điều ấy”  (x.  Lc  12, 4),

  18. và đừng sợ hãi những kẻ chỉ giết được thân xác (Mt  10, 28) nhưng rồi không làm gì được nữa”  (Lc 12, 4)

  19. Hãy biết thế và đừng nao núng  (Mt  24, 6)

  20. “Có khiên nhẫn chịu đựng, anh em mới giữ được mạng sống mình”  (Lc  21, 19)

  21. “Và kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu độ”  (Mt  10, 22;  24, 13).

CHƯƠNG XVII:  CÁC ANH EM ĐI GIẢNG

  1. Không anh em nào được giảng dạy trái với thể thức và qui chế của Hội thánh, và khi chưa được Anh Phục vụ của mình cho phép.

  2. Phần Anh Phục vụ, hãy ý tứ đừng ban phép ấy cho ai một cách bất cẩn.

  3. Tuy nhiên, mọi anh em hãy giảng dạy bằng việc làm.

  4. Đừng một Anh Phục vụ hay một Anh giảng thuyết nào chiếm làm sở hữu riêng công việc phục vụ anh em hay trách nhiệm giảng dạy, bất cứ lúc nào được lệnh, anh em hãy từ bỏ chức vụ mình không chút phản kháng.

  5. Vì vậy, nhân danh Thiên Chúa là Tình yêu (x.  lGa 4, 16), tôi van nài tất cả anh em, các anh em giảng thuyết, cầu nguyện và lao động, giáo sĩ cũng như giáo dân, hãy cố gắng hạ mình trong mọi sự,

  6. đừng hãnh diện, vui mừng hay tự tôn trong lòng về những lời lành và việc thiện, hay về bất cứ điều tốt lành nào mà nhiều khi Thiên Chúa nói, làm hay thực hiện nơi anh em và nhờ anh em.  Chính Chúa đã nói:  “Anh em chớ vui mừng vì ma quỉ khuất phục anh em”  (Lc 10, 20)

  7. Chúng ta hãy xác tín rằng chúng ta chẳng có gì khác ngoại trừ nết xấu và tội lỗi.

  8. Chúng ta phải vui mừng “khi gặp thử thách trăm chiều”  (x.  Gc  1,2), và khi phải chịu mọi thứ sầu khổ, truân chiên trong tâm hồn hay ngoài thân xác ở đời này vì cuộc sống muôn đời.

  9. Cho nên, hỡi anh em, tất cả chúng ta hãy tránh xa mọi thứ kiêu ngạo và hư danh.

  10. Hãy giữ mình khỏi sự khôn ngoan thế tục và sự “khéo léo theo xác thịt”  (Rm  8, 6),

  11. Vì tinh thần thế tục ưa chuộng và tìm kiếm lời lẽ hơn việc làm ;

  12. chứ không tìm kiếm lòng đạo đức và thánh thiện nội tâm, nhưng lại ước muốn thứ đạo đức và thánh thiện bề ngoài nhằm phô trương cho thiên hạ.

  13. Họ là những người đã được Chúa nói đến:  “Thầy bảo thật anh em chúng đã được phần thưởng rồi”  (Mt  6,2).

  14. Còn Thần khí của Chúa muốn cho xác thịt sống khổ hạnh, chịu khinh dể, xấu xa và hèn hạ;

  15. tìm kiếm sự khiêm nhường nhẫn nại và sự bình an tinh tuyền, đơn sơ và chân thật của tâm hồn;

  16. và trên hết mọi sự, luôn luôn khao khát được Chúa ban cho mình lòng kính sợ, sự khôn ngoan và tình yêu đối với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

  17. Chúng ta hãy dâng trả mọi sự tốt lành về cho Chúa là Thiên Chúa tối cao và chí tôn.  Chúng ta hãy biết rằng mọi sự tốt lành là của Chúa và hãy tạ ơn Người về tất cả mọi sự;  Người là nguồn mạch mọi sự tốt lành.

  18. Xin Người là Thiên Chúa tối cao và chí tôn, duy nhất và chân thật nắm quyền sở hữu mọi danh dự và tôn kính, mọi lời ca ngợi và cung chúc, mọi lời tạ ơn và tôn vinh:  Chúng ta hãy dâng trả và xin Người nhận lấy.  Mọi của tốt lành đều thuộc về Người.  Chỉ một mình Người là Đấng tốt lành (x.  Lc  18, 19).

  19. Khi chúng ta nghe thấy ai nói, hoặc làm điều dữ, hoặc nguyền rủa Thiên Chúa, thì về phần chúng ta hãy nói điều lành, làm việc thiện và ngợi khen Thiên Chúa (x.  Rm 12, 21), “Người là Đấng được chúc tụng đến muôn thuở muôn đời”  (Rm 1, 25).  

CHƯƠNG XVIII:  CÁCH THỨC CÁC ANH PHỤC VỤ GẶP GỠ NHAU

  1. Hằng năm, vào dịp lễ Tổng lãnh Thiên thần Mi-ca-en, mỗi Anh Phục vụ có thể qui tụ anh em mình lại, ở đâu tùy ý, để bàn về việc phụng sự Thiên Chúa.

  2. Tất cả các Anh Phục vụ ở ngoài Nước Ý, cứ ba năm một lần, còn các Anh khác, mỗi năm một lần, hãy đến họp Tu nghị vào dịp lễ Ngũ tuần, tại Nhà Thờ Đức Bà ở Pooc-xi-un-cu-la, trừ khi anh Phục vụ và tôi tớ của toàn thể Huynh đệ đoàn quyết định thể khác.

 CHƯƠNG XIX:  ANH EM HÃY SỐNG ĐỨC TIN CÔNG GIÁO

  1. Tất cả anh em phải là người công giáo, sống và ăn nói như người công giáo.

  2. Nếu ai lệch xa đức tin và đời sống công giáo, trong lời nói hay việc làm, mà không chịu sửa mình, thì phải bị trục xuất khỏi Huynh đệ đoàn chúng ta.

  3. Chúng ta hãy xem tất cả các giáo sĩ và tu sĩ như những vị thầy của chúng ta khi các ngài dạy những điều liên hệ tới phần rỗi linh hồn và không đi ngược với đời sống tu trì của chúng ta.  Vì Chúa, chúng ta hãy tôn kính thánh chức, phận vụ và công việc của các ngài.

 CHƯƠNG XX:  VIỆC XƯNG TỘI VÀ RƯỚC MÌNH VÀ MÁU CHÚA GIÊSU KITÔ

  1. Các anh em được Chúa chúc phúc của tôi, giáo sĩ cũng như giáo dân, hãy xưng thú tội lỗi mình với các linh mục Dòng chúng ta.

  2. Nếu không thể được, anh em hãy xưng tội với các linh mục khác, khôn ngoan và công giáo.  Anh em hãy biết chắc rằng, khi đã nhận lãnh việc đền tội và lời tha tội do bất cứ linh mục công giáo nào ban, thì chắc chắn anh em được tha hết mọi tội lỗi, miễn là khiêm nhường và trung thành chu toàn việc đền tội mà linh mục đã ấn định.

  3. Nếu khi nào anh em không thể gặp được linh mục, thì hãy xưng thú với một người anh em, như thánh tông đồ Gia-cô-bê nói:  “Anh em hãy thú tội với nhau”  (Gc  5, 16).

  4. Tuy nhiên, không phải vì thế mà anh em được miễn đến với các linh mục, bởi vì chỉ các linh mục mới có quyền cầm buộc và tháo cởi mà thôi.

  5. Sau khi đã thống hối và xưng tội, anh em hãy hết lòng khiêm nhường và cung kính tiếp rước Mình và Máu Chúa Giêsu Kitô.  Anh em hãy nhớ lại lời Chúa nói:  “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời”  (x.  Ga  6, 55),

  6. và “Các con hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy”  (Lc  22, 19).

 CHƯƠNG XXI:  LỜI LẼ MÀ MỌI ANH EM CÓ THỂ DÙNG ĐỂ NGỢI KHEN THIÊN CHÚA  VÀ MỜI GỌI MỌI NGƯỜI CẦU NGUYỆN.

  1. Tất cả anh em, khi nào tùy ý, có thể dùng những lời này hoặc những lời tương tự để ngợi khen Thiên Chúa và kêu mời mọi người cầu nguyện, và Thiên Chúa sẽ chúc lành cho.

  2. Hãy kính sợ và tôn vinh, hãy ngợi khen và cung chúc, hãy tạ ơn (lTx 5, 18) và thờ lạy Chúa là Thiên Chúa toàn năng, một Chúa và là Ba ngôi, Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, Đấng Tạo hóa muôn loài.

  3. Hãy hoán cải (x.  Mt 3, 2), hãy sinh hoa trái xứng với lòng hoán cải (x.  Lc 3, 8), vì rồi đây chúng ta sẽ phải chết.

  4.  “Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại”  (Lc 6, 38).

  5. “Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha”  (Lc 6, 37).

  6.  “Nếu anh em không tha thứ cho người ta, Chúa cũng sẽ không tha tội cho anh em”  (x.  Mt 6, 14; Mc 11, 25).  Anh em hãy xưng thú mọi tội lỗi của mình (x.  Gc 5, 16)

  7. Phúc thay kẻ từ giã cõi đời này sau khi đã ăn năn sám hối, vì họ sẽ được vào Nước Trời.

  8. Khốn thay người chết mà không ăn năn sám hối:  họ là “con cái ma quỉ” (lGa  5, 10) vì đã làm những việc nó làm Hãy ý tứ và lánh xa mọi sự dữ.  Hãy kiên trì sống tốt lành cho đến cùng.

CHƯƠNG XXII: LỜI KHUYÊN BẢO ANH EM  

  1. Hỡi tất cả anh em, chúng ta hãy lắng nghe Chúa nói:  “Hãy yêu mến thù địch và làm ơn cho những người oán ghét các con” (Mt 5,44 và song song);

  2. Vì Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, Đấng mà chúng ta phải bước theo vết chân (x.  lPr 2, 21), đã gọi kẻ phản bội mình là bạn hữu (x.  Mt 26-50) và sẵn sàng trao thân cho kẻ đóng đinh mình.

  3. Vậy bạn hữu của chúng ta là những người vô cớ mà gieo ưu phiền và lo lắng, sĩ nhục và lăng mạ, đau đớn và cực hình, khiến chúng ta phải chịu tử đạo.

  4. Chúng ta  phải yêu mến họ hết lòng, vì do những gian truân mà họ gây ra cho chúng ta, mà chúng ta được sống đời đời.

  5. Chúng ta hãy chê ghét thân xác chúng ta, cùng với các nết xấu và tội lỗi.  Bằng lối sống theo xác thịt, ma quỉ muốn chúng ta đừng yêu mến Chúa Kitô và đánh mất cuộc sống vĩnh cửu, và như thế, nó muốn lôi kéo tất cả mọi người xuống hỏa ngục với nó.

  6. Vì tội lỗi chúng ta đã ra thối tha, khốn nạn, ghét điều lành, mau mắn vui lòng theo điều dữ.  Chính Chúa nói trong tin mừng:

  7. Từ lòng con người phát xuất những suy tính xấu xa, ngoại tình, dâm bôn, giết người, trộm cắp, tham lam, độc ác, xảo trá, phóng đảng, con mắt nham hiểm, chứng gian, phỉ báng, ngông cuồng (x.  Mc 7, 21-22; Mt  15, 19).

  8. Mọi điều xấu xa đều từ trong lòng người mà xuất ra (x.  Mc 7, 23).  “Chính chúng làm cho con người ra ô uế” (Mt, 15, 20).

  9. Nhưng bây giờ sau khi đã từ bỏ thế gian, chúng ta chỉ có một việc phải làm là tuân theo thánh ý Chúa và làm đẹp lòng Người.

  10. Chúng ta phải hết sức quan tâm để đừng trở nên thứ đất bên vệ đường, hoặc có sỏi đá, hoặc đầy gai góc, như Chúa nói trong Tin mừng:

  11. “Hạt giống là lời Thiên Chúa” (Lc 8, 11).

  12. Hạt rơi xuống  vệ đường và bị người ta dẫm lên là những người nghe Lời  Chúa nhưng không hiểu (x.  Lc 8, 5.12;  Mt 13, 19);

  13. lập tức ma quỉ đến cướp lấy những gì đã được gieo trong lòng họ và gạt Lời Chúa ra khỏi lòng họ, kẻo họ tin mà được cứu độ (x.  Mc 4, 15;  Lc 8, 12;  Mt 13, 19)

  14. Hạt rơi trên đất sỏi đá là những người nghe Lời liền vui vẻ đón nhận (x.  Mt 13, 20; Mc 4, 16;  Lc 8, 13).

  15. Nhưng khi gặp gian nan và bị bắt bớ vì Lời Chúa, thì liền vấp ngã: họ không đâm rễ trong lòng, họ là những kẻ nông nổi, vì họ tin theo thời, nên khi gặp cơn thử thách, họ liền thoái lui (x.  Mt 13, 21;  Mc 4, 17;  Lc 8, 13).

  16. Hạt rơi vào bụi gai là những kẻ nghe Lời Thiên Chúa, nhưng để cho những nỗi lo lắng buồn phiền đời này và ảo ảnh phú quí cùng những khoái lạc cuộc đời  lấn át Lời Chúa nên họ không sinh hoa trái được (x.  Lc 8, 14;  Mc 4, 18-19;  Mt 13, 22).

  17. Còn hạt rơi vào đất tốt là những kẻ lấy tâm thành thiện ý mà nghe lời Chúa, tìm hiểu, nắm giữ và nhẫn nại sinh hoa kết quả (x.  Lc 8, 15;  Mt 13, 23).

  18. Bởi vậy hỡi anh em như Lời Chúa nói, chúng ta hãy để “kẻ chết chôn kẻ chết”  (Mt 8, 22).

  19. Chúng ta hãy giữ mình cẩn thận cho khỏi rơi vào mưu gian và thủ đoạn tinh vi của ma quỉ.  Nó muốn con người đừng hướng lòng trí về Thiên Chúa.

  20. Nên nó cứ rảo quanh, ước ao chiếm lấy lòng người ta bằng vẻ hào nhoáng của một phần thưởng, hay giúp đỡ.  Nó muốn người ta quên lãng Lời Chúa và các giới răn của Người.  Nó muốn làm mù quáng lòng người bằng những công chuyện và những lo lắng đời này, để vào ở đấy.  Chính Chúa đã nói:

  21.  “Khi tà thần xuất khỏi người nào, thì nó đi rảo qua những nơi khô cằn tìm chốn nghỉ ngơi (Mt 12, 43);

  22. Vì tìm không ra, nó nói:  Ta sẽ trở về nhà ta, nơi ta đã bỏ ra đi (Lc 11, 24).

  23.  Về đến nơi, nó thấy nhà để trống, lại được quét tước, dọn dẹp hẳn hoi (Mt 12, 44).

  24. Nó liền đi kéo thêm 7 quỉ khác dữ hơn nó, và chúng vào ở đó, nên tình trạng sau cùng của người ấy lại còn tệ hơn trước nữa” (x.  Lc 11, 26).

  25. Vậy, hỡi tất cả anh em, chúng ta hãy hết sức giữ mình, đừng để vẻ hào nhoáng của một phần thưởng, một công việc hay một sự trợ giúp nào làm lòng trí chúng ta lạc xa Chúa.

  26. Nhưng vì nhân danh Thiên Chúa là Tình Yêu (x. lGa 4, 16), tôi xin tất cả anh em, các anh phục vụ cũng như mọi anh em khác, hãy loại bỏ mọi ngăn trở và gạt qua một bên mọi nỗi lo lắng và bận rộn, để ra sức phụng sự, yêu mến, tôn vinh và thờ phượng Thiên Chúa với lòng thanh trí sạch.  Đó là điều Chúa mong muốn hơn cả.

  27. Chúng ta phải luôn lấy lòng mình làm đền thờ và ngôi nhà Chúa ngự (x. Ga 14,23): Người là Thiên Chúa toàn năng, Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.  Người đã phán: “Các con phải tỉnh thức và cầu nguyện luôn luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều dữ sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người” (Lc 21, 36). 

  28. Khi anh em đứng cầu nguyện, anh em hãy nói:  “Lạy Cha chúng con ở trên trời”  (Lc 21, 36;  Mc 11, 25;  Lc 11, 2;  Mt 6, 9).

  29. Chúng ta hãy thờ phượng Người với tấm lòng trong sạch, “phải cầu nguyện luôn không được nản chí”  (Lc 18, 1);

  30. Vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế.

  31. Thiên Chúa là Thần khí và những kẻ thờ phượng Người, phải thờ phượng theo Thần khí và sự thật (x.  Ga 4, 23-24).

  32. Chúng ta hãy chạy đến với Người như đến với “vị Mục tử, Đấng chăm sóc linh hồn chúng ta”  (lPr 2, 25).  Chính Người nói:  “Tôi là người mục tử nhân lành, tôi nuôi các chiên tôi và hy sinh mạng sống cho đoàn chiên”.

  33. Tất cả đều là anh em với nhau;

  34. nên anh em đừng gọi ai dưới đất này là cha, vì anh em chỉ có một Cha, Đấng ngự trên trời.

  35. Anh em cũng đừng để ai gọi mình là thầy, vì anh em chỉ có một Thầy, Đấng ngự trên trời  (x.  Mt 23, 8-10).

  36. “Nếu anh em ở trong Thầy, và lời Thầy ở trong anh em, thì anh em muốn điều gì, cứ việc xin, và anh em sẽ được như ý”  (Ga 15, 7).

  37.  “Ở đâu có hai, ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở giữa họ”  (Mt  18, 20).

  38. “Đây Thầy ở cùng anh em cho đến tận thế”  (Mt  28, 20).

  39.  “Những lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống”  (Ga  6, 64).

  40.  Thầy là đường, là sự thật và là sự sống”  (Ga 14, 6).

  41.  Vậy, chúng ta hãy nắm giữ lời lẽ, nếp sống, đạo lý và thánh Phúc âm của Chúa, Đấng đã đoái thương nguyện xin Chúa Cha cho chúng ta và tỏ bày Danh Cha cho chúng ta, khi nói rằng:  “Lạy Cha, xin tôn vinh Danh Cha và hãy tôn vinh Con Cha để Con Cha tôn vinh Cha (Ga 12, 28a;  17, 1b).

  42.  Lạy Cha, những kẻ Cha đã ban cho Con (Ga 17, 6), Con đã cho họ biết Danh Cha; vì Con đã ban cho họ những lời mà Cha đã ban cho Con.  Họ đã tiếp nhận những lời ấy.  Họ biết thật rằng Con đã từ Cha mà đến, và họ đã tin là Cha đã sai Con.

  43.  Con cầu nguyện cho họ, chứ không cho thế gian,

  44. tức là cho những kẻ Cha đã ban cho Con, bởi vì họ thuộc về Cha, và tất cả những gì của Con đều là của Cha (Ga 17, 8-10).

  45.  Lạy Cha chí thánh, xin gìn giữ trong Danh Cha những người mà Cha đã ban cho Con, để họ nên một như chúng ta (Ga  17, 11b).

  46. Con nói những điều này lúc còn ở thế gian để họ được hưởng niềm vui.

  47. Con đã truyền lại Lời của Cha cho họ; và thế gian đã ghét họ, vì họ không thuộc về thế gian. 

  48. Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi tay ác thần (Ga  17, 13b-15).

  49. Xin Cha trang điểm họ bằng chân lý.

  50. Lời Cha là chân lý.

  51. Như Cha đã sai Con đến trong thế gian, thì Con cũng sai họ đến trong thế gian.

  52. Vì họ, Con xin thánh hiến mình Con, để họ cũng được thánh hiến cách chân thật.

  53. Con không chỉ cầu xin cho họ, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào Con (x.  Ga 17, 17-20), để họ được hoàn toàn nên một, và để thế gian nhận biết rằng Cha đã sai Con và đã yêu thương họ, như đã yêu thương Con  (Ga 17, 23). Con sẽ cho họ biết Danh Cha, để tình Cha đã yêu thương Con ở trong họ, và Con cũng ở trong họ nữa (x.  Ga 17, 26).

  54. Lạy Cha, Con muốn rằng Con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho Con cũng ở đó với Con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của Cha (x.  Ga 17, 24) trong Nước Cha (Mt 20, 21).  Amen.  

 CHƯƠNG XXIII: LỜI CẦU NGUYỆN VÀ TẠ ƠN

  1. Lạy Thiên Chúa toàn năng, chí thánh cao cả, là Chúa Cha thánh thiện (Ga  17, 11) và công minh là Đức Vua Chúa tể trời đất (x.  Mt  11, 25), chúng con xin dâng lời cảm tạ, chỉ vì chính Cha mà thôi, vì do bởi thánh ý Cha và nhờ Thánh Tử duy nhất cùng với Thánh Thần, Cha đã dựng nên muôn vật hữu hình và vô hình, và đã dựng nên chúng con theo hình ảnh và giống như Cha, rồi cho ở trong vườn địa đàng (x.  St 1, 26; 2, 15).

  2. Nhưng chúng con đã sa ngã vì đã phạm tội.

  3. Chúng con xin dâng lời cảm tạ, vì cũng như Cha đã dựng nên chúng con nhờ Con Cha, thì Cha cũng yêu thương chúng con (x.  Ga 17, 26) bằng một tình yêu thánh thiện.  Cha đã cho Người ra đời:  Người là Thiên Chúa thật và là người thật.  Người đã sinh ra làm con Đức Trinh nữ Maria hiển vinh và thánh thiện.  Cha đã muốn Người đổ máu đào và chết trên thập giá để cứu chúng con khỏi ách nô lệ.

  4. Chúng con xin dâng lời cảm tạ, vì chính Thánh Tử sẽ ngự đến trong vinh quang.  Người sẽ xua đuổi vào lửa muôn đời những kẻ bị chúc dữ, xưa kia đã không hoán cải và không tin nhận Cha.  Người cũng sẽ nói với tất cả những ai đã nhận biết, tôn thờ và phụng sự Cha trong đời sống hoán cải:  “Hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng vương quốc mà Cha Ta đã dọn sẵn cho các con từ thuở tạo thành thế giới (x.  Mt 25, 43).

  5. Vì tất cả chúng con đều khốn nạn và tội lỗi, không đáng kêu cầu Danh Cha, nên chúng con tha thiết nài xin Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con, là “Con yêu dấu của Cha, Đấng làm vui lòng Cha hết mực (x.  Mt 17, 5), để Người cùng với Chúa Thánh Thần, Đấng bảo trợ, cảm tạ Cha về tất cả mọi sự, hợp theo ý của Cha và của Người.  Vì Người hằng làm toại lòng Cha trong mọi sự, và nhờ Người, Cha đã làm bao việc cho chúng con.  Halêluia.

  6. Chúng con cũng khiêm tốn nài van xin Mẹ Maria hiển vinh, trọn đời đồng trinh các thánh Tổng lãnh Thiên thần Mi-ca-en, Gáp-ri-en, Ra-pha-en cùng toàn thể ca đoàn các thánh thiên thần, thánh Gio-an tẩy giả, thánh Gio-an tác giả Tin Mừng, thánh Phêrô, thánh Phaolô, các thánh Tổ phụ, Ngôn sứ, Anh hài, Tông đồ, các thánh Tác giả Tin mừng, các thánh môn đệ, các thánh Tử đạo, Hiển tu và Trinh nữ, thánh Ê-li-a và Hê-nốc, cùng toàn thể chư thánh, từ xưa tới nay và sau này nữa: xin các Ngài, vì lòng mến Cha, dâng lên Cha lời cảm tạ về hết mọi sự hợp theo ý Cha là Thiên Chúa tối cao và chân thật, hằng sống muôn đời, cùng với Thánh Tử chí ái là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con, và cùng với Chúa Thánh Thần, Đấng bảo trợ, “đến muôn thuở muôn đời” (Kh 9, 13).  “Amen, Ha-lê-lui-a”  (Kh 19, 4).

  7. Xin tất cả những ai trong Hội thánh công giáo và tông truyền, muốn phụng sự Thiên Chúa, tất cả các phẩm trật: các linh mục, phó tế, phụ phó tế, các thầy phục vụ bàn thờ, trừ quỉ, đọc sách, giữ cửa và tất cả các giáo sĩ, tất cả các nam nữ tu sĩ, tất cả các trợ sĩ và các em giúp việc, những người nghèo khổ túng cực, các bậc vua chúa quan quyền, các công nhân và nông dân, các tôi tớ và các chủ nhân, tất cả các trinh nữ các kẻ độc thân và các người vợ gia đình, các giáo hữu nam nữ, toàn thể các em thiếu nhi và thiếu niên, thanh niên và các phụ huynh, những người khỏe mạnh và đau ốm, tất cả những kẻ thấp hèn cũng như những bậc cao trọng, và mọi dân, mọi nước, mọi chi tộc và mọi ngôn ngữ (x.  Kh 7, 9), mọi quốc gia và mọi người hiện đang sống và sẽ sống tại khắp nơi trên mặt đất: tất cả chúng tôi là những anh em hèn mọn, “những đầy tớ vô dụng” (Lc 17, 10), khiêm tốn cầu xin và van nài tất cả quí vị hãy kiên vững trong đức tin chân thật và trong đời hoán cải, vì nếu không thì chẳng một ai có thể được cứu độ.

  8. Hết thảy chúng ta hãy yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết nghị lực, hết sức khỏe, hết ý nghĩ, hết mọi sức lực, với tất cả cố gắng, tất cả tình cảm, tất cả tâm can, tất cả lòng muốn và ý chí (x.  Mc 12, 30.33; Lc 10, 27).  Chính Người đã ban và đang ban cho tất cả chúng ta toàn thân xác, linh hồn và sự sống.  Chính Người đã dựng nên, cứu chuộc và sẽ cứu độ chúng ta, chỉ vì Người là Đấng từ bi nhân hậu.  Chúng ta là những kẻ bần cùng và khốn nạn, thối tha và hư hỏng, vô ơn và xấu xa, thế mà Người đã và vẫn còn ban cho chúng ta mọi điều tốt lành.

  9. Vậy, chúng ta đừng ước ao, đừng ham muốn, cũng đừng vui thích hay yêu quí điều gì khác ngoài Đấng Tạo hóa, Cứu chuộc và cứu độ chúng ta:  chỉ mình Người là Thiên Chúa thật, là sự thiện viên mãn, tất cả sự thiện, sự thiện vẹn toàn, sự thiện chân thật và tối thiện; chỉ mình Người là tốt lành (x.  Lc 18, 19), khoan nhân, khả ái, ngọt ngào và dịu hiền; chỉ mình Người là thánh thiện, công chính, chân thật, thánh thiện và ngay thẳng; chỉ mình Người là nhân từ, vô tội, trong trắng; do Người, nhờ Người và trong Người (x.  Rm  11, 36), mà mọi ơn tha thứ, mọi phúc lành, mọi vinh quang được ban xuống cho tất cả những ai sống đời hoán cải và công chính, cho tất cả các thánh đang hưởng hoan lạc trên trời.

  10. Vậy, chúng ta đừng để điều gì ngăn cản, tách biệt và chia lìa chúng ta với Chúa.

  11. Khắp mọi nơi, mọi lúc và mọi thời buổi, hằng ngày chẳng lúc nào ngơi, tất cả chúng ta hãy thật sự và khiêm tốn tin kính ghi nhớ trong lòng, yêu mến, tôn kính, thờ phượng, phụng sự, ca ngợi, chúc tụng, tôn vinh, tán dương, dâng lời ngợi khen và cảm tạ Thiên Chúa vĩnh cửu, chí thánh, chí tôn một Chúa và là Ba ngôi: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, Đấng đã dựng nên muôn loài và cứu độ tất cả những ai tin kính trông cậy và yêu mến Người; Người là Đấng vô thủy vô chung, thường hằng bất biến người ta không thể thấy được, không thể nói ra được, không thể diễn tả được, không thể hiểu được, không thể truy tầm được (x.  Rm 11, 33); Người đáng chúc tụng, ca ngợi, tôn vinh, tán dương; Người sâu thẳm, cao vời, ngọt ngào, khả ái, chan chứa hoan lạc, đáng khát khao trên hết mọi sự cho đến muôn đời.  Amen.

 CHƯƠNG XXIV: KẾT LUẬN

  1. Nhân danh Chúa!  Tôi xin tất cả anh em hãy học hỏi nội dung và ý nghĩa của những điều được viết ra trong qui luật sống này và năng nhớ lại, hầu linh hồn ta được cứu độ.

  2. Tôi nguyện xin Thiên Chúa,là Đấng toàn năng, Ba ngôi và một Chúa, chúc lành cho tất cả những ai giảng dạy, học hỏi, giữ gìn, ghi nhớ và đưa ra thực hành những điều này, mỗi khi họ nhắc lại và thực thi những điều được chép ở đây vì phần rỗi linh hồn chúng ta.

  3. Tôi hôn chân và xin anh em hãy tha thiết yêu mến, cất giữ và bảo toàn bản văn này.

  4.  Thừa lệnh Thiên Chúa toàn năng và đức Giáo Hoàng, cùng vì đức vâng phục, tôi là tu sĩ Phan-xi-cô kiên quyết truyền dạy và ra lệnh là: không ai được thêm, bớt điều gì vào bản văn này (x.  Đnl 4, 2; 13, 32) và anh em cũng đừng theo một bản luật nào khác.

  5. Vinh danh Chúa Cha và Chúa Con,

 

Cùng vinh danh Thánh Thần Thiên Chúa,

Tự muôn đời và chính hiện nay,

Luôn mãi đến thiên thu vạn đại.

AMEN.

 

 

2. CÁC ĐOẠN VĂN CỦA MỘT BẢN LUẬT KHÁC KHÔNG SẮC DỤ

CÁC ĐOẠN VĂN TRONG BẢN SAO WORCESTER

 

BẢN VĂN  

  1. Hỡi tất cả anh em, chúng ta hãy lắng nghe Chúa nói:  “Hãy yêu mến thù địch và làm ơn cho những người oán ghét các con”  (x.  Lc 6, 27), vì Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, Đấng mà chúng ta phải bước theo vết chân (x.  1Pr 2, 21) đã  gọi kẻ phản bội mình là bạn hữu và sẵn sàng trao thân cho những kẻ đóng đinh mình.

  2. Vậy bạn hữu của chúng ta là những người vô cớ mà gieo ưu phiền và lo lắng, sĩ nhục và lăng mạ, đau đớn và cực hình, khiến chúng ta phải chịu tử đạo.  Chúng ta phải yêu mến họ hết lòng, vì do những gian truân mà họ gây ra cho chúng ta, mà chúng ta được sống đời đời.

  3. Chúng ta hãy chê ghét thân xác chúng ta, đóng đinh nó cùng các nết xấu, dục vọng và tội lỗi, vì bằng lối sống theo xác thịt, nó muốn chúng ta đừng yêu mến Chúa Kitô và đánh mất cuộc sống vĩnh cửu, rồi xuống hỏa ngục cùng với linh hồn.

  4. Vì tội lỗi, chúng ta đã ra thối tha, ghét điều lành, mau mắn vui lòng theo điều dữ.

  5. Chính Chúa nói:  “từ lòng con người phát xuất những suy tính xấu xa” (Mc 7, 21)  VÂN VÂN…

  6. Nhưng bây giờ, sau khi đã từ bỏ thế gian, chúng ta chỉ có một việc phải làm là tuân theo ý Người và làm đẹp lòng Người.

  7. Chúng ta phải hết sức quan tâm để đừng trở nên thứ đất sỏi đá hoặc gai góc bên vệ đường, như Chúa nói trong Tin mừng:  “Hạt giống là Lời Thiên Chúa”  (Lc  8,  11);  “Hạt rơi xuống vệ đường, bị người ta giẫm lên”  (Lc 8, 5).

  8. VÂN VÂN CHO ĐẾN CHỖ NÀY:  “nhẫn nại sinh hoa kết quả”  (Lc  8, 15).

  9. Bởi vậy, hỡi anh em, như Lời Chúa nói, chúng ta hãy để “kẻ chết chôn kẻ chết”  (x.  Mt  8, 22).

  10. Chúng ta hãy giữ mình cẩn thận cho khỏi rơi vào mưu gian và thủ đoạn tinh vi của ma quỉ.  Nó muốn con người đừng hướng sức lực và tâm hồn về Thiên Chúa.

  11. Nên nó cứ rảo quanh, ước ao chiếm lấy lòng người ta bằng vẻ hào nhoáng của một phần thưởng hay giúp đỡ.  Nó muốn người ta quên lãng Lời Chúa và các giới răn của Người.  Nó muốn ngự trị trong lòng con người và làm mù quáng bằng những công chuyện và những lo lắng đời này.

  12. Chính Chúa đã nói:  “Khi tà thần xuất khỏi Người nào”(Mt  12, 43)

  13. VÀ VÂN VÂN CHO ĐẾN CHỖ NÀY:

  14.  “tình trạng sau cùng của người ấy lại còn tệ hơn trước nữa”  (Mt  12, 45).

  15. Vậy, hỡi tất cả anh em, chúng ta hãy hết sức giữ mình đừng để vẻ hào nhoáng của một công việc, một phần thưởng hay một sự trợ giúp nào làm lòng trí chúng ta lạc xa Chúa.

  16. Nhưng, nhân danh Thiên Chúa là Tình yêu (x.  lGa 4, 16), tôi xin tất cả anh em các Anh Phục vụ cũng như mọi anh em khác, hãy loại bỏ mọi ngăn trở và gạt qua một bên mọi nỗi lo lắng và bận rộn, để ra sức yêu mến, phụng sự và thờ phượng Thiên Chúa với lòng thanh trí sạch.  Đó là điều Chúa mong muốn hơn cả.

  17. Chúng ta phải luôn luôn trở nên đền thờ và ngôi nhà cho Chúa (x.  Ga 14, 23):  Người là Thiên Chúa toàn năng, Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.  Người đã phán:  “Các con phải tỉnh thức và cầu nguyện luôn luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều dữ sắp xảy đến và đứng trước mặt Con Người”  (Lc 1, 36).  Khi anh em đứng cầu nguyện (Mc  11, 25), anh em hãy nói (Lc  11, 2)”Lạy Cha chúng con”  (Mt  6, 9). Chúng ta hãy thờ phượng Người với tấm lòng trong sạch, “phải cầu nguyện luôn, không được nản chí”  (Lc  18, 1); vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế (x.  Ga  4, 23).

  18. Thiên Chúa là Thần khí, và những kẻ thờ phượng Người, phải thờ phượng theo Thần khí và Sự Thật (Ga 4, 24).

  19. Chúng ta hãy chạy đến với Người như đến với “Vị Mục tử, Đấng chăm sóc linh hồn chúng ta”  (1Pr 2, 25).  Chính Người nói:  “Tôi là người mục tử nhân lành”  (Ga  10, 11)  VÀ VÂN VÂN CHO ĐẾN CHỖ NÀY:  “Tôi hi sinh mạng sống cho đoàn chiên”  (Ga 10, 15).

  20.  Tất cả đều là anh em với nhau.  Nên anh em đừng gọi ai dưới đất này là cha (Mt  23, 8-9)  VÀ VÂN VÂN…

  21.  Đừng gọi ai là Thầy (Mt  23, 10)  VÀ VÂN VÂN…

  22. “Nếu anh em ở trong Thầy và lời Thầy ở trong anh em, thì anh em muốn điều gì, cứ việc xin”  (Ga  15, 7).

  23.  “Ở đâu có hai, ba người họp lại nhân danh Thầy”  (Mt  18, 20) VÀ VÂN VÂN…

  24.  “Đây Thầy ở cùng anh em mọi ngày”  (Mt  28, 20)  VÀ VÂN VÂN…

  25.  “Những lời Thầy nói với anh em là Thần khí và là sự sống”  (Ga  6, 64).

  26.  “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống”  (Ga  14, 6).

  27.   Vậy, chúng ta hãy nắm giữ lời lẽ, đạo lý, nếp sống và thánh Phúc âm của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.  Người đã đoái thương nguyện xin Chúa Cha cho chúng ta và tỏ bày Danh Cha cho chúng ta, khi nói rằng:  Lạy Cha, “Con đã mạc khải Danh Cha cho loài người”  (Ga  17,6)  VÀ VÂN VÂN CHO ĐẾN CHỖ NÀY:

  28. “Lạy Cha, Con muốn rằng Con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho Con, cũng ở đó với Con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của Con”  (x.  Ga 17, 24) trong Nước Cha (Mt 20, 21).

  29.  Vinh danh Chúa Cha và Chúa Con Cùng vinh danh Thánh Thần Thiên Chúa, Tự muôn đời và chính hiện nay, Luôn mãi đến thiên thu vạn đại.  Amen.

  30.  Anh em hãy yêu mến những người nghèo như yêu mến lẫn nhau, như Thánh Tông đồ đã nói:  “Chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi (lGa 3, 18) VÀ VÂN VÂN…

  31.  Tất cả anh em, dù ở đâu, hãy tránh lối nhìn gian tà và giao du với nữ giới.  Không ai được chuyện trò một mình với họ. 

  32. SAU ĐÂY NỮA: Tất cả chúng ta hãy giữ mình và các giác quan cho thanh sạch vì Chúa nói:  “Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn”  (Mt 5, 28)  VÀ VÂN VÂN…  

  33. SAU ĐÂY NỮA: Khi anh em đi ra giữa đời, thì đừng mang gì đi đường, đừng mang bị, túi,    lương thực và tiền bạc (Lc 9, 3), gậy và giầy dép (x.  Mt 10, 10).

  34. SAU ĐÂY NỮA: Đừng chống cự người ác nhưng ai vả anh em má bên này, thì hãy giơ cả má   bên kia nữa (x.  Mt 5, 39).

  35. “Ai đoạt áo ngoài của anh em, thì cũng đừng cản họ lấy áo trong”  (x.  Lc 6, 29).  “Ai lấy cái gì của anh em, thì đừng đòi lại”  (x.Lc 6, 30).

  36. Những anh em được phép của Anh Phục vụ đến với dân ngoại, thì có thể sống theo Thần khí bằng hai cách:

  37. một là:  Đừng tranh cãi hay chống báng, nhưng hãy tuân phục “mọi người vì Thiên Chúa”  (lPr 2, 13), và tuyên xưng mình là Kitô hữu;

  38.  hai là: Khi thấy đẹp lòng Chúa, anh em hãy loan báo Lời Chúa để lương dân tin vào Thiên Chúa, Chúa Cha toàn năng, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

  39. SAU ĐÂY NỮA:  Tất cả anh em, dù ở đâu, hãy nhớ rằng: mình đã tự hiến và phó dâng mình cho Chúa Giêsu Kitô.

  40. Vì lòng mến Chúa, anh em phải chấp nhận các nghịch thù, hữu hình và vô hình, bắt bớ và giết hại.  VÂN VÂN…SAU ĐÂY NỮA:

  41. Anh em hãy rao giảng bằng tất cả phong cách của mình.

  42. Đừng một Anh Phục vụ hay một anh giảng thuyết nào chiếm làm sở hữu riêng công việc phục vụ hay trách nhiệm giảng dạy, nhưng bất cứ lúc nào được lệnh, anh em hãy từ bỏ chức vụ mình.

  43. Vì vậy nhân danh Thiên Chúa là Tình yêu (x.  lGa 4, 16), tôi van nài tất cả anh em, các anh em giảng thuyết, cầu nguyện và lao động, giáo sĩ cũng như giáo dân, hãy cố gắng hạ mình trong mọi sự,

  44. đừng hãnh diện, vui mừng hay tự tôn trong lòng về những lời lành và việc thiện, hay vì bất cứ điều tốt lành nào, mà nhiều khi Thiên Chúa nói, làm, hay thực hiện nơi họ và nhờ họ.  Chính Chúa đã nói:  “Anh em chớ vui mừng vì ma quỉ khuất phục anh em”  (Lc 10, 20) VÀ VÂN VÂN…

  45. Chúng ta hãy xác tín rằng:  chúng ta chẳng có gì khác ngoại trừ nết xấu và tội lỗi.

  46. Chúng ta phải vui mừng “khi chịu thử thách trăm chiều”  (x.  Gc 1,2) và khi phải chịu mọi thứ sầu khổ truân chiên trong tâm hồn hay ngoài thân xác, ở đời này vì cuộc sống muôn đời.

  47. Cho nên, hỡi anh em, tất cả chúng ta hãy tránh xa mọi thứ kiêu ngạo và hư danh.  Hãy giữ mình khỏi sự khôn ngoan thế tục và sự “khéo léo theo xác thịt”  (Rm 8, 6).

  48. Vì tinh thần thế tục ưa chuộng và tìm kiếm lời lẽ hơn việc làm,

  49. chứ không tìm kiếm lòng đạo đức và thánh thiện nội tâm, nhưng lại ước muốn thứ đạo đức và thánh thiện bề ngoài nhằm phô trương cho thiên hạ.

  50. Họ là những người đã được Chúa nói đến: “Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi”  (Mt 6,2).

  51. Còn Thần khí của Chúa muốn cho xác thịt sống  khổ hạnh, chịu khinh dể, xấu xa, ruồng bỏ và ô nhục;

  52.  tìm kiếm sự khiêm nhường, nhẫn nại, sự đơn sơ tinh tuyền và bình an chân thật của tâm hồn.

  53. Và trên hết mọi sự, luôn luôn khao khát được Chúa ban cho mình lòng kính sợ, sự khôn ngoan và tình yêu đối với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

  54.  Chúng ta hãy dâng trả mọi sự tốt lành về cho Chúa là Thiên Chúa tối cao và chí tôn.  Chúng ta hãy biết rằng mọi sự tốt lành là của Chúa.

  55.   Xin Người nhận lấy mọi danh dự và tôn kính, mọi lời ca ngợi và cung chúc, mọi lời tạ ơn và tôn vinh: mọi của tốt lành đều thuộc về Người.  Chỉ một mình Người là Đấng tốt lành (x.  Lc 18, 19).

  56. Khi chúng ta nghe ai nói những lời độc ác hoặc nguyền rủa Chúa, chúng ta hãy nói điều lành, làm việc thiện và ngợi khen Thiên Chúa, “Người là Đấng được chúc tụng đến muôn thuở muôn đời”  (x.  Rm  1, 25).

  57. Chúng ta hãy xem tất cả các giáo sĩ và tu sĩ như những vị thầy của chúng ta khi các ngài dạy những điều liên hệ tới phần rỗi linh hồn và không đi ngược với Luật dòng của tôi.  Vì Chúa, chúng ta hãy tôn kính thánh chức, công việc và phận vụ của các Ngài.  SAU ĐÂY NỮA:

  58. Tất cả anh em, khi nào được Chúa soi sáng và được Anh Phục vụ cho phép, có thể dùng những lời này hoặc những lời tương tự để ngợi khen Thiên Chúa và kêu mời mọi người cầu nguyện.

  59. Hãy kính sợ và tôn vinh, hãy ngợi khen và cung chúc, hãy tạ ơn (1Tx 5, 18) và thờ lạy, Chúa là Thiên Chúa toàn năng, một Chúa và là Ba ngôi, Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, Đấng tạo hóa của muôn loài.

  60. Hãy hoán cải (x.  Mt 3,2), hãy sinh hoa trái xứng với lòng hoán cải (x.  Lc 3, 8) vì rồi đây chúng ta sẽ phải chết.

  61.  “Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại”  (Lc 6, 38).

  62.  Anh em hãy tha thứ thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha (x.  Lc 6, 37).

  63.  “Nếu anh em không tha thứ cho người ta (Mt 6, 14), Chúa cũng sẽ không tha tội cho anh em”  (Mc 11, 25).  Anh em hãy xưng thú mọi tội lỗi của mình (x.  Gc 5, 16).

  64. Phúc thay kẻ từ giã đời này sau khi đã ăn năn sám hối, vì họ sẽ được vào Nước Trời.

  65. Khốn thay người chết mà không ăn năn sám hối: họ là “con cái ma quỉ”  (1Ga 3, 10), vì đã làm những việc nó làm (x.  Ga 8, 41).  Họ sẽ phải chịu lửa đời đời”  (Mt 18, 8; 25, 41).

  66. Hãy ý tứ và lánh xa mọi sự dữ.  Hãy kiên trì sống tốt lành cho đến cùng.

  67. Dù sống ở đâu, trong ẩn viện hay tại nơi nào khác, anh em hãy ý tứ đừng chiếm sở hữu chỗ mình ở hay bất cứ vật gì, cũng đừng tranh giành với người khác.

  68. Bất cứ ai đến với anh em, bạn hay thù, trộm hay cướp, anh em cũng đừng tranh cãi với họ.

  69.  Dù sống ở đâu hay gặp nhau nơi nào, anh em hãy đối xử với nhau theo tinh thần Chúa, trong tình thân ái và kính trọng lẫn nhau “không chút phàn nàn” (1Pr 4, 9).

  70. Anh em đừng tỏ ra buồn rầu, ủ dột và giả hình, nhưng hãy tỏ ra “vui mừng trong Chúa” (x.  Pl 4,4), tươi cười, lịch thiệp, và hòa nhã cho hợp lễ.

  71. Tôi xin bất cứ anh em nào đau ốm, hãy tạ ơn Chúa tạo hóa về tất cả mọi sự.  Chúa muốn cho mình thế nào, khỏe mạnh hay ốm đau, thì hãy ước ao được như vậy, vì tất cả những ai đã được Thiên Chúa tiền định cho hưởng sự sống đời đời (x. Cv 13, 48), thì Người rèn luyện họ bằng tai ương và bệnh tật, cũng như bằng tinh thần sám hối.  Chính Chúa đã nói: “Phần Ta, những kẻ Ta yêu mến” (Kh 3, 19) VÂN VÂN..

  72. Tôi xin tất cả anh em đau yếu đừng buồn giận hoặc nóng nảy phản đối Thiên Chúa hoặc anh em, đừng nài nỉ thuốc men cũng đừng muốn cứu lấy cái thân xác tro bụi này vốn là một kẻ thù sẽ phải chết của linh hồn.

  73.  Tất cả anh em hãy cố gắng bước theo Chúa Giêsu khiêm nhường và nghèo khó; hãy nhớ rằng chúng ta không được có gì khác ở trần gian ngoài của ăn, của mặc, như thánh Tông đồ nói:  “Có cơm ăn áo mặc, ta hãy lấy thế làm đủ”  (x.  1Tm 6, 8).

  74. Anh em hãy lấy làm vui mừng khi tiếp xúc với những người bình dân quê mùa và bị khinh dể, nghèo hèn và đau ốm, tàn tật và phong cùi, cũng như những kẻ ăn xin ngoài đường.

  75. Khi cần thiết, anh em hãy đi xin của bố thí.

  76. Anh em đừng lấy làm xấu hổ, nhưng hãy nhớ rằng Chúa Giêsu Kitô, con Thiên Chúa hằng sống (Ga 11, 27) và toàn năng, “đã trơ mặt ra như đá”  (Is 50, 7) và đã chẳng hổ ngươi.

  77. Chính Người đã là một người nghèo, một khách trọ và đã sống nhờ của bố thí, cùng với Đức Trinh nữ Maria, thánh mẫu Người, và các môn đệ.

  78. Khi người ta sỉ nhục anh em và không muốn bố thí, anh em hãy tạ ơn Thiên Chúa, vì do những nỗi nhục nhã ấy, anh em sẽ nhận được vinh dự lớn lao trước tòa Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.

  79. Anh em hãy biết rằng không phải những người chịu nhục nhã đáng bị xấu hổ, nhưng là những kẻ gây nhục nhã.

  80. Còn của bố thí là phần gia nghiệp và quyền lợi của những người nghèo, vì Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, đã thủ đắc cho ta.

  81. Anh em nào chịu khó nhọc đi xin bố thí, sẽ được ân thưởng bội hậu và cũng làm cho những người bố thí được trọng thưởng như thế; bởi vì mọi sự người ta để lại trần gian sẽ bị hư nát, còn về việc bác ái và của bố thí mà họ đã làm, thì họ sẽ được sự sống đời đời.  

3. BẢN  LUẬT    SẮC  DỤ

 BẢN VĂN   

 Hô-nô-ri-ô, Giám mục, Tôi tớ của các tôi tớ Thiên Chúa, gởi lời chào và phép lành Tòa thánh đến các con yêu dấu, là tu sĩ Phan-xi-cô và các anh em khác thuộc Dòng Anh em Hèn mọn.

Tòa thánh thường có thói quen đáp ứng các nguyện vọng lành thánh và rộng lượng ban ơn theo những ước muốn chính đáng của những người thỉnh cầu.  Vậy, các con yêu dấu trong Chúa, chiếu theo các lời thỉnh cầu lành thánh của các con, Ta lấy quyền Tòa thánh phê chuẩn Luật dòng các con, đã được Đức Giáo hoàng In-nô-xen-ti-ô, vị tiền nhiệm đầy danh thơm của Ta, ưng thuận và được ghi lại đây.  Với sự bảo đảm của sắc dụ này, Ta xác nhận Luật ấy.  Luật ấy như sau :

 CHƯƠNG I:  NHÂN DANH CHÚA , KHỞI ĐẦU ĐỜI SỐNG ANH EM HÈN MỌN

  1. Luật và đời sống Anh em Hèn mọn là tuân giữ thánh Phúc âm Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, bằng cách sống vâng phục, không có của riêng và khiết tịnh.

  2. Tu sĩ Phan-xi-cô tuyên hứa vâng phục và tôn trọng Đức Giáo hoàng Hô-nô-ri-ô cùng các Đấng kế vị ngài nhậm chức theo Giáo luật, cũng như vâng phục và tôn trọng Hội thánh Rôma.

  3. Còn các anh em khác buộc phải vâng phục tu sĩ Phan-xi-cô và những người kế vị.

  CHƯƠNG II: NHỮNG NGƯỜI MUỐN ĐÓN NHẬN LỐI SỐNG NÀY  VÀ CÁCH THỨC TIẾP NHẬN HỌ

  1. Những ai muốn đón nhận lối sống này và đến với anh em, thì anh em hãy gửi họ đến với các Anh Tỉnh Phục vụ.  Chỉ những Anh này, chứ không phải người nào khác, được phép nhận những anh em mới.

  2. Các Anh Tỉnh Phục vụ hãy xem xét họ kỹ càng về đức tin công giáo, và các bí tích của Hội thánh.

  3. Nếu họ tin, lại muốn trung thành tuyên xưng và kiên vững tuân giữ tất cả những điều ấy cho đến cùng.

  4. và nếu họ không có vợ, hoặc nếu có, thì người vợ đã đi tu hay đã ưng thuận cho chồng vào Dòng, với phép của Đức Giám mục giáo phận, sau khi chính bà đã khấn giữ tiết dục, lại đã đến một tuổi không thể gây ra chuyện gì khả nghi nữa,

  5. thì các Anh Tỉnh Phục vụ hãy nói với họ lời thánh Phúc âm này: Hãy đi bán tất cả tài sản của mình và lo phân phát cho người nghèo (x.  Mt 19, 21).

  6. Nếu họ không thể làm được như vậy, nhưng thật lòng muốn thì cũng đủ.

  7. Phần anh em cũng như các Anh Phục vụ, hãy ý tứ đừng bận tâm đến những của cải trần thế của họ, để họ được thong dong thu xếp của cải mình theo ơn Chúa soi sáng.

  8. Tuy nhiên, nếu họ hỏi ý kiến, các Anh Phục vụ có thể gửi họ đến với những người kính sợ Thiên Chúa, để nhờ những người ấy góp ý, họ sẽ phân phát của cải mình cho người nghèo.

  9. Sau đó, hãy cho họ bộ áo tập tu, tức là hai chiếc áo dài không có lúp, một sợi dây và vài chiếc quần ngắn, với một khăn choàng dài tới thắt lưng;

  10. trừ ra đôi khi các Anh Phục vụ xét định thể khác theo ý Thiên Chúa.

  11. Hết năm thử luyện, họ sẽ được nhận vào đời sống tuân phục, tuyên hứa luôn luôn tuân giữ đời sống và Bản luật này.

  12. Từ nay, theo lệnh của đức Thánh Cha, tuyệt đối họ sẽ không được phép ra khỏi Dòng,

  13. vì theo lời thánh Phúc âm: “Ai đã tra tay cầm cày mà còn nhìn lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa” (Lc 9, 62).

  14. Những ai đã khấn vâng phục sẽ được một chiếc áo dài có lúp và một chiếc khác không có lúp, nếu muốn.

  15. Những ai, vì nhu cầu cần thiết, thì có thể đi giày.

  16. Tất cả anh em hãy mặc quần áo thô hèn và có thể lót thêm bằng vải sô hay các mảnh vải khác, và Thiên Chúa sẽ chúc lành cho.

  17. Tôi nhắc nhở và khuyến khích anh em, đừng khinh dể và phê phán những người trang phục xa hoa, sặc sỡ, và ăn uống cao lương mỹ vị, nhưng tốt hơn, mỗi người hãy tự phê phán và khinh dể chính mình.  

 CHƯƠNG III: THẦN VỤ-CHAY TỊNH VÀ TÁC PHONG ANH EM PHẢI CÓ KHI RA GIỮA ĐỜI

  1. Các anh em giáo sĩ phải cử hành các giờ kinh phụng vụ theo thể thức của Hội thánh Rôma, trừ ra tập thánh vịnh.

  2. Do đó, anh em có thể có sách nhật tụng.

  3. Còn các anh em giáo dân, hãy đọc hai mươi bốn kinh Lạy Cha vào giờ Kinh Sách; giờ Kinh Sáng, năm kinh; giờ thứ Nhất, giờ thứ Ba, giờ thứ Sáu, giờ thứ Chín, mỗi giờ bảy kinh; giờ Kinh Chiều mười hai kinh; giờ Kinh Tối, bảy kinh.

  4. Anh em hãy cầu nguyện cho những người đã qua đời.

  5. Anh em phải giữ chay từ lễ Các thánh đến lễ Giáng sinh.

  6. Và mùa Chay thánh bắt đầu từ lễ hiển linh đến bốn mươi ngày kế tiếp, mà Chúa đã thánh hiến bằng chay tịnh thánh thiện của Người (x.  Mt 4, 2), anh em nào muốn giữ, thì xin Chúa chúc lành cho; anh em nào không muốn thì không buộc.  

  7. Nhưng mùa Chay trước lễ Phục sinh thì anh em phải giữ.

  8. Trong những mùa khác, anh em chỉ phải giữ chay ngày thứ sáu.

  9. Nhưng khi có sự cần thiết rõ ràng, anh em không buộc  phải giữ chay phần xác.

  10. Tôi khuyên bảo, lưu ý và khuyến khích anh em trong Chúa Giêsu Kitô, khi anh em đi ra giữa đời, thì đừng gây sự và cãi cọ (x.  2Tm 2, 14), cũng đừng xét đoán ai;

  11. nhưng hãy tỏ ra dịu dàng, hiền hòa và từ tốn, khả ái và khiêm nhường, nói năng tử tế với hết mọi người sao cho thích hợp.

  12. Anh em không được đi ngựa, trừ trường hợp rõ ràng cần thiết hoặc bệnh tật.

  13. Khi vào nhà nào, trước tiên anh em hãy chào:  “Chúc nhà này được bình an” (x.  Lc 10, 5).

  14. Và theo thánh Phúc âm, anh em được phép dùng những thức ăn người ta dọn cho (x.  Lc 10, 8).

 

CHƯƠNG IV :  ANH EM KHÔNG ĐƯỢC NHẬN TIỀN BẠC

  1. Tôi cấm nhặt toàn thể anh em nhận tiền bạc bằng bất cứ cách nào, do chính mình nhận, hoặc nhờ người trung gian. 

  2. Tuy nhiên, để sắm những thứ cần thiết cho anh em đau ốm và để may mặc cho anh em khác, thì chỉ các Anh Phục vụ thôi mới được nhờ cậy các bạn hữu thiêng liêng để lo liệu, tùy nơi chốn, thời tiết và miền giá lạnh, như các anh nhận thấy là phù hợp với nhu cầu;

  3. miễn là luôn giữ điều đã nói, là không được nhận tiền bạc.

 

CHƯƠNG V:  CÁCH THỨC LÀM VIỆC

  1. Những anh em được Chúa ban ơn làm việc, thì hãy làm việc một cách trung tín và sốt sắng.

  2. Như thế, họ tránh được sự ở nhưng có hại cho linh hồn, mà vẫn không dập tắt tinh thần cầu nguyện và đạo đức, là đối tượng mà mọi thực tại trần gian khác phải phục vụ.

  3. Đổi lại công việc lao động, anh em được nhận những gì cần thiết cho đời sống vật chất của mình và của anh em, ngoại trừ tiền bạc.

  4. Anh em hãy nhận cách khiêm nhường, như những tôi tớ của Thiên Chúa và những người bước theo thánh đức nghèo khó.

 CHƯƠNG VI: ANH EM KHÔNG ĐƯỢC CHIẾM HỮU GÌ HẾT
                      VIỆC ĐI XIN CỦA BỐ THÍ      CÁC ANH EM ĐAU YẾU

  1. Anh em không được chiếm hữu gì hết, nhà cửa, đất đai hoặc bất cứ của gì.

  2. Như những kẻ lữ hành và khách lạ ở đời này (x. 1Pr 2, 11), phụng sự Chúa trong nghèo khó và khiêm nhường, anh em hãy đi xin của bố thí với lòng tin tưởng,

  3. không được hổ thẹn, vì Chúa đã làm người nghèo khó ở thế gian này vì chúng ta (x.  2Cr 8,9).

  4.  Đó chính là điều kỳ diệu của đức nghèo cao trọng: đức ấy đã đặt anh em, những anh em rất thân mến của tôi, làm những người thừa tự và hoàng tử của Nước Trời, nghèo khó về vật chất nhưng cao sang về nhân đức (x.  Gc 2, 5).

  5. Chớ gì đó là phần gia nghiệp sẽ dẫn đưa anh em tới cõi đất dành cho kẻ sống (x.  Tv 141, 6).

  6. Anh em rất yêu dấu, hãy hết lòng gắn bó với phần phúc ấy, vì Danh Chúa Giêsu Kitô, anh em đừng muốn có của cải gì khác nữa dưới bầu trời.

  7. Dù ở nơi nào hay gặp nhau ở đâu, anh em hãy tỏ ra là anh em một nhà.

  8. Người này hãy tin tưởng nói cho người kia biết nhu cầu của mình.  Nếu một người mẹ nuôi dưỡng và yêu thương đứa con huyết nhục của mình (x.  1Tx 2, 7), thì mỗi người lại phải yêu thương và dưỡng nuôi anh em thiêng liêng mình ân cần hơn là dường nào?

  9. Nếu ai trong anh em ngã bệnh, các anh em khác phải phục vụ người ấy như mình muốn được phục vụ (x.  Mt 7, 12).  

 

CHƯƠNG VII: CÁCH RA VIỆC ĐỀN TỘI CHO NHỮNG ANH EM PHẠM TỘI

  1. Nếu có những anh em, vì kẻ thù xúi giục, mà phạm một tội trọng, trong những tội đã qui định giữa anh em là phải chạy đến các Anh Tỉnh phục vụ mà thôi, thì những anh em nói trên phải chạy đến các Anh ấy sớm chừng nào hay chừng nấy, không chút trì hoãn.

  2. Phần các Anh Phục vụ, nếu là linh mục, hãy ra việc đền tội cho họ với lòng nhân từ; nếu không phải là linh mục, thì hãy nhờ các anh em linh mục của Hội dòng ra việc đền tội cho, như các Anh Phục vụ thấy là thích hợp hơn cả, theo ý Thiên Chúa.

  3. Các Anh Phục vụ phải coi chừng, đừng nóng giận và để mình giao động về tội lỗi kẻ khác, bởi vì sự nóng giận và giao động làm mất lòng yêu mến nơi mình và nơi người khác.

  

CHƯƠNG VIII: VIỆC BẦU CỬ ANH TỔNG PHỤC VỤ CỦA HUYNH ĐỆ ĐOÀN  VÀ TU NGHỊ DỊP LỄ NGŨ TUẦN

  1. Toàn thể anh em phải luôn luôn có một trong những anh em của Hội dòng làm Tổng Phục vụ và tôi tớ của toàn thể huynh đệ đoàn, và buộc nhặt phải vâng phục anh ấy.

  2. Khi anh Tổng Phục vụ qua đời, các Tỉnh Phục vụ và Hạt Phục vụ phải bầu người kế nhiệm tại cuộc Tu nghị dịp lễ Ngũ Tuần. Các Tỉnh Phục vụ phải luôn luôn tham dự Tu nghị ấy ở nơi nào tùy Tổng Phục vụ ấn định.

  3. Tu nghị này phải được tổ chức ba năm một lần, hay sớm muộn hơn, tùy Tổng Phục vụ sắp đặt.

  4. Nếu khi nào toàn thể các anh Phục vụ cấp Tỉnh và cấp Hạt nhận thấy Anh Tổng Phục vụ không đủ khả năng làm tròn bổn phận và mưu ích chung cho anh em, thì các Anh ấy là những người có quyền bầu cử, vì Danh Chúa, buộc phải bầu người khác thay thế.

  5.  Sau cuộc Tu nghị lễ Ngũ Tuần, nếu các Anh Tỉnh Phục vụ và Hạt Phục vụ muốn và thấy là thích hợp, thì cùng năm ấy, có thể triệu tập anh em trong địa hạt mình về họp Tu nghị một lần.

CHƯƠNG IX: CÁC ANH EM GIẢNG THUYẾT

  1. Anh em không được giảng trong giáo phận của một Giám mục, khi ngài ngăn cấm.

  2. Không ai trong anh em được phép giảng cho dân chúng, khi chưa được Anh Tổng Phục vụ của Huynh đệ đoàn xem xét, chấp thuận và giao cho việc giảng dạy.

  3. Tôi cũng nhắc nhở và khuyến khích các anh em giảng thuyết hãy dùng lời lẽ cân nhắc và thanh nhã (x.  Tv  11, 7; 17, 31), để giúp ích và xây dựng cho dân chúng;

  4. lấy lời khiêm tốn nói cho họ về các tật xấu và các nhân đức, hình phạt và vinh quang, vì Chúa đã trở thành Ngôi Lời bé mọn ở trần gian (x.  Rm 9, 28).  

 CHƯƠNG X:  VIỆC KHUYẾN CÁO VÀ SỬA DẠY ANH EM

  1. Các anh Phục vụ và tôi tớ của các anh em khác, hãy thăm viếng và khuyên bảo anh em mình, sửa dạy họ với lòng khiêm nhường và bác ái, đừng truyền làm điều gì ngược với lương tâm họ và Luật dòng chúng ta.

  2. Các anh em dưới quyền hãy nhớ rằng vì Thiên Chúa, mình đã từ bỏ ý riêng.

 

 

 


Home | Lời Ngỏ | Mục Lục | Nội Dung | Luật Ḍng | Nghi Thức | Hiến Chương | Thánh Phanxicô | Thánh Clara | Bút tích Phanxicô | HĐĐ Thánh Clara | HĐĐ Thánh Antôn | Thánh Elizabeth | HĐĐ Thánh Isave | HĐĐ Max. Kolbe | HĐĐ Miền Phan Thiết | HĐĐ Trần V.Trung | Lịch Phụng vụ | Lời Nguyện Hiệp Thông | Union of Prayer | Đàng Thánh Giá | Bảo trợ Ơn gọi PSVN

Mọi thư từ liên lạc, xin gửi về PSTTVNUSA@YAHOO.COM.
Copyright © 2002 WWW.PSTTVNUSA.NET. All rights reserved.
Last modified: 03/03/06.